Tóm tắt
Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên:
HƯỚNG DẪN PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG
TẠI TỈNH KIÊN GIANG VÀ CỤ THỂ
CHO KHU VỰC HÀ TIÊN – ĐÔNG HỒ
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP
TP. Hồ Chí Minh - 2013
i
Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên: Phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang Khu vực Hà Tiên - Đông Hồ
ii
Lời nói đầu
Lời nói đầu
Sự gia tăng nhanh chóng lượng du khách tới Kiên Giang là một minh chứng về sự hấp dẫn
của tự nhiên và văn hóa của tỉnh đối với du khách. Các đảo, các bãi biển, các di tích tôn giáo,
lịch sử và các khu vực tự nhiên là những nguồn lực có thể phát triển để trở thành một khu
du lịch sôi động. Tuy nhiên, nguồn lực quan trọng nhất đối với du lịch là con người, bởi vì nếu
không có sự hỗ trợ, đầu tư và cam kết của con người, du lịch sẽ không thể phát triển bền vững
trong tương lai.
Chính phủ đã nhận thấy tiềm năng du lịch của tỉnh Kiên Giang và hỗ trợ việc phát triển Kiên
Giang trở thành một vùng du lịch trọng điểm ở phía Nam. Chính phủ sẽ cấp kinh phí xây
dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch và các nhà đầu tư lớn sẽ xây dựng các khách sạn, nhà
nghỉ cần thiết, nhưng sự thành công của du lịch lại phụ thuộc vào các hoạt động cụ thể
du lịch dựa trên những kết quả quy hoạch hiện có, xác định các hành động dựa trên các thế
mạnh du lịch của Khu DTSQ và khắc phục những điểm yếu hiện tại.
Những tiềm năng du lịch của Kiên Giang sẽ:
•
Tạo sinh kế của người dân địa phương và cải thiện cuộc sống cộng đồng thông qua các
hoạt động phát triển cơ sở hạ tầng công cộng;
•
Khuyến khích bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ tính nguyên vẹn của môi trường và làm phong
phú thêm nền văn hóa và phong tục địa phương;
•
Hỗ trợ tốt hơn cho công tác bảo tồn thiên nhiên và văn hóa của các địa điểm thông qua
tăng cường nhận thức về môi trường và văn hóa, mối quan tâm và cam kết thông qua
sự hiểu biết và trân trọng hơn;
•
Thúc đẩy các trải nghiệm và đánh giá cao về các giá trị tự nhiên và văn hóa của tỉnh;
•
Mang lại những lợi ích của du lịch (ngoại hối và cơ hội việc làm), đồng thời giảm thiểu
tác động tiêu cực về môi trường và xã hội;
•
tăng trưởng kinh tế du lịch;
•
Đảm bảo cộng đồng địa phương được hưởng lợi từ hoạt động du lịch bằng cách mở
rộng các cơ sở du lịch và dịch vụ cộng đồng hoạt động trên cơ sở lịch sử, văn hóa, đời sống
và trải nghiệm thiên nhiên, do đó thu hút các thị trường mới, mở rộng các thị trường du
lịch dài ngày hiện có và thu lợi nhiều hơn từ du lịch;
•
Thúc đẩy “phát triển trung tâm du lịch và các nhánh” để giảm thiểu tác động đối với cộng
đồng, các nguồn lực tự nhiên và văn hóa trong khu vực;
•
Phát triển các khu vui chơi giải trí và các điểm du lịch hiện có trở thành các khu du lịch
đạt tiêu chuẩn tốt nhất, tạo thêm các cơ hội và dịch vụ thăm quan trong ngày cho khách
du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa của các điểm tham quan;
iv
Tóm tắt
•
Thu lệ phí thích hợp đối với các dịch vụ và các sản phẩm tương xứng với hiện trạng về
nhân lực và Khu Dự trữ sinh quyển, tạo cơ hội trải nghiệm phong cảnh thiên nhiên, các giá
trị lịch sử lâu dài và sử dụng khoản thu này để quản lý các điểm du lịch một cách tốt nhất.
và chất thải để giảm thiểu tác động môi trường.
•
Tăng cường năng lực thu gom, xử lý và tái chế rác thải rắn ở tất cả các trung tâm đô thị.
•
Thiết lập một hệ thống cung cấp nước sạch đáng tin cậy cho Hà Tiên.
3. Phát triển trung tâm du lịch và các nhánh
•
Phát triển Rạch Giá thành một trung tâm dịch vụ du lịch lớn thông qua tiếp thị, phát
triển nhiều loại hình phòng nghỉ và mở rộng các dịch vụ, các sản phẩm du lịch ở các khu
vực xung quanh.
•
Sử dụng hệ thống kênh, rạch để tiếp cận tới các sản phẩm du lịch mới, phát triển cơ hội
kinh doanh của cộng đồng địa phương và tạo ra một trải nghiệm du lịch văn hóa đặc
trưng độc đáo.
•
Phát triển Phú Quốc thành một trung tâm du lịch khác biệt cung cấp nhiều loại hình
phòng nghỉ và dịch vụ nhằm tăng cường giới thiệu và bảo vệ các giá trị tự nhiên và văn
hóa của hòn đảo.
•
lịch và các chương trình đào tạo cụ thể cho cộng đồng địa phương để họ có thể được
hưởng lợi từ sự tăng trưởng du lịch thông qua việc cung cấp các sản phẩm du lịch, văn
hóa và các dịch vụ liên quan.
v
Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên: Phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang Khu vực Hà Tiên - Đông Hồ
6. Thu lệ phí thích hợp
• Thu một khoản lệ phí của du khách và những người buôn bán để hỗ trợ việc quản lý các
khu du lịch.
