LỜI MỞ ĐẦU
Trong Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003, có rất nhiều các quy
định đã được sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện hơn những điểm thiếu sót đã tồn tại
trong BLTTHS năm 1988. Trong khi các quy định khác sau khi được sửa đổi bổ
sung đã trở nên hoàn thiện và đáp ứng được các yêu cầu hiện nay thì quy định về
giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự dường như lại đi vào bế tắc và gặp nhiều sự
khó khăn trong việc thi hành. Vậy, để hiểu được giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự là gì, được quy định như thế nào trong BLTTHS hiện hành và tại sao lại có
những hạn chế như vậy thì sau đây, em xin được phân tích đề tài “Giới hạn của
việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự”.
NỘI DUNG
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ
1. Khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ điển luật học đưa ra khái niệm giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như
sau: “Giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là phạm vi Tòa án cấp sơ thẩm được
xem xét và giải quyết về vụ án” [11, tr.309]. Có thể hiểu: giới hạn xét xử sơ thẩm
vụ án hình sự là phạm vi những bị cáo, những hành vi mà HĐXX được xét xử tại
phiên tòa theo tội danh mà VKS đã truy tố và TA đã ra quyết định xét xử. Như
vậy, phạm vi này không phải là vô hạn, TA không thể xét xử bất kì người nào, bất
kì hành vi nào theo nhận định chủ quan của mình mà phạm vi này được hạn chế là
những người và những hành vi mà VKS đã truy tố trong bản cáo trạng và Thẩm
phán được phân công phụ trách vụ án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Cụ thể phạm vi đó được xác định ở đâu, đến mức độ nào thì sẽ được các nhà
làm luật quy định trong BLTTHS. Điều 196 BLTTHS năm 2003 quy định: “ Tòa án
chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và TA đã
quyết định đưa ra xét xử. TA có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà
VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn
tội mà VKS đã truy tố”.
quan điều tra và bản cáo trạng, quyết định truy tố của VKS) Thẩm phán và Hội
thẩm đưa ra các ý kiến và phán quyết của mình về vụ án mà không phụ thuộc vào
bất cứ cá nhân hay tổ chức nào; căn cứ duy nhất mà Thẩm phán và Hội thẩm dựa
vào là pháp luật. Trên cơ sở nguyên tắc, quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự cũng phải đảm bảo sự độc lập và đúng pháp luật trong hoạt động xét xử
của Tòa án và Hội thẩm, có như vậy quyết định mà Tòa án đưa ra mới thật sự đúng
người, đúng tội.
-
Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo
Bị can, bị cáo tuy là những đối tượng đã có hành vi gây nguy hiểm cho xã
hội nhưng vẫn cần được đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp mà cụ thể chính là
đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong quá trình TTHS. Vấn đề giới hạn
xét xử của Tòa án được đặt ra sẽ tránh được tình trạng bị cáo không bảo đảm được
quyền bào chữa do Tòa án xét xử thêm tội danh ngoài tội danh mà VKS đã truy tố.
Thứ hai, xuất phát từ sự phân định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Viện
kiểm sát và Tòa án trong TTHS.
BLTTHS đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của VKS và TA trong quá
trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sự quy định này là cần thiết bởi sự ảnh hưởng
trực tiếp của nó đến phán quyết cuối cùng của Tòa án. Phán quyết này sẽ không thể
chính xác được khi nhiệm vụ, quyền hạn của VKS và TA bị chồng chéo, không xác
định rõ ràng giữa hai bên. Chính vì vậy, việc phân định chức năng , nhiệm vụ giữa
VKS và TA là một yếu tố rất quan trọng nhằm làm căn cứ quy định giới hạn xét xử
sơ thẩm vụ án hình sự.
2.2. Cơ sở thực tiễn
Thứ nhất, xuất phát từ sự chưa thống nhất trong việc giải quyết vụ án giữa
Viện kiểm sát và Tòa án.
Thứ hai, xuất phát từ thực tiễn yêu cầu bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp
quyền hạn của mình, ngăn chặn sự tùy tiện cũng như lạm quyền trong việc xử lý vụ
án, đảm bảo cho bản án, quyết định của TA được khách quan và đúng pháp luật.
Thứ ba, về mặt thực tiễn.
Quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hiện hành đã góp phần
đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo và tạo ra sự phối hợp – chế ước giữa
VKS và TA trong hoạt động TTHS.
II. QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS HIỆN HÀNH VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ
THẨM
So với quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được ghi nhận lại
quy định của Điều 170 BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm 2003 đã có những
điểm khác biệt, quy định một cách cụ thể và chặt chẽ hơn trong đường lối xét xử
của Tòa án. Điều 196 BLTTHS năm 2003 quy định: “Tòa án chỉ xét xử những bị
cáo và những hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và TA đã quyết định đưa ra
xét xử. TA có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà VKS đã truy tố
trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã
truy tố”.
Để có thể nắm được rõ hơn nội dung quy định của pháp luật hiện hành về
giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, em xin được phân tích từng nội dung cụ thể:
1. Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà
Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử
Quy định này thể hiện rõ Tòa án chỉ được xét xử một vụ án với một (hoặc
nhiều) bị cáo cụ thể khi có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, chủ thể mà TA đưa ra xét xử phải là người đã bị VKS truy tố bằng
một bản cáo trạng. Trường hợp trong vụ án có đồng phạm mà vì lý do nào đó,
người đồng phạm chưa bị VKS truy tố thì TA cũng không có quyền xét xử đối với
những đồng phạm đó. Nếu trong quá trình xét xử tại phiên tòa mà HĐXX phát hiện
ra người phạm tội mới cần phải điều tra thì HĐXX ra quyết định khởi tố hoặc yêu
Trường hợp tuy chỉ có một người phạm tội nhưng lại thực hiện nhiều
hành vi khách quan thì việc xác định hành vi theo tội danh mà VKS truy tố và TA
quyết định đưa ra xét xử chỉ căn cứ vào hành vi mà VKS truy tố về một tội danh
được quy định trong BLHS và TA quyết định đưa ra xét xử để xác định giới hạn
của việc xét xử. Vd: A tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng và giết người, nhưng
VKS chỉ truy tố A về tội “giết người” và không truy tố về tội “tàng trữ vũ khí trái
phép” thì TA không được xét xử A về hành vi “tàng trữ vũ khí trái phép”. Nếu TA
thấy VKS không truy tố A về hành vi “tàng trữ vũ khí trái phép” thì chỉ có thể
quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, những VKS vẫn không truy tố thì
TA chỉ có thể khởi kiện vụ án hoặc kiến nghị trong bản án, hoặc kiến nghị bằng
văn bản với VKS cấp trên trực tiếp để VKS cấp trên xem xét việc không truy tố A
về hành vi tang trữ trái phép.
Trường hợp chỉ có một người phạm tội mà người này thực hiện nhiều
hành vi khách quan và tất cả những hành vi đó VKS chỉ truy tố về một tội, nhưng
trong các hành vi mà VKS truy tố có hành vi cấu thành tội khác với tội mà Viện
kiểm sát truy tố thì Toà án được xét xử tất cả các hành vi mà Viện kiểm sát truy tố
nhưng không được kết án tất cả các hành vi đó về một tội và cũng không được kết
án thêm tội mà Viện kiểm sát không truy tố. Ví dụ: B bị Viện kiểm sát truy tố về tội
tham ô tài sản vì đã 5 lần cùng với C chiếm đoạt 800.000.000 đồng của cơ quan,
nhưng Toà án thấy hành vi của B chỉ đồng phạm với C về tội tham ô 3 lần với số
tiền là 500.000.000 đồng, còn 2 lần là hành vi thiếu trách nhiệm để C chiếm đoạt
300.000.000 đồng. Trong trường hợp này, Toà án vẫn xét xử cả 5 hành vi nhưng
chỉ được kết án B đồng phạm tham ô khoản 500.000.000 đồng về 3 hành vi nhưng
không được kết án B về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài
sản Nhà nước về khoản tiền 300.000.000 đồng. Nếu trong thời gian chuẩn bị xét xử
hoặc tại phiên toà Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử phát hiện được thì trả hồ sơ vụ
án để Viện kiểm sát điều tra bổ sung, thay đổi bản cáo trạng truy tố B thêm tội
thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước về khoản tiền
trong cùng một điều luật hoặc về một tội phạm khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà
VKS truy tố
Đây là nội dung về giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mới được bổ sung
vào BLTTHS năm 2003. Điểm 2 mục II Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày
05/11/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích và
hướng dẫn rất cụ thể việc triển khai thực hiện nội dung này như sau:
a. Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát
đã truy tố trong cùng một điều luật, có nghĩa là với những hành vi mà Viện kiểm
sát truy tố, Toà án có thể xét xử bị cáo theo khoản nặng hơn hoặc theo khoản nhẹ
hơn so với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật.
Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo A về năm hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài
sản theo khoản 2 Điều 139 của Bộ luật hình sự. Theo quy định tại đoạn 2 Điều 196
của BLTTHS thì Toà án có thể xét xử bị cáo A về năm hành vi lừa đảo chiếm đoạt
tài sản này theo khoản 1 hoặc theo khoản 3 hoặc cũng có thể theo khoản 4 Điều
139 của Bộ luật hình sự.
b, Toà án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà
Viện kiểm sát đã truy tố, có nghĩa là với những hành vi mà Viện kiểm sát truy tố,
Toà án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm
sát đã truy tố.
- Đối với trường hợp tội phạm khác bằng tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy
tố là trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình
phạt bổ sung) đối với hai tội phạm như nhau.
Ví dụ: Bị cáo B bị Viện kiểm sát truy tố về tội “Vận chuyển trái phép chất
ma tuý”, thì Toà án có thể xét xử bị cáo B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Đối với tội phạm khác nhẹ hơn tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố là
trường hợp điều luật quy định về trách nhiệm hình sự (hình phạt chính, hình phạt
bổ sung) đối với tội phạm khác nhẹ hơn so với tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy
tố. Để xác định tội nào nhẹ hơn, tội nào nặng hơn thì cần thực hiện theo thứ tự như
cao nhất như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định loại hình phạt chính khác nhẹ
hơn (cải tạo không giam giữ, phạt tiền, cảnh cáo) thì tội đó nhẹ hơn. Nếu điều luật
cùng quy định các loại hình phạt như nhau, nhưng có mức cao nhất, mức khởi
điểm khác nhau thì việc xác định tội nặng hơn, tội nhẹ hơn được thực hiện tương
tự như trường hợp thứ hai và thứ ba.
Thứ năm, trong trường hợp điều luật quy định các loại hình phạt chính đối
với cả hai tội như nhau, thì tội nào điều luật còn quy định hình phạt bổ sung là tội
đó nặng hơn. Nếu điều luật cùng quy định hình phạt bổ sung như nhau, nhưng đối
với tội này thì hình phạt bổ sung là bắt buộc, còn đối với tội khác hình phạt bổ
sung có thể áp dụng, thì tội nào điều luật quy định hình phạt bổ sung bắt buộc là tội
đó nặng hơn.
c. Khi Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều tội với nhiều hành vi phạm tội,
thì giới hạn của việc xét xử đối với từng tội được thực hiện theo hướng dẫn tại hai
phần a. và b. phía trên. Toà án cũng có thể xét xử bị cáo về tội nhẹ nhất trong các
tội mà Viện kiểm sát truy tố hoặc về tội nhẹ hơn tất cả các tội mà Viện kiểm sát
truy tố đối với tất cả các hành vi phạm tội đó.
Ví dụ: Viện kiểm sát truy tố bị cáo M về năm hành vi phạm tội, trong đó hai
hành vi phạm tội bị truy tố về tội cướp tài sản, còn ba hành vi phạm tội bị truy tố
về tội cướp giật tài sản, thì Toà án có thể xét xử bị cáo M về tội cướp giật tài sản
đối với cả năm hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố (tội cướp giật tài sản nhẹ
hơn tội cướp tài sản). Toà án cũng có thể xét xử bị cáo M về tội cưỡng đoạt tài sản
đối với cả năm hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố (tội cưỡng đoạt tài sản
nhẹ hơn tội cướp giật tài sản và tội cướp tài sản).
Cần phải lưu ý, khi thực hiện các trường hợp Toà án xét xử bị cáo theo
khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật và
Viện kiểm sát truy tố bị cáo về nhiều tội với nhiều hành vi phạm tội, cần thi hành
đúng các quy định của BLTTHS về thẩm quyền xét xử của Toà án các cấp, về
thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và về việc bảo đảm quyền bào chữa của bị
cùng một điều luật (có thể là khoản nhẹ hơn hoặc nặng hơn), thay đổi tội danh
bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà VKS truy tố. Tuy nhiên, HĐXX lại không được
thay đổi tội danh nặng hơn tội danh mà VKS truy tố. Như vậy,
Từ những quy định của Điều 196 BLTTHS có thể hiểu HĐXX lại không
được thay đổi tội danh nặng hơn tội danh mà VKS truy tố. Điều này thực sự đã đi
ngược lại với nội dung nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật”. Sự chính xác, công bằng của kết quả vụ án sẽ không được đảm
bảo nếu như nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp
luật” bị vi phạm. Để đảm bảo nguyên tắc được thực hiện cần phải có sự sửa đổi
trong quy định tại Điều 196. Theo em, nên sửa đổi, bổ sung cụ thể như sau:
“Tòa án chỉ xét xử những bị cáo và những hành vi mà VKS đã truy tố và TA
đã quyết định đưa ra xét xử.
