Header Page 1 of 126.
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN TH NH TUYT
CHứC NĂNG CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
TRONG ĐIềU TRA Vụ áN HìNH Sự Mà Bị CAN
Là NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
Footer Page 1 of 126.
Header Page 2 of 126.
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN TH NH TUYT
CHứC NĂNG CủA VIệN KIểM SáT NHÂN DÂN
TRONG ĐIềU TRA Vụ áN HìNH Sự Mà Bị CAN
Là NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ
ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN ....... 8
1.1.
KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN
LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN ......................................................... 8
1.1.1. Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ
án hình sự mà bị can là ngƣời chƣa thành niên ....................................... 8
1.1.2. Đặc điểm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ
án hình sự mà bị can là ngƣời chƣa thành niên ..................................... 14
1.2.
CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
MÀ BỊ CAN LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN................................. 17
1.2.1. Cơ sở lý luận........................................................................................... 17
1.2.2. Cơ sở thực tiễn........................................................................................ 22
1.3.
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM
SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
MÀ BỊ CAN LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊNError! Bookmark not defined.
2.2.1. Những kết quả đạt đƣợc ........................ Error! Bookmark not defined.
2.2.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhânError! Bookmark not defined.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2................................... Error! Bookmark not defined.
Chƣơng 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ BẢO ĐẢM CHỨC NĂNG CỦA
VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN
HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊNError! Bookmark n
3.1.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ
CAN LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊNError! Bookmark not defined.
Footer Page 5 of 126.
Header Page 6 of 126.
3.1.1. Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật tố tụng hình sựError! Bookmark no
3.1.2. Ban hành các văn bản hƣớng dẫn ......... Error! Bookmark not defined.
3.2.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC BẢO ĐẢM CHỨC NĂNG CỦA
Bộ luật hình sự
BLTTHS:
Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT:
Cơ quan điều tra
ĐTV:
Điều tra viên
KSV:
Kiểm sát viên
NCTN:
Ngƣời chƣa thành niên
TAND:
Tòa án nhân dân
TTHS :
Tố tụng hình sự
Bảng 2.2: Tỷ lệ NCTN bị VKS truy tố so với NCTN bị đề nghị truy
tố
53
Bảng 2.3: Số liệu kiểm sát việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ một số
Error!
biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra VAHS mà Bookmark
bị can là NCTN
not
defined.
Bảng 2.4: Số liệu thống kê số bị can là ngƣời chƣa thành niên do
CQĐT và VKS đình chỉ
Error!
Bookmark
not
defined.
Footer Page 8 of 126.
Header Page 9 of 126.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cải cách tổ chức và nâng cao chất lƣợng hoạt động của các cơ quan tƣ
pháp trong đó có Viện kiểm sát (VKS) là một đòi hỏi có tính cấp bách của
Đảng, Nhà nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày
Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự có bị can là
NCTN là thể hiện cụ thể một trong những chức năng của VKS, bảo đảm việc
giải quyết vụ án có bị can là NCTN đƣợc chính xác, nhanh chóng, đảm bảo
quyền con ngƣời của NCTN, đồng thời còn là biểu hiện của việc thực hiện
quyền lực nhà nƣớc nhằm góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế và bảo
vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Để đáp ứng yêu cầu này ngành kiểm sát phải
không ngừng nâng cao chất lƣợng thực hiện chức năng của mình trong quá
trình giải quyết vụ án.
Thực tiễn những năm qua cho thấy, trong công tác của mình, VKS đã
thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tƣ
pháp trong vụ án hình sự nói chung, cũng nhƣ vụ án có bị can là NCTN nói
riêng. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt đƣợc, hoạt động của VKS vẫn còn có
những hạn chế trong việc thực hiện chức năng của mình, nhƣ: Vẫn còn tình
trạng bắt, tạm giam, tạm giữ NCTN chƣa đáp ứng đƣợc điều kiện, yêu cầu
của Bộ luật Tố tụng hình sự; việc tạm giam NCTN còn đƣợc áp dụng tƣơng
đối phổ biến trong khi đó biện pháp giám sát tại gia đình và cộng đồng thì lại
ít đƣợc áp dụng trên thực tế, mặc dù đây là biện pháp tốt đối với quá trình
giáo dục, cải tạo đối với NCTN; các quyền cơ bản của NCTN trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự đặc biệt là quyền bào chữa của họ vẫn chƣa đƣợc
đảm bảo, điều này dẫn đến tình trạng oan sai, vi phạm quyền con ngƣời của
NCTN đang còn xảy ra; về đội ngũ cán bộ tƣ pháp nhƣ Điều tra viên, Kiểm
sát viên; Thẩm phán chƣa đƣợc đào tạo chuyên sâu về tâm lý học, về khả
năng giao tiếp, làm việc với NCTN. Những bất cập trên vẫn còn xảy ra, và có
xu hƣớng gia tăng, chính vì vậy cần thiết phải có những nghiên cứu, sửa đổi
các quy định của BLTTHS và các văn bản có liên quan để hoàn thiện hơn thủ
2
Footer Page 10 of 126.