• Thu phí vào cổng và lệ phí bán hàng để hỗ trợ phát triển, tái phát triển, duy trì các điểm
du lịch và nâng cao tiêu chuẩn dịch vụ du lịch trong nước và đáp ứng các tiêu chuẩn
quốc tế.
7. Tiếp thị các giá trị Khu DTSQ và phát triển các thị trường hiện có
• Tiếp tục phát triển, quảng bá và tiếp thị giá trị Khu DTSQ Kiên Giang thành một điểm
đến lý thú và là một ví dụ về sự hòa hợp giữa con người và sinh quyển. Đề cao các giá
trị di sản của các địa điểm du lịch.
• Xây dựng các chiến lược và các chương trình tiếp thị với các quốc gia lân cận và các
trung tâm du lịch quốc tế; và giữa các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ du lịch.
• Thiết lập cơ chế phối hợp và hợp tác giữa tất cả các khu vực và địa điểm du lịch.
• Ưu tiên phát triển thị trường trong nước và địa phương, tiếp theo là Trung Quốc và các
thị trường Đông Nam Á và sau đó là thị trường phương Tây.
Các định nghĩa
Du lịch dựa vào cộng đồng (CBT) là hoạt động du lịch được sở hữu và hoạt động tại địa
phương, góp phần vào sự cường thịnh của cộng đồng thông qua việc hỗ trợ sinh kế bền vững,
bảo vệ các tài sản tự nhiên và truyền thống văn hóa - xã hội có giá trị.
Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên quốc tế
UNESCO
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc
vi
Mục lục
Mục lục
Lời nói đầu ................................................................................................................................... iii
Tóm tắt ........................................................................................................................................ iv
Các định nghĩa . ..............................................................................................................................vi
Các từ viết tắt ................................................................................................................................vi
Mục lục . ....................................................................................................................................... vii
PHẦN A: BỐI CẢNH QUY HOẠCH DU LỊCH...................................................................................... 1
A1.Nhiệm vụ và nguyên tắt quy hoạch ........................................................................................ 2
A1.1 Vị trí địa lý và ranh giới hành chính................................................................................ 2
A1.2 Khung pháp lý và mục tiêu quy hoạch............................................................................ 2
A1.3 Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang và đầm Đông Hồ...................................................... 3
A1.4 Các nguyên tắc quy hoạch.............................................................................................. 4
A2.Đặc điểm của tỉnh đối với du lịch............................................................................................ 4
A2.1 Đặc điểm khí hậu ............................................................................................................ 4
A2.2 Đặc điểm sinh học, địa chất . ......................................................................................... 5
A2.2.1 Đồng bằng sông Cửu Long................................................................................. 5
B1.1.3 Các khu vực khác của Kiên Giang . .................................................................. 15
B1.1.4 Hiện trạng các địa danh tôn giáo .................................................................... 15
B1.1.5 Ý nghĩa đối với du lịch . ................................................................................... 15
B1.2 B1.2 Các khu di tích chiến tranh và đài tưởng niệm anh hùng dân tộc........................ 15
B1.2.1 Khu vực Rạch Giá............................................................................................. 15
B1.2.2 Khu vực Hà Tiên .............................................................................................. 16
B1.2.3 Khu vực Hòn Đất . ........................................................................................... 16
B1.2.4 Khu vực Phú Quốc........................................................................................... 16
B1.2.5 Hiện trạng của các khu di tích chiến tranh . .................................................... 16
B1.2.6 Ý nghĩa đối với du lịch . ................................................................................... 16
B1.3 Lối sống của cộng đồng và nguồn lực di sản văn hóa................................................... 16
B1.3.1 Truyền thống canh tác..................................................................................... 17
B1.3.2 Đánh bắt truyền thống và nuôi trồng thủy sản . ............................................. 17
B1.3.3 Cộng đồng làng nghề và sản xuất hàng thủ công............................................ 17
B1.3.4 Lối sống sông nước ......................................................................................... 18
B1.3.5 Di sản văn học . ............................................................................................... 18
B2.2 Sông, rừng ngập mặn và cửa sông . ............................................................................. 21
B2.2.1 Sông và rừng ngập mặn................................................................................... 21
B2.2.2 Đầm Đông Hồ.................................................................................................. 22
B2.2.3 Hiện trạng sông, rừng ngập mặn và cửa sông................................................. 22
B2.2.4 Ý nghĩa đối với du lịch . ................................................................................... 22
B2.3 Bờ biển ........................................................................................................................ 22
B2.3.1 Bãi biển cát...................................................................................................... 22
B2.3.2 Bờ biển đá ...................................................................................................... 23
