Báo cáo " Những căn cứ để quy định giới hạn của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự " pot - Pdf 15



Xây dựng pháp luật
tạp chí luật học - 45

Những căn cứ để quy định giới hạn
của việc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Ths. Nguyễn Văn Huyên *
iới hạn của việc xét xử là chế định
pháp lí quan trọng có liên quan đến
nhiều chế định khác của luật tố tụng
hình sự. Vì thế khi quy định giới hạn của
việc xét xử phải dựa vào những căn cứ có
tính khoa học đợc rút ra từ lí luận và
thực tiễn. Chính những căn cứ này giúp
nhà làm luật cân nhắc mọi khả năng, dự
liệu các tình huống để quy định giới hạn
của việc xét xử cho mỗi cấp tòa án. Để
góp phần vào việc sửa đổi, bổ sung Bộ
luật tố tụng hình sự (BLTTHS), theo
chúng tôi cần dựa vào những căn cứ sau
đây khi quy định giới hạn của việc xét xử.
1. Căn cứ vào sự phân định chức
năng, nhiệm vụ của viện kiểm sát và
tòa án trong tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự, viện kiểm sát
có chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật và thực hành quyền công tố
nhằm đảm bảo cho pháp luật đợc chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất còn tòa

kết tội đ có hiệu lực của tòa án (Điều
10 BLTTHS). Thực hiện chức năng của
mình, tòa án xét xử các bị cáo trong phạm
vi quyết định truy tố của viện kiểm sát.
Đây là sự chế ớc cần thiết trong tố tụng
hình sự để tránh việc lạm quyền và bảo
đảm cho tố tụng đạt hiệu quả, không để
lọt tội phạm, không làm oan ngời vô tội.
Nhng vấn đề đặt ra là mối quan hệ chế
ớc này cần phải xác định nh thế nào
cho phù hợp. Quyền quyết định truy tố
thuộc về viện kiểm sát nhng tòa án có
bắt buộc phải xét xử nh nội dung quyết
định truy tố hay không? Nếu không đồng
ý với quyết định truy tố của viện kiểm sát
thì quyền hạn xét xử của tòa án đợc thực
hiện nh thế nào? Đây chính là vấn đề
G

* Giảng viên chính Trung tâm đào tạo thẩm phán và
các chức danh t pháp khác.
Trờng Đại học luật Hà Nội Xây dựng pháp luật
46 - tạp chí luật học

giới hạn xét xử sơ thẩm của tòa án. Xác
định nội dung vấn đề này phải dựa vào
chức năng, nhiệm vụ của tòa án và viện

của pháp luật tố tụng là nguyên tắc thẩm
phán và hội thẩm nhân dân xét xử độc lập
và chỉ tuân theo pháp luật. Đây là nguyên
tắc đợc quy định ngay từ Hiến pháp năm
1946 và đợc ghi nhận lại trong các Hiến
pháp 1959, 1980, 1992. Nó cũng đợc
quy định trong các Luật tổ chức tòa án
năm 1960, 1981, 1992, BLTTHS và các
văn bản pháp luật tố tụng khác của Nhà
nớc. Nguyên tắc này bảo đảm cho tòa án
xét xử vụ án đợc chính xác, tránh đợc
sự can thiệp của các cơ quan, tổ chức và
cá nhân vào việc xét xử của tòa án.
Nguyên tắc này cùng với các nguyên tắc
khác hợp thành hệ thống các nguyên tắc
của luật tố tụng hình sự thể hiện những
quan điểm, t tởng chủ đạo mà tất cả
các hoạt động tố tụng đều phải tuân theo.
Trong các quy định về trình tự, thủ tục
xét xử, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của tòa án có chế định giới hạn của việc
xét xử. Chế định này đề cập những vấn
đề: Tòa án đợc xét xử những bị cáo nào,
những hành vi nào của bị cáo đ bị viện
kiểm sát truy tố? tòa án có bị ràng buộc
bởi tội danh mà viện kiểm sát truy tố hay
không? Khi viện kiểm sát rút một phần
hoặc toàn bộ quyết định truy tố trớc khi
mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa thì quyền
hạn xét xử của tòa án nh thế nào?