Header Page 11 of 126.
Header Page 12 of 126.
Về đề tài khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội của tập thể tác giả: Nguyên
tắc nhân đạo trong các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật TTHS đối
với NCTN ở Việt Nam, năm 2005. Ngoài ra, còn có những nghiên cứu đề cập
đến những vấn đề lý luận chung hoặc nghiên cứu những đề tài khác nhƣng có
một số nội dung liên quan đến thủ tục tố tụng đối với NCTN nhƣ cuốn: Tăng
cường năng lực hệ thống tư pháp NCTN tại Việt Nam, thông tin khoa học
pháp lý của Viện nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ Tƣ pháp năm 2000; hay
cuốn: Thủ tục điều tra và xét xử liên quan đến trẻ em và NCTN: Đánh giá về
các thủ tục nhạy cảm đối với trẻ em của Tòa án nhân dân (TAND); Trƣờng
Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội với công trình: Đào tạo kiểm sát viên làm việc với
NCTN (Sách dự án Danida).
Bên cạnh đó, một số tác giả đã công bố các tác phẩm liên quan đến
chức năng của VKSND và thủ tục tố tụng đối với NCTN nhƣ:
- Tác giả Nguyễn Đức Mai với bài viết: Áp dụng các quy định của
BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm
sát số 6 tháng 3 năm 2007;
- Tác giả Mai Bộ với bài viết: Hoàn thiện các quy định của BLTTHS về
việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí
Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007;
- Tác giả Phan Trung Hoài với bài viết: Vấn đề bảo đảm quyền bào
chữa của NCTN phạm tội đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 6 tháng 3 năm 2007
- Tác giả Phạm Hồng Quân với bài viết: Về chức năng, nhiệm vụ của
Viện kiểm sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự đăng trên Tạp chí khoa
học, ĐH Quốc gia Hà Nội, Luật học số 28 năm 2012.
- Tác giả Trần Thị Minh Thƣ với bài viết: “Kỹ năng của Kiểm sát viên
khi thụ lý, giải quyết các vụ án do người chưa thành niên phạm tội” đăng trên
Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra; chức năng của Viện kiểm sát
nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là ngƣời chƣa thành niên.
- Khảo sát thực tiễn thực hiện chức năng kiểm sát điều tra các vụ án
hình sự có bị can là ngƣời chƣa thành niên từ đó thấy đƣợc những ƣu điểm,
5
Footer Page 13 of 126.
Header Page 14 of 126.
tích cực và mặt hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nâng cao
hiệu quả của việc thực hiện chức năng này.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận cơ bản chức
năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tƣ pháp của Viện kiểm
sát nhân dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là ngƣời chƣa thành niên.
Về thời gian: Luận văn giới hạn việc khảo sát thực tiễn trong 05 năm
(từ năm 2010 đến năm 2015)
4. Phƣơng pháp luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đƣợc nghiên cứu trên cơ sở nhận thức luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin với phƣơng pháp luận là phép duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử. Đồng thời để phục vụ các nhiệm vụ khoa đặt ra từ đề tài luận văn, luận
văn có sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: Phân tích, tổng hợp,
so sánh và khảo sát thực tế.
5. Ý nghĩa và điểm mới và đóng góp của luận văn
Các kết quả của luận văn có ý nghĩa nhất định về mặt khoa học góp
phần xây dựng một cách nhìn toàn diện về hoạt động kiểm sát điều tra của
VKS đối với các vụ án hình sự có bị can là ngƣời chƣa thành niên. Qua đó
thấy đƣợc vai trò to lớn của VKS trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN
LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN LÀ NGƢỜI
CHƢA THÀNH NIÊN
1.1.1. Khái niệm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều
tra vụ án hình sự mà bị can là ngƣời chƣa thành niên
Thuật ngữ “Ngƣời chƣa thành niên” là một thuật ngữ thông dụng đƣợc
sử dùng trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau nhƣ xã hội
học, tâm lí học, luật học... Theo Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm ngôn ngữ học
Việt Nam, năm 2002 đã đƣa ra khái niệm về NCTN nhƣ sau: “NCTN là người
chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa
có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân” [35]. Dựa vào khái niệm này chúng ta
có thể xác định đƣợc NCTN trên hai góc độ:
Thứ nhất, NCTN là ngƣời chƣa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực,
trí tuệ và tinh thần (đặc điểm về tâm, sinh lí). Điểm đặc trƣng của lứa tuổi này
là sự phát triển chƣa đầy đủ về mặt tâm, sinh lí. NCTN là ngƣời đang ở giai
đoạn phát triển và hình thành nhân cách và chƣa thể có suy nghĩ chín chắn khi
quyết định hành vi của mình. Đối với NCTN, do tƣ duy của họ chƣa phát triển
hoàn thiện nên họ chƣa có hiểu biết đầy đủ về những khái niệm thông thƣờng
trong cuộc sống hàng ngày, tính làm chủ bản thân còn thấp, khả năng tự kiềm
chế chƣa cao...