B2.3.3 Hiện trạng bờ biển .......................................................................................... 23
B2.3.4 Ý nghĩa đối với du lịch . ................................................................................... 23
B2.4 Núi đá và khu vực núi đá vôi........................................................................................ 23
B2.4.1 Núi và mỏm đá................................................................................................ 23
B2.4.2 Khu vực núi đá vôi........................................................................................... 23
B2.4.3 Vườn quốc gia Phú Quốc................................................................................. 23
B2.4.4 Hiện trạng các núi đá và khu vực đá vôi.......................................................... 24
B2.4.5 Ý nghĩa đối với du lịch...................................................................................... 24
B2.5 Các đảo và san hô......................................................................................................... 25
C2.4.2 Khả năng tương hợp giữa việc sử dụng các địa điểm, các chủ đề
và các giá trị nguồn lực................................................................................................. 34
C2.4.3 Hành động chiến lược đối với tái phát triển và giới thiệu các điểm du lịch.... 34
C2.4.4 Chiến lược hành động phát triển và giới thiệu các sản phẩm du lịch.............. 36
C2.5 Các tiêu chuẩn dịch vụ và lợi ích của cộng đồng địa phương....................................... 37
C2.5.1 Các tiêu chuẩn dịch vụ du lịch......................................................................... 37
C2.5.2 Du lịch dựa vào cộng đồng.............................................................................. 37
C2.5.3 Hành động chiến lược để nâng cao tiêu chuẩn dịch vụ và đảm bảo cộng đồng
địa phương được hưởng lợi từ du lịch............................................................ 37
C2.6 Thu lệ phí dịch vụ hợp lý . ............................................................................................ 38
C2.6.1 Đầu tư . ........................................................................................................... 38
C2.6.2 Tự bù đắp chi phí vận hành và bảo trì............................................................. 38
C2.6.3 Giải ngân ......................................................................................................... 39
C2.6.4 Chiến lược hành động để tăng nguồn tài chính cho bảo trì tài sản du lịch và
xác định việc giải ngân..................................................................................... 39
C2.7 Quảng bá các giá trị của Khu Dự trữ sinh quyển.......................................................... 40
Tài liệu tham khảo ....................................................................................................................... 43
viii
Năm 2001, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã phê duyệt quy hoạch tổng thể Đông Hồ
(Quyết định số 712/UB-QD ngày 14 tháng 4 năm 2001). Theo quy hoạch, Kiên Giang sẽ phát
triển các dịch vụ du lịch, trồng rừng sinh thái và nuôi trồng thủy sản. Cù lao Cừ Đức được đề
xuất là một “làng du lịch sinh thái” và Tô Châu là các cơ sở du lịch ven bờ. Phục hồi “rừng sinh
thái – đầm nước mặn” và phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững (Mai, 2011b). Quyết định
này khẳng định ý nghĩa văn hóa, tâm linh và sinh thái của Đông Hồ, vai trò tiềm năng của nó
trong phát triển nền kinh tế địa phương.
Năm 2009 và 2011, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã điều chỉnh quy hoạch tổng thể cho
đầm Đông Hồ để đảm bảo bảo tồn bền vững, phục hồi và phát triển, bao gồm bảo vệ các giá
trị lịch sử và văn hóa của nó và sử dụng chúng cho du lịch sinh thái (Thông báo số 149/TBVP
và Thông báo số 110/TB-VP của Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang). Ủy ban nhân
dân thị xã Hà Tiên đã đồng ý với các quan điểm của quy hoạch này (Văn bản số 60/TTr-UBND,
ngày 24/6/2009).
2
PHẦN A. Bối cảnh quy hoạch du lịch
Năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đề nghị Dự án Bảo tồn và Phát triển Khu Dự trữ
sinh quyển Kiên Giang (do GIZ và Australian AID tài trợ) hỗ trợ thực hiện quy hoạch chiến
lược du lịch trong khu vực Hà Tiên và Đông Hồ.
A1.3 Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang và đầm Đông Hồ
Năm 2006, Khu Dự trữ sinh quyển Kiên Giang được UNESCO công nhận. Diện tích của Khu DTSQ
là 1.118.105 ha (thuộc tỉnh Kiên Giang), trong đó diện tích vùng lõi là 36.935 ha, vùng đệm
172.578 ha và vùng chuyển tiếp 978.591 ha. Khu DTSQ có nhiệm vụ bảo tồn rừng mưa nhiệt
đới, rừng và núi đá vôi, đầm lầy, rừng tràm, rừng ngập mặn, cỏ biển, rạn san hô, các vùng đất
ngập nước ven biển và đồng cỏ ngập nước theo mùa. Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang là cơ
quan quản lý Khu DTSQ.
Trong đề xuất thành lập Khu DTSQ, đầm Đông Hồ nằm trong vùng chuyển tiếp. Vào thời điểm
triển bền vững, bảo vệ môi trường và phát triển của các hoạt động ít ảnh hưởng đến môi
trường và sinh kế người dân như du lịch môi trường - là hình thức du lịch dựa vào chất lượng
cảnh quan.
Các cán bộ quản lý dự án do GIZ Kiên Giang đã trao đổi với Ban quản lý Khu Dự trữ sinh quyển
rằng du lịch có thể:
•
Hỗ trợ sinh kế cho người dân địa phương và cải thiện an sinh cộng đồng thông qua việc
phát triển cơ sở hạ tầng công cộng.
•
Thúc đẩy bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ sự toàn vẹn của môi trường và làm phong phú
thêm nền văn hóa và phong tục địa phương.
•
Hỗ trợ tốt hơn cho công tác bảo tồn bằng cách tăng cường nhận thức về môi trường và
văn hóa, mối quan tâm và cam kết thông qua sự hiểu biết và trân trọng các giá trị.
•
Xây dựng mô hình thí điểm về sự phát triển bền vững.
•
Đa dạng hóa các cơ sở, hoạt động kinh tế của cộng đồng địa phương.
3
•
Sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
•
Thúc đẩy việc bảo vệ và quảng bá các giá trị tự nhiên, văn hóa của Đông Hồ và khu vực
xung quanh như là giá trị đặc trưng về văn hóa - xã hội của cộng đồng địa phương cũng
như của tỉnh Kiên Giang và Việt Nam (Carter, 2012a).
