TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI
XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN
HÌNH SỰ VỚI BỊ CÁO LÀ
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
Page 1
TP. HỒ CHÍ MINH
12/2012
BÀI TIỂU
LUẬN
MÔN
Page 2
MỤC LỤC
Page 3
LỜI MỞ ĐẦU
Trẻ em là tương lai của đất nước. Họ là lớp người sẽ kế tục sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ Quốc. Do đó, trẻ em cần được chăm sóc, bảo vệ và giáo dục thành những
con người có ích cho xã hội. Tuy nhiên, ngày nay chúng ta đang đứng trước một thực tế
rất đáng lo ngại, đó là sự phát triển của nền kinh tế thị trường với những mặt trái của nó
đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ, tình trạng trẻ em phạm tội ngày càng gia
tăng và trở thành vấn đề nhức nhối của toàn xã hội. Sự phạm tội của người chưa thành
niên không chỉ gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà còn hủy hoại cuộc đời của chính
các em. Chính vì vậy, vấn đề người chưa thành niên phạm tội là vấn đề đáng lo ngại và
cần sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội hiện nay, trong đó có các cơ quan và cá nhân
có thẩm quyền để có thể đạt được mục đích cuối cùng là bảo về Nhà nước, bảo vệ xã
hội chủ nghĩa, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và toàn xã hội.
Vậy nên phòng ngừa, ngăn chặn người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói
chung, vi phạm pháp luật hình sự nói riêng là một vấn đề vừa mang tính nhân văn, vừa
mang tính pháp lý. Điều 36 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em được Quốc hội
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15- 6- 2004 quy định: “Việc
xử lý trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ trẻ em nhận
công vụ, bảo kê, đâm thuê, chém mướn gây ra hậu quả hết sức nghiêm trọng.
Và trong những năm sắp tới, công cuộc đổi mới nền kinh tế của đất nước sẽ đặt
ra yêu cầu mở rộng hơn nữa quan hệ kinh tế, văn hóa - xã hội với các nước láng giềng,
các nước trong khu vực và các nước trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực của nó,
như thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hóa - xã hội theo nguyên tắc các
bên cùng có lợi, còn có mặt tiêu cực là không chỉ làm gia tăng về số lượng tội phạm mà
tính chất mức độ của hành vi phạm tội cũng ngày càng nghiêm trọng hơn, đặc biệt một
số loại tội phạm có tính chất xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao cũng xuất hiện và
phát triển. Đây cũng là một trong những yếu tố sẽ có tác động mạnh đến tình hình vi
phạm pháp luật của người chưa thành niên. Vì vậy, dự báo trong thời gian tới, số lượng
các vụ vi phạm pháp luật và số người vi phạm vẫn tiếp tục gia tăng; tính chất của hành
vi vi phạm ngày càng nghiêm trọng và diễn biến phức tạp; các tội phạm hoạt động theo
băng nhóm, có tổ chức, có cơ cấu chặt chẽ ở độ tuổi này vẫn tiếp tục gia tăng. Hành vi
vi phạm pháp luật, đặc biệt là các hành vi phạm tội vẫn chủ yếu tập trung vào các nhóm
tội như: xâm phạm tính mạng sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm
an toàn công cộng và trật tự công cộng; các tội phạm về ma túy. Trong tương lai gần,
Page 5
người chưa thành niên có thể tham gia vào các đường dây tội phạm xuyên quốc gia như
tội phạm về ma túy, tội phạm công nghệ cao, tội mua bán phụ nữ với tính chất và hậu
quả đặc biệt nghiêm trọng. Chính vì lẽ đó, cần tìm hiểu rõ nguyên nhân thì mới có
hướng giải quyết phù hợp.
Page 6
Chương 1: Khái quát chung về xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo là
người chưa thành niên
1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm bị cáo
Trong lịch sử Việt Nam, việc Nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng ra đời, đã
chấm dứt tình trạng sinh hoạt trì trệ, nguyên thủy, mở ra một kỷ nguyên mới, để lại dấu ấn
rất rõ vào các mặt sinh hoạt của dân tộc Việt Nam. Cùng với sự dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta là sự phát triển của cả một hệ thống pháp luật, trong đó có pháp luật tố
em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có
quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối
thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành
niên (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14.12.1992
cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm “người chưa
thành niên là người dưới 18 tuổi” như là một sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em.
Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm người chưa
thành niên ở các quốc gia cũng khác nhau, việc quy định độ tuổi cho người chưa thành
niên, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định không
thống nhất về vấn đề này.
Tùy theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật mà các nhà làm luật Việt
Nam đã đưa ra khái niệm về người chưa thành niên. Theo quy định tại Bộ luật dân sự
(BLDS) năm 2005 tại Điều 18: “Người từ đủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên.
Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên” và Bộ luật lao động Việt Nam
cũng quy định: “Người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”. Như vậy, có
thể thống nhất một quan điểm là người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi.Điều này
cũng phù hợp với Công ước Quốc tế về quyền trẻ em.
Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ người chưa thành niên được dùng để chỉ
người chưa đủ 18 tuổi. Xét từ góc độ tâm lý thì người chưa thành niên là người ở vào
thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi trẻ con sang tuổi người lớn. Ở lứa tuổi này, người chưa
thành niên chưa phát triển đầy đủ và toàn diện về thể lực, trí lực và tinh thần. Do đặc
điểm cơ thể, tâm sinh lý phát triển chưa hoàn thiện nên ở độ tuổi này, khả năng kiềm
chế chưa cao, khó làm chủ được bản than, hành động thường bộc phát, đễ bị kích động,
lôi kéo. Hơn nữa do thiếu kinh nghiệm sống, hạn chế về hiểu biết xã hội và hiểu biết về
Page 8
pháp luật nên người chưa thành niên chưa thể lựa chọn cách ứng xử đúng đắn, dễ mắc
sai lầm, thậm chí còn phạm tội. Xuất phát từ những đặc điểm trên mà Bộ luật hình sự
Việt Nam quy định tại Điều 12: “người chưa thành niên là những người chưa đủ 18
tuổi, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải
chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi
chứng minh sự việc đã xảy ra một cách toàn diện, nhưng vẫn chưa phải là quá trình
định tội. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định chỉ có Tòa án
là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử. Để xác định một người có tội và phải chịu
hình phạt thì điều đòi hỏi bắt buộc là họ phải được đưa ra xét xử công khai trước phiên
tòa, tại đó, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
mới có điều kiện đưa ra quan điểm, lập luận để bảo vệ mình. Vì vậy giai đoạn xét xử vụ
án hình sự là giai đoạn tập trung cao nhất quyền bào chữa đảm bảo thực hiện bằng
phương pháo tranh tụng. Nhằm đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội việc xét xử vụ án
hình sự có thể trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trong đó xét xử sơ thẩm là thủ tục xét
xử đầu tiên và bắt buộc đối với vụ án hình sự.
Qua đó có thể nhận thấy, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn của quá
trình tố tụng hình sự trong đó Tòa án có thẩm quyền sua khi xem xét hồ sơ vụ án lần
đầu tiên đưa vụ án ra xét xử nhằm xác định có hay không có hành vi phạm tội, người
thực hiện hành vi phạm tội, từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp vói tính chất của
vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố.
1.1.4 Khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự mà bị cáo là người chưa
thành niên.
Pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn luôn coi trẻ em là đối
tượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hàng ngày mà ngay cả khi
quyền trẻ em bị xâm phạm cần được bảo vệ hoặc khi đối tượng này vi phạm pháp luật.
Luật hình sự bảo vệ người chưa thành niên bị coi là người phạm tội và cũng quy định
một chế tài riêng để xử lý, thủ tục tố tụng cũng phải phù hợp với lứa tuổi chưa thành
niên nhằm thể hiện tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước
Việt Nam. Vì vậy, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã có một chương riêng (Chương
XXXII) quy định về thủ tục tố tụng đối với vụ án mà người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là
người chưa thành niên. Tuy nhiên, trong Điều 301 quy định về phạm vi áp dụng “Thủ tục
đối với người chưa thành niên”, nhà làm luật Việt Nam không hề ghi nhận khái niệm
Page 10
pháp lý “thủ tục đối với người chưa thành niên” là gì? Qua nghiên cứu các quy định về
thủ tục đối với người chưa thành niên trong chương này, chúng ta có thể hiểu: Các quy
trái với những quy định của chương này. Việc quy định phạm vi áp dụng như vậy để
bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo là người chưa thành niên.
1.2.2 Những đối tượng cần chứng minh trong vụ án mà bị cáo là người
chưathành niên.