TA có thể xét xử bị cáo theo khoản khác mà VKS đã truy tố trong cùng một
điều luật hoặc về một tội khác với tội mà VKS truy tố nhưng có cùng hành vi mà
VKS đã truy tố”.
“TA có thể xét xử bị cáo về một tội mà VKS truy tố nhưng có cùng hành vi
mà VKS đã truy tố” có nghĩa như sau: TA không phải chỉ được xét xử về tội bằng
hoặc nhẹ hơn tội mà VKS truy tố mà còn có thể xét xử bị cáo với tội danh nặng
hơn tội danh mà VKS đã truy tố. Tuy nhiên phải với điều kiện, tội danh mà TA xét
xử phải có cùng hành vi phạm tội với tội mà VKS đã truy tố.
Có thể lấy ví dụ như sau: Cáo trạng của VKS truy tố bị can về tội Trộm cắp
tài sản theo quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999 nhưng tại phiên tòa, bằng các
chứng cứ mới xác định và trên cơ sở thẩm tra lại hồ sơ vụ án của Thẩm phán được
phân công chủ tọa phiên tòa sau khi đã nghiên cứu, HĐXX xác định bị cáo không
phạm tội trộm cắp tài sản mà hành vi phạm tội đã chuyển hóa thành tội cướp tài
sản theo quy định tại Điều 133 BLHS năm 1999. Đây là tội nặng hơn với tội mà
VKS truy tố và được cấu thành từ hành vi phạm tội giống với hành vi phạm tội cấu
thành tội Trộm cắp tài sản.
trường hợp TA xác định tội danh của bị cáo có hình phạt tử hình đã được nêu ra
trong phần thực trạng.
Thứ ba, cần xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đảm bảo
về chất lượng và số lượng. Yếu tố con người luôn là yếu tố quan trọng trong mọi
vấn đề. Quy định của pháp luật dù đúng đắn đến đâu nhưng người tiến hành pháp
luật không đủ về số lượng, không đáp ứng yêu cầu về chất lượng thì quy định ấy
cũng không thể phát huy hiệu quả mà ngược lại còn làm cho pháp luật bị sai phạm.
Theo em cần tiến hành một số biện pháp sau:
- Trong thời đại thay đổi nhanh chóng của tội phạm kéo theo sự sửa đổi bổ
sung của các văn bản luật, cần phải nghiên cứu để đổi mới phương pháp đào tạo
nguồn nhân lực của hệ thống luật pháp – tức là bắt đầu từ gốc; thường xuyên, liên
tục bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới; rèn luyện phấm chất cho
đội ngũ cán bộ; từng bước xây dựng đội ngũ Kiểm sát viên, Thẩm phán có trình độ
cao.
- Có cơ chế thu hút những người có năng lực tâm huyết với nghề,
đủ đức, đủ tài vào làm việc tại VKS và TA, tránh tình trạng chảy máu chất xám.
Bằng cách đảm bảo cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ cho Kiểm sát
viên, Thẩm phán để họ yên tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
KẾT LUẬN
Quy định về giới hạn của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một quy định quan
trọng có ảnh hưởng lớn đến phán quyết cuối cùng của HĐXX hay cũng chính là
kết quả của một quá trình tố tụng. Sự chính xác đúng người, đúng tội luôn là tiêu
chí hàng đầu và bắt buộc của pháp luật. Tuy nhiên, với những bất cập trong quy
định về giới hạn của xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hiện này, sự chính xác đó dường
như chưa thể nào được đảm bảo hoàn toàn. Vì vậy, các nhà làm luật cần phải
nghiên cứu nghiêm túc về quy định này, sao cho tìm ra được các điều chỉnh hợp lý
nhất.
Một số vấn đề về giới hạn xét xử/ T.S Nguyễn Văn Huyên/
luathinhsu.wordpress.com
•
Một số vấn đề về giới hạn của việc xét xử/ Đinh Văn Quế/
toaan.gov.vn