Ý nghĩa của nghiên cứu
Trong bối cảnh của Kiên Giang, Khu Dự trữ sinh quyển liên kết với lịch sử phát triển của tỉnh
bắt đầu từ giai đoạn họ Mạc xây dựng nền móng quản lý hành chính cho thị trấn Hà Tiên,
dựa trên nguyên tắc này và những tác động của nó đều có liên quan đến toàn tỉnh được áp
dụng trong báo cáo này để củng cố các định hướng du lịch chiến lược.
A2. Đặc điểm của tỉnh đối với du lịch
A2.1 Đặc điểm khí hậu1
Tỉnh Kiên Giang nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa ẩm. Nhiệt độ trung bình là 27,40C,
nóng nhất trong tháng 4 (290C) và lạnh nhất trong tháng 1 (25,60C); độ ẩm trung bình 82%
(do ảnh hưởng của biển nên nhiệt độ và độ ẩm ở đây được cải thiện tốt hơn). Kiên Giang có
hai mùa rõ rệt, tương tự như các khu vực khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, nhưng mùa mưa
xảy ra hơi sớm hơn và kết thúc muộn hơn, nên độ ẩm cao hơn. Mùa mưa từ tháng 4 đến
tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa hàng năm tương đối cao
(1.600- 2.100 mm trong đất liền và 2.400 – 2.900 mm trên đảo Phú Quốc). Trong mùa mưa,
có 4 - 6 giờ nắng mỗi ngày và gió thường thổi từ phía Tây và Tây Nam, nhưng vào mùa khô
gió chuyển sang phía Bắc và Đông Bắc (Lê & Trường, 2011; Mai, 2011a). Trong mùa khô, một
ngày thường có từ 7 đến 8 giờ nắng.
Ý nghĩa đối với sự thành công của du lịch
Mặc dù nhiệt độ ấm và giờ nắng dồi dào, nhưng khí hậu 2 mùa ẩm - khô rõ rệt đã tạo nên
Dừa nước (Nypa fruticans), đất lau lách và rừng ngập mặn có giá trị rất quan trọng về sinh kế
cũng như động vật hoang dã. Kiên Giang được coi là một trong những nơi quan trọng nhất
ở Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò bảo tồn các loài chim nước lớn, chẳng hạn như Sếu
đầu đỏ (Grus antigone sharpii), Cò quắm vai trắng (Pseudibis davisoni) - loài cực kỳ nguy cấp
trên toàn cầu, Ô Tác (Houbaropsis bengalensis) - loài có nguy cơ tuyệt chủng trên toàn cầu,
Hạc cổ trắng (Ciconia episcopus), Cò Sơn (Mycteria leucocephala), và Bồ nông (Pelecanus
philippensis) - loài dễ bị tổn thương trên toàn thế giới (Buckton et al., 1999).
Ý nghĩa đối với sự thành công của du lịch
Hầu hết các dải đồng bằng ở Kiên Giang là đối tượng chuyển đổi sang sản xuất lúa gạo và
nuôi trồng thủy sản, thì các khu vực còn sót lại ngày càng có giá trị về du lịch. Tuy nhiên, tính
bền vững (sự tồn tại) của các khu vực này vẫn còn chưa chắc chắn và do đó giá trị du lịch
cũng chưa chắc chắn.
A2.2.2Núi đá vôi
Rải rác khắp các vùng đồng bằng phía Tây của Kiên Giang là núi đá vôi nhô lên (vùng núi đá
vôi) được phân lập từ các khu vực núi đá vôi khác ở Đông Dương. Mực nước biển dâng và
các hiện tượng thời tiết đã tạo nên các vách đá thẳng đứng, hang động thạch nhũ và các đặc
trưng do xói mòn. Mặc dù các đá vôi nhỏ, nhưng mức độ đa dạng sinh học của chúng rất cao.
Trong khu vực núi đá vôi có 322 loài thực vật được ghi nhận, với ít nhất 114 loài chim và 31
loài động vật có vú, gồm cả 9 loài dơi. Nổi bật trong các loài không xương sống là ốc sên trên
cạn, với 65 loài được ghi nhận, trong đó có 36 loài mới được xác định gần đây và là loài đặc
hữu của Kiên Giang.
Ý nghĩa của núi đá vôi với du lịch
Ngoài việc sử dụng giá trị văn hóa, lịch sử và tôn giáo, núi đá vôi và hang động là các điểm
nóng đa dạng sinh học và là điểm du lịch giá trị hấp dẫn ở nhiều nơi trên thế giới. Đây cũng
có thể là điểm nhấn cho du lịch ở tỉnh Kiên Giang. Tuy nhiên, hiện nay đa dạng sinh học của
các núi đá vôi ở Kiên Giang vẫn chưa được sử dụng như một tiềm năng trọng tâm trong phát
triển du lịch.
A2.2.3 Các đảo và bãi biển
Đế chế này dần dần bị suy tàn và diệt vong do sự xâm lấn của Chân Lạp (Campuchia) và
Champa. Vùng đất này hầu như bị “bỏ quên” một thời gian dài. Vào những năm 1620, dưới
thời vua Khmer Chey Chettha II (1618-1628) người Việt Nam đã đến định cư trong khu vực
và cho thành lập các tòa nhà chính phủ ở Prey Nokor. Dần dần dân số người Việt tăng nhanh
chiếm phần lớn dân số. Trong thời gian cuối thế kỷ 17, Mạc Cửu - người sáng lập Hà Tiên - mở
rộng ảnh hưởng của mình trong khu vực và các khu định cư của người Việt Nam, Hoa và mở
rộng khu vực quản lý sâu hơn vào lãnh thổ Chân Lạp.