Khi tiến hành xét xử vụ án mà bị cáo là người chưa thành niên thì Tòa án cần
phải chứng minh được tất cả những tình tiết thuộc đối tượng chứng minh quy định tại
Điều 63 BLTTHS, ngoài việc chứng minh theo thủ tục chung để giải quyết đúng đắn vụ
án hình sự, đảm bảo tối ưu quyền và lợi ích hợp pháp của người phạm tội là người chưa
thành niên, cũng như áp dụng đúng đắn chính sách hình sự của Nhà nước nhằm giáo
dục người phạm tội trở thành người lương thiện thì theo quy định tại khoản 2 Điều 302
của BLTTHS Tòa án cần phải xác định rõ các vấn đề sau đây:
1.2.1.1 . Tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi
phạm tội của người chưa thành niên
Việc xác định tuổi của bị cáo là người chưa thành niên đặc biệt quan trọng và
đây là căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự của người phạm tội cũng như việc xác
định trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội
giúp cho người tiến hành tố tụng có thể đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã
hội do hành vi phạm tội của người chưa thành niên gây ra để có thể áp dụng biện pháp
tư pháp hay hình phạt thích hợp, bảo đảm chế độ thi hành án theo quy định của pháp
luật.
1.2.1.2 . Điều kiện sinh sống và giáo dục
Hành vi phạm tội của người chưa thành niên thường bắt nguồn từ điều kiện sống
và giáo dục trong gia đình, nhà trường và xã hội. Cho nên, làm rõ yếu tố này cũng xác
định khả năng cải tạo và giáo dục người chưa thành niên phạm tội, đồng thời cũng có
thể giúp cho việc xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để có thể đưa ra các biện
pháp phòng ngừa thích hợp đối với người phạm tội nói chung và người chưa thành niên
phạm tội nói riêng.
1.2.1.3 . Khoa học đã chứng minh con người chịu sự ảnh hưởng tác động qua lại của môi
trường xung quanh
Page 12
thể được tiến hành khi có đủ căn cứ tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 BLTTHS nhưng chỉ
Page 13
trong trường hợp họ phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm
trọng.
Đối với người từ đủ 16 đến chưa đủ 18 tuổi: Việc bắt, tạm giữ, tạm giam chỉ có
thể được tiến hành khi có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 88 BLTTHS,
nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nfhieem trọng
hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Cơ quan ra lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam người chưa thành niên phải thông báo
cho gia đình, người đại diện hợp pháp của họ biết ngay sau khi bắt, tạm giữ,tạm giam.
Và việc thông báo này là bắt buộc và có ý nghĩa giúp cho người chưa thành niên bị bắt,
tạm giữ, tạm giam cũng như gia đình và người đại diện hợp pháp của họ chuẩn bị việc
bào chữa. “Người chưa thành niên phải được giam, giữ ở khu vực riêng; không được
giam, giữ người chưa thành niên chung với người thành niên”
1
.
1.2.4 Về việc giám sát bị cáo là người chưa thành niên
Theo quy định tại Điều 304 Bộ luật tố tụng hình sự thì nếu xét thấy việc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên là không cần thiết, Cơ quan
điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có thể ra quyết định giao bị can, bị cáo chưa thành
niên cho cha mẹ, người đỡ đầu của họ giám sát. Trong trường hợp người chưa thành
niên phạm tội không còn cha mẹ, không có nơi cư trú rõ ràng hoặc là người lang thang,
cơ nhỡ, không nơi nương tựa thì cơ quan điều tra cần tìm mọi biện pháp để xác định lý
lịch cũng như gia đình của họ. Trong trường hợp không xác định được thì Cơ quan điều
tra đề nghị cơ quan Lao động - Thương binh và Xã hội hoặc Đoàn Thanh niên, Hội Phụ
nữ ở nơi bắt giữ, nơi xảy ra tội phạm hoặc nơi có thẩm quyền điều tra cử cán bộ giám
sát người chưa thành niên phạm tội
2
. Việc giám sát này là để bảo đảm sự có mặt của bị
can, bị cáo khi có giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng. Những người được giao
và việc trả lời bằng lời nói của những người tham gia tố tụng đối với những câu hỏi của
hội đồng xét xử để từ đó hội đồng xét xử xác định sự thật vụ án hay việc xét xử phải
tiến hành liên tục, trừ thời gian nghỉ.