Thứ hai, NCTN là ngƣời chƣa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân.
Các yếu tố khách quan của xã hội chính là cơ sở quan trọng để phân chia độ
tuổi của NCTN. Ở các quốc gia khác nhau thì các yếu tố khách quan của xã hội
8
Footer Page 16 of 126.
đổi và bổ sung năm 2009 quy định: “NCTN từ đủ 14 tuổi đến dƣới 18 tuổi
9
Footer Page 17 of 126.
Header Page 18 of 126.
phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chƣơng này,
đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với
những quy định của Chƣơng này” [24]. Theo quy định trên và các quy định
khác của BLHS có thể hiểu rằng: một NCTN chƣa đủ 14 tuổi thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội hoặc NCTN từ đủ 14 tuổi trở lên nhƣng chƣa đủ 16
tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, hoặc tội rất nghiêm trọng với
lỗi vô ý thì đều không phải là tội phạm. Cùng với quy định của BLTTHS năm
2015 “Bị can là ngƣời hoặc pháp nhân đã bị khởi tố về hình sự” [28, Điều 60],
theo chúng tôi, Bị can là NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi bị
khởi tố về hình sự.
Thuật ngữ “Chức năng” đƣợc hiểu là “nhiệm vụ, công dụng và vai trò” [45].
“Chức năng của cơ quan Nhà nƣớc” là hoạt động chủ yếu thƣờng xuyên có
tính ổn định tƣơng đối của riêng cơ quan đó nhằm thực hiện chức năng chung
của bộ máy nhà nƣớc [38].
Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định
chức năng của Viện kiểm sát nhân dân tại Điều 107 nhƣ sau: “Viện kiểm sát
nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [26].
Thể chế hóa quy định của Hiến pháp về chức năng của Viện kiểm sát
nhân dân tại Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy
định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [27].
Đồng thời lần đầu tiên đƣa ra khái niệm về chức năng thực hành
vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội
phạm. Thực tiễn đã chỉ ra rằng, “có thể nói những kết quả khả quan cũng như
những sai lầm tư pháp nghiêm trọng nhất như bỏ lọt tội phạm, làm oan người
vô tội...thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra” [17].
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về việc phân chia các giai
đoạn TTHS và phạm vi giai đoạn điều tra VAHS. Có quan điểm cho rằng:
Điều tra là giai đoạn đầu tiên của quá trình tiến hành tố tụng hình
sự, trong đó CQĐT áp dụng mọi biện pháp do BLTTHS quy định để
xác định tội phạm và ngƣời thực hiện hành vi phạm tội [18, tr.5]. Quan
11
Footer Page 19 of 126.
Header Page 20 of 126.
điểm khác lại cho rằng: Phạm vi của kiểm sát các hoạt động tƣ
pháp ở giai đoạn điều tra bắt đầu từ khi VAHS đƣợc khởi tố (một
số trƣờng hợp có thể đƣợc tiến hành trƣớc khi khởi tố) và kết thúc
khi Viện kiểm sát quyết định việc truy tố hoặc không truy tố kẻ
phạm tội ra toà, hoặc khi vụ án đƣợc đình chỉ theo quy định của
pháp luật TTHS [30, tr.91]...
Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng:
Điều tra VAHS là một giai đoạn của quá trình TTHS do Cơ
quan có thẩm quyền điều tra VAHS tiến hành nhằm thu thập đầy đủ
chứng cứ chứng minh về tội phạm. Giai đoạn điều tra là giai đoạn tiếp
theo sau của giai đoạn khởi tố đƣợc tiến hành trên cơ sở Quyết định
khởi tố của cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền. Giai đoạn điều tra đƣợc
bắt đầu từ khi có Quyết định khởi tố và kết thúc khi CQĐT hoàn
thành bản kết luận điều tra và quyết định đề nghị truy tố ngƣời phạm
chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp nhƣ
những vụ án hình sự thông thƣờng, VKS còn có chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tƣ pháp của các cơ quan tiến hành tố tụng trong
việc thực hiện các quy định của BLTTHS và các văn bản pháp lý có liên quan
nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bị can là ngƣời chƣa thành niên
trong vụ án. Tránh trƣờng hợp bị can là NCTN bị áp dụng những biện pháp
mà BLTTHS cấm áp dụng hoặc hạn chế áp dụng nhƣ tạm giam, áp dụng hình
phạt quá nặng...