Năm 1698, chúa Nguyễn ở Huế đã cử Nguyễn Hữu Cảnh thiết lập lại bộ máy hành chính quản
lý khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong cuộc chiến tranh Tây Sơn (cuối thế kỷ 17) và triều
đại nhà Nguyễn sau đó, ranh giới của Việt Nam mở rộng tới mũi Cà Mau. Năm 1802, Nguyễn
Ánh đăng quang, tự xưng vua Gia Long và thống nhất tất cả các vùng lãnh thổ thuộc Việt Nam
hiện đại, gồm cả Đồng bằng sông Cửu Long.
Sau khi Nam Kỳ bị Pháp đánh chiếm vào những năm 1860, trong thời gian Nguyễn Trung Trực một ngư dân - tổ chức và lãnh đạo nông dân chống Pháp ở Rạch Giá cho đến khi ông bị bắt và
tử hình, khu vực này đã trở thành thuộc địa đầu tiên của Pháp. Sau đó, một phần Đông Dương
cũng trở thành thuộc địa của Pháp. Trong suốt thời kỳ đô hộ, người Pháp đã phải vận dụng
mọi người lực quân đội để đương đầu và đàn áp các phong trào yêu nước. Một cuộc chiến kéo
dài trong suốt Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất và sau đó là Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến
tranh Đông Dương lần thứ hai (chiến tranh Việt Nam - Mỹ).
Trong những năm 1970, Khmer Đỏ đã tấn công đánh chiếm vùng Tây Nam Việt Nam. Cuộc chiến
tranh này dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Khmer Đỏ.
Ý nghĩa của giá trị lịch sử với phát triển du lịch
Tỉnh Kiên Giang có một quá trình lịch sử định cư và bảo vệ tổ quốc lâu dài. Chúng mang ý
nghĩa quốc gia và thu hút sự quan tâm của khách du lịch. Kiên Giang có nhiều địa điểm phản
ánh giá trị lịch sử, nhưng vẫn chưa được giới thiệu đầy đủ cho du khách. Phát triển hoặc tái
phát triển các địa điểm này có thể khuyến khích du khách ở lại trong tỉnh dài ngày hơn và do
đó gia tăng lợi ích kinh tế từ du lịch.
A2.3.2Di sản văn học2
Kiên Giang có một di sản văn học phong phú đặc biệt trong thời kỳ nhà Mạc, cảnh quan xung
quanh Đông Hồ truyền cảm hứng cho nhiều nhà thơ, nhà văn sáng tác nhiều bài thơ và tác
Truyền thống và di sản văn học của Kiên Giang, đặc biệt là ở khu vực Hà Tiên - Đông Hồ có
thể là điểm nhấn lễ hội và du lịch lớn. Nó làm nổi bật các tài sản du lịch tự nhiên của tỉnh
Kiên Giang.
A2.3.4Di sản văn hóa và tôn giáo
Di sản văn hóa của Kiên Giang và tầm quan trọng của nó đối với Việt Nam (cả Campuchia và
Thái Lan) bắt nguồn từ sự định cư lâu dài, vai trò trung tâm và độc đáo trong lịch sử của vùng
Đồng bằng sông Cửu Long và Việt Nam hiện đại. Đặc điểm lịch sử này được phản ánh trong
nền văn hóa của nhiều dân tộc (Kinh, Hoa, Khmer) đang sinh sống trong tỉnh Kiên Giang. Các
nền văn hóa được thể hiện trong các đền, chùa (hiện đang là trọng tâm của các hoạt động
du lịch), món ăn truyền thống, lễ hội và biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày của các dân tộc.
Ý nghĩa của giá trị di sản văn hóa và tôn giáo với phát triển du lịch
Sự pha trộn văn hóa của Kiên Giang là độc nhất ở Việt Nam. Điểm độc đáo này nên được
phát triển thành các sản phẩm du lịch đặc biệt và quảng bá như một hình ảnh du lịch của
tỉnh.
A2.4 Đặc điểm về dân số và phát triển4
A2.4.1Đặc điểm về dân số và kinh tế
Năm 2010, dân số toàn tỉnh là 1.705.500 người, trong đó 22% sống ở các khu vực đô thị (Bảng
A1). Có ba dân tộc chính: Việt hay Kinh (chiếm 84,4% dân số), Khmer (12,3%) và Hoa (2,4%).
Hoạt động kinh tế chủ đạo của Kiên Giang là khai thác, nuôi trồng thủy sản và trồng lúa. 66%
(4.120 km²) diện tích đất được sử dụng để sản xuất nông nghiệp/nuôi trồng thủy sản, trong
đó đất trồng lúa chiếm 3.170 km² (77% đất nông nghiệp), 19% (1.200 km²) là rừng. Nước
mắm và hạt tiêu Phú Quốc rất nổi tiếng ở Việt Nam và ở nước ngoài.
Kim dự lan đào, Bình san điệp thúy, Tiêu tự thần chung, Gianh thành dạ cổ, Thạch động thôn vân, Châu
nham lạc lộ, Đông hồ ấn nguyệt, Nam phố trừng ba, Lộc trĩ thôn cư, Lư khê ngư bạc.
4
Theo Mai (2011).
3
Tỉnh Kiên Giang
Diện tích
(km2)
88,5
574
407
906
1028
416
97,8
28
634
284
424
466
608
433
711
6.299
Dân số (Mật độ)
Thủ phủ
39.957 (451/ km2)
Thị xã
Dương Đông
85.000 (148/ km2)
28.910 (71/ km2) Tân Khánh Hòa
14 xã
10 xã
12 phường
18 xã
9 xã
10 xã
9 xã
7 xã
6 xã
11 xã
A2.4.2Dịch vụ hỗ trợ du lịch
a.