Bản án, quyết định do hội đồng xét xử đưa ra phải căn cứ vào những chứng cứ
được xem xét tại phiên tòa
3
. Chính vì vậy, khi xét xử, Tòa án phải trực tiếp xác định
những tình tiết của vụ án, kiểm tra, xem xét đầy đủ, khách quan mọi chứng cứ, tài liệu
3Khoản 1, Điều 184 BLTTHS : “… Bản án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ đã được
xem xét tại phiên tòa.”
Page 15
có trong hồ sơ vụ án. Vì chỉ có như vậy những tài liệu trong hồ sơ vụ án muốn trở thành
chứng cứ phải được Tòa án kiểm tra, xác minh tại phiên tòa thông qua hoạt động xét
hỏi và tranh luận tại phiên tòa. Những chứng cứ chưa được xác minh tại phiên tòa thì
không được dùng làm căn cứ để ra bản án.
1.3.2 Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm
Tại phiên tòa thì thành phần hội đồng xét xử có vị trí và vai trò vô cùng quan
trọng. Tùy vào cấp xét xử và tính chất của vụ án mà có số lượng thành phần hội đồng
xét xử khác nhau. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán, hai Hội thẩm. Trong
trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hội đồng xét xử có thể gồm
hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Sự có mặt của Hội đồng xét xử nhằm đáp ứng những nguyên tắc cơ bản của
BLTTHS là thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia
4
và nguyên tắc Tòa án xét xử
tập thể và quyết định theo đa số
5
. Đây là sự kết hợp tính chuyên nghiệp của Thẩm phán
và tính đại diện cho quần chúng của Hội thẩm, đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa
án đúng pháp luật đồng thời thể hiện lợi ích chung của xã hội, đảm bảo việc giải quyết
.
1.3.3 Những người tham gia phiên tòa sơ thẩm
1.3.1.1 . Kiểm sát viên
Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong tố tụng hình sự là một trong những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS. Sự tham gia
của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử là rất cần thiết. BLTTHS không có quy định về
sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa xét xử mà bị cáo là người chưa
thành niên. Nhưng để đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời Điều
189 BLTTHS quy định Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên tòa.
Đối với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì hai Kiểm sát viên có thể cùng
tham gia phiên tòa xét xử. Trong trường hợp có thể có Kiểm sát viên dự khuyết, nếu
Kiểm sát viên vắng mặt, bị thay đổi mà không có Kiểm sát viên dự khuyết để thay thế
thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và báo cho Viện kiểm sát cùng cấp.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
bằng quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước tòa. Đồng thời kiểm sát việc tuân
theo pháp luật trong tố tụng hình sự như có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp
luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng,
6Điều 186 BLTTHS : Thay thế thành viên Hội đồng xét xử trong trường hợp đặc biệt
Page 17
áp dụng những biện pháp do BLTTHS quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của
những cơ quan hoặc cá nhân này
7
.
Đối với phiên tòa xét xử sơ thẩm mà bị cáo là người chưa thành niên thì vai trò
của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự của
Kiểm sát viên là rất quan trọng bởi khi tiến hành xét xử bị cáo là người chưa thành niên
có một số quy định đặc biệt như: “Khi tiến hành xét xử, Tòa án có thể sắp xếp lại vị trí
của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong phòng xử án
nhằm làm giảm cảm giác căng thẳng, sợ hãi đối với người chưa thành niên phạm tội.
Không còng tay hoặc sử dụng các phương tiện cưỡng chế khác trong quá trình xét xử
cơ quan tiến hành tố tụng. Người được giao nhiệm vụ giám sát có nghĩa vụ giám sát
chặt chẽ người chưa thành niên và đặc biệt phải theo dõi tư cách, đạo đức, giáo dục
người đó. Đây là điểm khác biệt giữa bị cáo là người chưa thành niên với bị cáo là
người đã thành niên. Thông qua sự giám sát, theo dõi tư cách, đạo đức và giáo dục đối
với bị cáo là người chưa thành niên người giám sát có thể hiểu được tình trạng nhận
thức, tâm lý của bị cáo góp phần giúp Tòa án đưa ra quyết định, bản án một cách khách
quan, toàn diện và đúng pháp luật đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
bị cáo trong hoạt động xét xử.
Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm
sát, Tòa án trong trường hợp áp dụng các biện pháp bắt, tạn giữ, tạm giam cũng cần
phải tuân thủ những quy định tại Điều 303 BLTTHS để đảm bảo quyền và lợi ích hợp
pháp cho bị cáo là người chưa thành niên như: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới dưới 16
tuổi có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81, 82,
86, 88 và 120 BLTTHS nhưng chỉ trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, ở độ tuổi này, sự nhận thức và điều
khiển hành vi của người thực hiện hành vi phạm tội cũng chỉ có giới,chưa hoàn chỉnh
nên họ chỉ phải chịu TNHS về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc
biệt nghiêm trọng. Quy định này cũng phù hợp với quy định về tuổi chịu trách nhiệm
Hình sự tại Khoản 2, Điều 12 BLHS Việt Nam
10
.
Bên cạnh đó, những người thực hiện hành vi phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18
tuổi có thể bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam nếu có đủ căn cứ quy định tại các Điều 80, 81,
82, 86, 88 và 120 của BLTTHS nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm
trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Ở độ
tuổi này, sự nhận thức và điều khiển hành vi của con người nói chung và và người có
hành vi phạm tội nói riêng cũng đã tương đối hoàn chỉnh nên họ phải có trách nhiệm
10Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội
phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng.
Page 19
oan người vô tội, đặc biệt là đối với người chưa thành niên. Nếu có sử dụng vũ lực đối
với bị cáo là người chưa thành niên chỉ được sử dụng trong trường hợp cần thiết và theo
Page 20
đúng quy định của pháp luật, chỉ ở mức độ đủ để kiểm soát người chưa thành niên
phạm tội.
1.3.1.3 . Người bào chữa
Người bào chữa có nghĩa vụ tham gia phiên tòa để bào chữa cho bị cáo. Người
bào chữa thực hiện hoạt động bào chữa thông qua việc giúp đỡ bị cáo thực hiện quyền
và nghĩa vụ tố tụng mà pháp luật quy định, tham gia xét hỏi, trình bày lời bào chữa, đối
đáp với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác, tranh luận nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho than chủ của mình. Việc quy định sự tham gia phiên tòa
của người bào chữa là một đảm bảo pháp lý quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc
đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo. Bên cạnh đó, sự có mặt của người bào chữa
tại phiên tòa xét xử đảm bảo cho việc tranh luận công khai tại phiên tòa giữa bên buộc
tội và bên gỡ tội làm cơ sở cho việc xác định sự thật khách quan, bảo đảm cho việc xét
xử chính xác, khách quan.
Đảm bảo quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là một trong
những nguyên tắc cơ bản của BLTTHS. Chỉ có người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là
những người bị buộc tội trong quá trình tố tụng hình sự, trong đó có xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự nên chỉ có họ mới là người có quyền bào chữa. Họ có thể thực hiện quyền
bào chữa dưới hai hình thức đó là: Tự bào chữ và nhờ người khác bào chữa. Nhờ người
khác bào chữa là một đảm bảo rất quan trọng cho quyền bào chữa của người bị tạm giữ,
bị can và đặc biệt là bị cáo chưa thành niên bởi vì trong nhiều trường hợp họ là người
không hiểu biết hoặc có hiểu biết rất hạn chế về pháp luật thì họ không thể tự mình sử
dụng hết các quyền mà pháp luật quy định cho họ để bảo vệ quyền lợi cho mình. Cho
nên, việc tham gia của người bào chữa để giúp đỡ cho họ về mặt pháp lý, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của họ là rất cần thiết. Đối với người chưa thành niên thì: “Bắt buộc
phải có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án có bị can, bị cáo là người chưa
thành niên. Mọi trường hợp không có người bào chữa tham gia tố tụng trong các vụ án
có bị can, bị cáo là người chưa thành niên là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trừ
mà người bào chữa vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa theo quy định tại
Điều 190 BLTTHS.
Trường hợp người bào chữa do cơ quan tiến hành tố tụng cử, bị cáo là người
chưa thành niên và đại diện hợp pháp của họ không thống nhất về việc từ chối người
bào chữa, ví dụ như: bị cáo từ chối người bào chữa mà Tòa án chỉ định người bào chữa
đó cho họ nhưng trong khi đó người đại diện hợp pháp của họ lại chấp nhận người bào
chữa đó thì để đảm bảo quyền và lợi ích cho bị cáo là người chưa thành niên một cách
đầy đủ và toàn diện nhất, NQ 03/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC có
12 Khoản 4, Điều 9 Thông tư 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH
Page 22
hướng dẫn: Trong trường hợp giữa họ và người đại diện hợp pháp của họ không thống
nhất việc từ chối người bào chữa, Tòa án vẫn tiến hành xét xử với sự tham gia của
người bào chữa đã cử. Ngược lại, nếu họ thống nhất về việc từ chối người bào chữa, thì
Tòa án sẽ lạp biên bản có xác nhận của bị cáo là người chưa thành niên và người đại
diện hợp pháp của họ, đồng thời tiến hành phiên tòa xét xử không có người bào chữa.