nên tòa án chỉ xét xử theo tội danh đó và
lựa chọn mức hình phạt đ đợc quy định
trong điều luật mà viện kiểm sát đ viện
dẫn. Điều này trái với chức năng của viện
kiểm sát đ đợc pháp luật quy định vì
nh thế viện kiểm sát thực hiện một phần
chức năng xét xử, vi phạm nguyên tắc
độc lập xét xử của tòa án. Trong quá trình
giải quyết vụ án, cơ quan điều tra, viện
kiểm sát đều căn cứ vào hành vi phạm tội
của bị can để xác định tội danh mà họ đ
thực hiện. Nhng việc quyết định ngời
đó có tội hay không có tội, thực hiện tội
phạm gì, hình phạt cần đợc áp dụng với
ngời phạm tội thì chỉ thuộc về tòa án. Để
quyết định áp dụng hình phạt, tòa án
không chỉ đơn thuần căn cứ vào tội danh
đ nêu trong bản cáo trạng mà qua việc
xét xử, tòa án phải trực tiếp xem xét đánh
giá toàn bộ các chứng cứ của vụ án để
xác định cho đúng tội danh mà bị cáo đ
thực hiện. Trên cơ sở đó mới áp dụng
hình phạt tơng xứng với tính chất và
mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Nh vậy, tội danh do hội đồng xét xử xác
định cũng có thể trùng với tội danh nêu
trong bản cáo trạng và quyết định đa vụ
án ra xét xử nhng cũng có thể khác theo
hớng nhẹ hơn hoặc nặng hơn. Khi tòa án
xét thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh

kiểm sát, nghĩa là tòa án có quyền độc lập
ra bản án theo sự đánh giá của mình.
Nhng đối với trờng hợp viện kiểm sát
rút toàn bộ quyết định truy tố thì theo quy
định tại khoản 2 Điều 196 BLTTHS và
Thông t liên ngành số 01/TTLN nói trên
khi nghị án nếu có căn cứ xác định bị cáo
không có tội, hội đồng xét xử tuyên bố bị
cáo vô tội; Nếu có căn cứ xác định là bị
cáo có tội thì hội đồng xét xử ra quyết
định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và
kiến nghị với viện kiểm sát cấp trên. Nếu
viện kiểm sát cấp trên thống nhất với việc
rút quyết định truy tố của viện kiểm sát
cấp dới thì ra quyết định đình chỉ vụ án
và thông báo cho tòa án đ ra quyết định
tạm đình chỉ vụ án đó biết. Nếu viện kiểm
sát cấp trên nhất trí với kiến nghị của tòa
án thì ra quyết định hủy việc rút quyết
định truy tố của viện kiểm sát cấp dới và Xây dựng pháp luật
48 - tạp chí luật học

chuyển hồ sơ cho tòa án đ ra quyết định
tạm đình chỉ vụ án để xét xử lại. Với
những quy định trên đây, tòa án chỉ có
quyền tuyên án khi thấy bị cáo không có
tội; Hội đồng xét xử không đợc ra bản

sở đó xử lí ngời phạm tội.
Nhng chân lí của vụ án chỉ có thể
đợc xác định khi quá trình chứng minh
có xem xét đánh giá mọi tình tiết, mọi ý
kiến khác nhau bao gồm cả quan điểm
buộc tội và ý kiến bào chữa. Nếu chỉ
thiên về hớng buộc tội, không chú ý đến
ý kiến bào chữa thì việc giải quyết vụ án
đó phiến diện, không khách quan.
Trong quá trình giải quyết vụ án nếu
tòa án xét xử cả ngời cha bị truy tố
hoặc xét xử cả hành vi của bị cáo theo tội
danh cha bị truy tố thì tòa án đ vi phạm
nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của
bị can, bị cáo, tớc đi quyền bào chữa của
bị cáo, không cho họ có sự chuẩn bị ý
kiến bào chữa hoặc nhờ ngời khác bào
chữa. Trong trờng hợp này tòa án xét xử
không có sự tranh luận giữa bên buộc tội
và bào chữa nên không thể có cơ sở để
xác định đúng sự thật khách quan của vụ
án.
Theo quy định về giới hạn của việc
xét xử trong BLTTHS thì tòa án chỉ xét
xử những bị cáo và những hành vi theo tội
danh mà viện kiểm sát truy tố; tòa án
không đợc xét xử những ngời cha bị
truy tố, không đợc xét xử những hành vi
của bị cáo theo tội danh không bị truy tố.
Thực hiện quy định trên đây, nếu tại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status