Thành phố và thị xã là các trung tâm
Rạch Giá là thủ phủ của tỉnh, nằm bên bờ biển, cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km. Đây
là thành phố đầu tiên “lấn biển” để mở rộng thành phố bằng các công trình cải tạo. Nó đã
trở thành một trong những thành phố lớn nhất ở phía Tây Nam Việt Nam. Dân số chủ yếu là
người Kinh bao gồm một số lượng đáng kể là người Hoa và Khmer đang sinh sống ở Rạch Giá.
Hầu hết du khách đi qua thành phố này chủ yếu để di chuyển đến Phú Quốc hoặc Hà Tiên (có
thể là do Rạch Giá không có các sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách). Tuy nhiên, đây là vị trí
trung tâm của các hoạt động kinh tế và hoạt động như là trung tâm du lịch của tỉnh.
Hà Tiên cách Rạch Giá 1,5 giờ ô tô. Hà Tiên là một thị xã du lịch nổi tiếng với các bãi biển và
phong cảnh đẹp, gồm cả đầm Đông Hồ. Hà Tiên được nhóm người Việt gốc Hoa do Mạc Cửu
dẫn đầu tìm ra và khai phá từ giữa thế kỷ 17. Mạc Cửu đã cho xây dựng các chợ và hình thành
một thị trấn kinh doanh nhộn nhịp. Người Việt chuyển đến định cư ở đây từ lâu đời tạo thành
thế lực mạnh nhất thời bấy giờ. Hà Tiên được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam dưới triều đại
chúa Nguyễn vào năm 1680. Sự kết hợp các nền văn hóa làm cho đặc điểm dân cư trở nên
thú vị. Hà Tiên là một thị xã nhỏ và nằm bên đầm Đông Hồ đã tạo nên sự hấp dẫn đối với du
b. Hạ tầng giao thông
Rạch Giá cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km, cách Cần Thơ 116 km và Mỹ Tho 182 km. Hà
Tiên cách Rạch Giá 92 km. Đường giao thông nối từ Hà Tiên đến tỉnh Kampot - Campuchia
hiện nay cũng đang được khách du lịch sử dụng.
Sân bay Rạch Giá, Phú Quốc thực hiện các chuyến bay hàng ngày theo lịch trình kết nối
thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Dịch vụ xe buýt thường xuyên hoạt động kết nối Rạch Giá
và Hà Tiên cũng như các tỉnh lân cận. Rạch Giá và Phú Quốc là cảng thương mại và đánh bắt
hải sản ở miền Nam Việt Nam, do đó, có thể thuê hoặc sử dụng dịch vụ thuyền để tiếp cận
các hòn đảo và các cảng ven biển khác, bao gồm cả từ Rạch Giá đến đảo Phú Quốc và các
đảo khác. Du lịch bằng thuyền giữa Phú Quốc và Kampot -Campuchia đã được đàm phán.
Sử dụng các tàu thuyền truyền thống trên đường thủy vẫn còn là hình thức vận tải chính,
đặc biệt là trong mùa mưa lũ khi đi lại bằng đường bộ khó khăn.
Ý nghĩa đối với sự thành công của du lịch
Kiên Giang có dịch vụ vận tải bằng đường bộ, hàng không và các cơ sở hạ tầng giao thông
đường thủy tương đối tốt. Tuy nhiên, để sử dụng cho mục đích du lịch thì mạng lưới kênh
rạch vẫn chưa xứng tầm. Hệ thống kênh rạch có tiềm năng quan trọng như một sản phẩm
du lịch, nhưng cũng có thể hỗ trợ loại hình du lịch dựa vào cộng đồng dọc theo các tuyến
đường thủy.
c.
Xử lý nước thải
Nước thải ở Rạch Giá và Hà Tiên được cho chảy ra cống và chỉ được xử lý thô. Đa số các khu
vực khác trong tỉnh nước thải hoạt động theo kiểu “ra khỏi nhà”. Chất thải do hoạt động và
sinh hoạt con người trực tiếp thải vào các kênh rạch hoặc nước ngầm mà không qua xử lý.
Tình trạng này dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (chất dinh dưỡng và các mầm
bệnh) ở nước ngầm và hệ thống kênh mương, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và đe dọa sức
khỏe con người. Nước thải và khí thải từ hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản làm
trầm trọng thêm tình hình. Các vùng đất ngập nước như Đông Hồ có nguy cơ suy giảm về
phải đun sôi để uống. Ở khu vực nông thôn, người dân phải sử dụng nước ngầm hoặc nước
mưa thu từ mái nhà, cả hai nguồn nước đều đáng lo ngại đối với vấn đề sức khỏe.
Ý nghĩa đối với sự thành công của du lịch
Mức độ thành công của du lịch bị hạn chế bởi sự thiếu hụt hoặc mất ổn định của nguồn năng
lượng (đặc biệt là ở các khu vực nông thôn) và hệ thống cấp nước sinh hoạt an toàn. Sự phụ
thuộc vào nước đóng chai tạo ra lượng chất thải rắn đáng kể và sẽ tăng khi lượng du khách
tăng lên. Việc cải thiện khả năng tiếp cận với nguồn năng lượng và nước uống an toàn là rất
quan trọng đối với việc mở rộng du lịch trong tỉnh và cải thiện cuộc sống cộng đồng.
f. Dịch vụ y tế
Rạch Giá, Hà Tiên và Phú Quốc đã có các dịch vụ y tế cơ bản, nhưng để điều trị các bệnh theo
yêu cầu của y tế hiện đại thì cần phải đến các thành phố lớn trong vùng hoặc tới thành phố
Hồ Chí Minh.