1.3.1.4 . Đại diện gia đình, nhà trường, tổ chức
Đối với bị cáo là người chưa thành niên việc tham gia của đại diện gia đình, nhà
trường, tổ chức là rất quan trọng và rất cần thiết bởi họ là ngững người có ảnh hưởng
đến tâm lý của bị cáo trong suốt quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng do các cá
nhân và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thực hiện, giúp bị cáo có thể được
đảm bảo về mặt tâm lý vững vàng hơn, sự tham gia của đại diện gia đình, nhà trường,
tổ chức sẽ giúp bị cáo giảm bớt được sự căng thẳng, sở hãi, yên tâm hơn khi tham gia
các hoạt động tố tụng do BLTTHS quy định, đặc biệt là trong phiên tòa xét xử.
Việc tham gia tố tụng của đạ diện gia đình, nhà trường, tổ chức nơi bị cáo học
tập, lao động, sinh sống vừa là quyền đồng thời cũng là nghĩa vụ theo quyết định của
các cá nhân và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng được quy định tại Khoản 1,
Điều 306 BLTTHS. Trong trường hợp bị cáo là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi
hoặc là người chưa thành niên nhưng có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc
trong những trường hợp cần thiết khác, thì việc lấy lời khai, hỏi cung những người này
phải có mặt đại diện của gia đình, trừ trường hợp đại diện gia đình cố ý vắng mặt mà
bảo cho mọi người đều có quyền tham dự, thông qua đó góp phần tuyên truyền và giáo
dục cho người dân ya thức tuân thủ pháp luật. Nhưng trong một số trường hợp cần thiết
Tòa án có thể tiến hành xét xử kín theo quy định tại Đ 307 BLTTHS. Một số nét tiêu
biểu của phiên tòa xét xử bị cáo là người chưa thành niên so với trường hợp xét xử bị
cáo là người đã thành niên:
1.4.1 Bắt đầu phiên tòa
Thủ tục bắt đầu phiên tòa nói chung và phiên tòa xét xử đối với bị cáo là người
chưa thành niên đều nhằm xác định sự có mặt của những người tham gia tố tụng và
chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho việc xét xử được đúng đắn , khách
quan.
Page 24
Thủ tục bắt đầu phiên tòa đối với bị cáo là người chưa thành niên cơ bản giống
với phiên xét xử mà bị cáo là người thành niên được quy định từ Điều 201 đến Điều
205 BLTTHS. Nhưng điểm khác biệt của thủ tục bắt đầu phiên tòa mà bị cáo là người
chưa thành niên là sự có mặt của đại diện gia đình, nhà trường, tổ chức tại phiên tòa là
bắt buộc theo quy định tại khoản 3, Điều 306 BLTTHS để đảm bảo cho bị cáo có tâm lý
vững vàng và thoải mái hơn trong phiên tòa xét xử.
1.4.2 Xét hỏi tại phiên tòa
Xét hỏi là một khâu quan trọng của quá trình xét hỏi phiên tòa. Đây là cuộc điều
tra công khai được thực hiện qua việc xét hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng,
xem xét vật chứng, các tài liệu có liên quan nhằm kiểm tra các chứng cứ và làm sáng tỏ
mọi tình tiết của vụ án, trên cơ sở đó tòa án xác định tội phạm xảy ra hay không, hay bị
cáo có thực hiện hành vi phạm tội không, xác định tội danh của bị cáo, động cơ, mục
đích phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, thiệt hại do hành vi phạm tội của bị
cáo gây ra…để có quyết định đúng đắn khi giải quyết vụ án.
Trình tự của thủ tục xét hỏi tại phiên tòa đối với bị cáo là người chưa thành niên
cũng cần tuân thủ như đối với xét xử bị cáo là người đã thành niên để đảm bảo tính
khách quan cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo. Nhưng xét hỏi tại phiên tòa
đối với bị cáo là người chưa thành niên cũng có một số điểm khác biệt sau: Việc thẩm
vấn, xét hỏi bị cáo là người chưa thành niên tại phiên tòa phải theo quy định tại Điều