Khi thực hiện việc bảo vệ quyền con ngƣời, đặc biệt là bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của ngƣời chƣa thành niên, VKS thực hiện đồng thời hai
chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp. Nếu
kiểm sát các hoạt động tƣ pháp đƣợc thực hiện để phát hiện nhanh chóng các
vi phạm pháp luật trong hoạt động tố tụng thì thực hành quyền công tố là
chức năng để VKS buộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân theo pháp
luật. Do tính chất khác nhau của từng giai đoạn mà vai trò bảo vệ NCTN biểu
hiện ở những mức độ khác nhau, đặc biệt là giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Từ những phân tích theo chúng tôi: Chức năng của Viện kiểm sát nhân
13
Footer Page 21 of 126.
Header Page 22 of 126.
dân trong điều tra vụ án hình sự mà bị can là NCTN là hoạt động thực hiện
việc buộc tội của nhà nước đối với người phạm tội và kiểm tra, giám sát hoạt
động của các cơ quan, người tiến hành tố tụng và một số cơ quan có thẩm
quyền điều tra khác trong quá trình điều tra hình sự mà bị can là người chưa
thành niên từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.
1.1.2. Đặc điểm chức năng của Viện kiểm sát nhân dân trong điều
Bốn là, phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt ngƣời bị giữ trong trƣờng
hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm,
khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thƣ tín, điện tín, bƣu kiện, bƣu phẩm, áp
dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các
quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều
tra, cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy
định của Bộ luật này, hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái
pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số
hoạt động điều tra. Trƣờng hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết
định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do.
Năm là, quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn,
biện pháp cƣỡng chế theo quy định của Bộ luật này.
Sáu là, đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ qua đƣợc
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ
tội phạm, ngƣời phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng
biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Bẩy là, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trƣờng hợp
để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của
Cơ quan điều tra, cơ quan đƣợc giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra hoặc trƣờng hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi
phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhƣng không đƣợc
khắc phục hoặc trƣờng hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết
định việc truy tố.
Tám là, khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của ngƣời có thẩm
quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và
15
Footer Page 23 of 126.
16
Footer Page 24 of 126.
Header Page 25 of 126.
Thứ tư, phạm vi của hoạt động kiểm sát điều tra các VAHS mà bị can
là NCTN đƣợc xác định bắt đầu từ khi CQĐT hoặc một số cơ quan khác có
thẩm quyền điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc khi CQĐT
ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố ngƣời phạm tội hoặc tạm đình chỉ, đình
chỉ giải quyết vụ án.
Có thể nói, việc xác định đúng chủ thể, đối tƣợng, nội dung và phạm vi
của hoạt động THQCT là cơ sở quan trọng để phân biệt với hoạt động kiểm
sát hoạt động tƣ pháp và các hoạt động thực hiện chức năng khác nhằm thực
hiện đúng thẩm quyền trong quá trình điều tra vụ án hình sự mà bị can là
NCTN, từ đó nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công tác của cơ quan VKSND
trong tố tụng hình sự.
1.2. CƠ SỞ CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHỨC NĂNG CỦA VIỆN
KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ MÀ BỊ CAN
LÀ NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN
1.2.1. Cơ sở lý luận
Thứ nhất, xuất phát từ đặc điểm tâm – sinh lý người chưa thành niên
Giai đoạn từ đủ 14 tuổi đến dƣới 18 tuổi là là giai đoạn chuyển tiếp từ
tuổi trẻ em sang tuổi ngƣời lớn. Trong giai đoạn này, con ngƣời có sự phát triển
mạnh mẽ về thể chất và tinh thần. Chính sự thay đổi về thể chất và tinh thần ấy
đã dẫn đến những thay đổi trong tâm lý– sinh lý của ngƣời chƣa thành niên.
Ngƣời chƣa thành niên là ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về thể chất và
tinh thần nên khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi và kiểm soát
hành vi của họ còn hạn chế, dễ bị kích động và bị tác động bởi môi trƣờng xã
hội và những điều kiện khách quan.