Ý nghĩa đối với sự thành công của du lịch
Lượng du khách tăng, đặc biệt là du khách quốc tế là lý do chính đáng để phát triển các dịch
vụ y tế tiên tiến trên địa bàn tỉnh.
A2.4.3Các dự án đã được phê duyệt
a.
Chuyển đổi sử dụng đất và các công trình lấn biển
Trung ương đã hỗ trợ nhiều công trình công cộng để thúc đẩy phát triển kinh tế ở Đồng bằng
sông Cửu Long nói chung và tỉnh Kiên Giang nói riêng. Hầu hết các đầu tư nhằm khai thác
các khu vực đất ngập nước bằng cách chuyển đổi chúng thành các vùng sản xuất nông - lâm
- ngư nghiệp. Những công trình này đã trực tiếp làm suy giảm các nguồn tài nguyên du lịch
tự nhiên của khu vực.
Rạch Giá và Hà Tiên cũng là nơi có các công trình lấn biển. Các công trình này đã mở rộng
diện tích đất đô thị và phát triển công trình liên quan tới du lịch, nhưng tác động của chúng
tới động lực ven biển vẫn chưa được làm rõ.
PHẦN A. Bối cảnh quy hoạch du lịch
sinh thái khác, đặc biệt là các núi đá vôi và vùng ven biển vẫn đang là đối tượng dễ bị tổn
thương nếu chúng được sử dụng cho mục đích khác ngoài bảo tồn và du lịch. Nếu phát triển
du lịch là để hỗ trợ bảo tồn, thì cần thiết phải sử dụng các khu bảo tồn cho mục đích du lịch
nhiều hơn.
A3. Xu hướng du lịch đối với Kiên Giang
A3.1 Tăng số lượng du khách
Năm 2010, tỉnh Kiên Giang đã thu hút hơn 4,3 triệu lượt khách (97% là khách nội địa), trung
bình hàng năm tăng 15% kể từ năm 2005. Trong cùng thời gian, du khách đến Phú Quốc tăng
khoảng 20% mỗi năm, lên tới 329.000 khách (khoảng 30% là khách quốc tế) (Hình A2 và A3).
Như vậy, trong khi Phú Quốc là điểm đến của khoảng dưới 10 % tổng lượng khách du lịch đến
tỉnh Kiên Giang thì nó lại thu hút khoảng một phần ba du khách quốc tế. Ngược lại, khu vực
đất liền của Kiên Giang hiện đang có một thị trường du khách trong nước phát triển mạnh
mẽ, nhưng không thu hút được khách quốc tế.
350
4,500
4,000
3,500
3,000
2,500
1,500
Khách du
Kiên(excluding
Giang
2008
Year
Năm
2009
2010
Hình A2. Du khách tới Kiên Giang,
bao gồm cả khách tới Phú Quốc
Số lượng khách du lịch (‘000)
Số lượng khách du lịch (‘000)
Vì vậy, với sự tăng trưởng thị trường trong nước, Kiên Giang đang trên một quỹ đạo thay thế
An Giang – một tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long đã thu hút hầu hết khách du lịch (Hình A4).
Khách dutolịch
Phú
Quốc
Tourists
Phu
Quoc
International
Khách du lịchtourists
quốc tế
Domestic
tourists
Khách du lịch
Mặc dù khách du lịch trong nước tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng lượng khách lưu trú qua đêm
không nhiều. Khách du lịch nội địa lưu trú qua đêm chiếm dưới 30%. Thời gian lưu trú đối
với du khách trong nước đến Phú Quốc là 1,1 đêm và 1,3
đêm đối với các địa điểm khác của Kiên Giang. Đối với du
Kien
Can
An Giang
Kiên Giang
Giang
Cần Tho
Thơ
Cà
Bến Tre
Tre
Ca Mau
Ben
khách quốc tế, các con số khả quan hơn một chút đối với
Phú Quốc (2,3 đêm), nhưng ít hơn (1,2 đêm) đối với các
điểm còn lại của tỉnh. Tuy nhiên, theo các số liệu quốc tế
thì thời gian lưu trú của du khách khác nhau đáng kể giữa
các năm.
6,000
5,000
4,000
3,000
2,000
Những dữ liệu này cho thấy Kiên Giang có cơ hội tăng khách
du lịch nghỉ qua đêm và nâng cao thu nhập từ du lịch.
11
Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên: Phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang Khu vực Hà Tiên - Đông Hồ
Công suất sử dụng phòng nghỉ vẫn ở mức cao đối với Phú Quốc (> 70%), nhưng thấp đối với
các vùng khác của Kiên Giang (thường
60
1.411
4
75
61
1.503
10
76
83
1.252
5
32
99
1.888
5
43
112
1.947
4
55
144
2.266
5
51
CỦA KIÊN GIANG
Phần báo cáo này trình bày kết quả điều tra về nguồn lực và các sản phẩm hiện có để phục
vụ du khách cũng như xác định các sản phẩm du lịch tiềm năng. Thống kê báo cáo này chưa
được toàn diện, nhưng đã thể hiện sự giàu có và phong phú về di sản thiên nhiên, văn hóa,
lịch sử và lối sống của cộng đồng đa dạng, để có thể hình thành nền tảng cho một ngành du
lịch sôi động. Tuy nhiên, các sản phẩm du lịch hiện có của Kiên Giang chưa được phát triển và
giới thiệu một cách đầy đủ, thiếu cơ sở hạ tầng để đáp ứng sự tăng trưởng kỳ vọng cho tỉnh.
Viễn cảnh của Kiên Giang là phát triển một điểm du lịch được xây dựng trên những phẩm
chất vốn có của nguồn tài nguyên, chứ không phải là tạo nên các sản phẩm xung đột với bản
chất ‘tự nhiên’ của chúng. Đây chính là cơ sở để đề xuất các chiến lược hành động được trình
bày trong Phần C. Nguồn lực du lịch để phát triển bền vững bao gồm: tự nhiên, xã hội, con
người, sản xuất và tài chính (Viederman, 1994). Báo cáo này chỉ ra những thay đổi đặc điểm
‘tự nhiên’ của một nguồn lực hoặc vốn (chẳng hạn như môi trường, cơ sở hạ tầng hoặc kiểu
phát triển) có thể làm thay đổi nhận thức của khách du lịch về một nơi (tích cực hoặc tiêu
cực), sự lựa chọn điểm đến và ứng xử của họ tại địa điểm du lịch đó. Điều này có ý nghĩa đối
với việc quản lý và sự thành công của các hoạt động phát triển du lịch (Carter, 2012b).
13
Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên: Phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang Khu vực Hà Tiên - Đông Hồ
PHẦN B: CÁC CƠ HỘI VÀ NGUỒN LỰC DU LỊCH
CỦA KIÊN GIANG
B1. Nguồn lực di sản tôn giáo, lịch sử và văn hóa
B1.1 Lễ hội và các địa điểm tôn giáo (chùa và đền)
Nguồn gốc văn hóa và dân tộc của con người Kiên Giang tạo nên sự kết hợp và pha trộn
phong phú của niềm tin và loại hình tôn giáo ở nhiều nơi trong toàn tỉnh. Yếu tố lịch sử, kiến
trúc, các vật dụng thiêng liêng và những câu chuyện của các vị thần ở nhiều nơi đã hấp dẫn
B1.1.2Khu vực Hà Tiên
Là một trong những vùng đất định cư lâu đời nhất ở Kiên Giang, Hà Tiên cũng rất phong phú
các đền và chùa.
Tịnh xá Ngọc Tiên được xây dựng vào những năm 1960. Từ các bậc
thang cao của tịnh xá có thể nhìn thấy thị xã và phong cảnh Đông Hồ.
Đền thờ và lăng mộ gia đình họ Mạc trên núi Lăng, hay còn được gọi
là núi Bình San, nằm trải dài trên một sườn đồi ở phía Tây trung tâm
thị xã Hà Tiên. Khu vực này được xây dựng nhằm tôn vinh người sáng
lập trấn Hà Tiên và gia đình ông. Mạc Cửu đã xây dựng ngôi chùa Sắc
14
Phần B. Các nguồn lực du lịch của Kiên Giang
Tứ Tam Bảo cho mẹ của mình, nhưng đã bị phá hủy vào năm 1771 và hậu duệ của gia tộc Mạc
đã xây dựng lại vào năm 1799.
Chùa Phù Dung được Mạc Thiên Tích xây dựng cho người vợ thứ tên là Nguyễn Thị Xuân tu
hành vào giữa thế kỷ 18. Ngôi chùa được gắn với một câu chuyện tình phức tạp.
Chùa Thạch Động cách Hà Tiên 4 km về phía Tây. Ở dưới chân núi đá vôi có một tượng đài bàn
tay nắm chặt để tưởng niệm những người đã hy sinh trong cuộc xâm lược của quân Khmer
Đỏ năm 1978.
Ngoài ra ở nhiều nơi trên các con đường ở Hà Tiên còn tồn tại các đền thờ của người Hoa.
B1.1.3Các khu vực khác của Kiên Giang
Chùa Sóc Xoài, huyện Hòn Đất cách Rạch Giá 20 km là chùa của người Khmer được xây dựng
vào năm 1885.
Chùa Hang, huyện Kiên Lương là một trong những ngôi chùa cổ nổi tiếng nhất của Kiên
Giang. Phía sau cổng chùa là một sân rộng trải dài đến chân núi Hòn Chông và một hang động
đá vôi lớn. Hàng năm, lễ hội được tổ chức tại chùa Hang từ ngày 8-15 tháng tư âm lịch.
Nguyễn Trung Trực tổ chức lực lượng khởi nghĩa chống Pháp vào những năm 1860 tại
Rạch Giá. Một trong những chiến tích của ông là lãnh đạo cuộc tấn công đốt cháy tàu chiến
Esperance của Pháp. Mặc dù Pháp đã tổ chức các cuộc vây bắt Nguyễn Trung Trực, nhưng ông
vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến năm 1868, khi mà người Pháp bắt mẹ ông và nhiều thường
dân khác làm con tin và đe dọa sẽ giết họ. Cuối cùng, ông ra đầu hàng và bị xử tử ở chợ Rạch
Giá vào ngày 27 tháng 10 năm 1868.
15
Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên: Phát triển du lịch tỉnh Kiên Giang Khu vực Hà Tiên - Đông Hồ
B1.2.2Khu vực Hà Tiên
Hà Tiên được dâng cho chúa Nguyễn Phúc Chu vào năm 1680, chính thức trở thành một đơn
vị hành chính của Việt Nam. Gia tộc ông đã xây dựng một thị trấn sầm uất và mở rộng ảnh
hưởng của họ trên vùng bờ biển phía Đông Nam của Vịnh Thái Lan. Tuy nhiên do sự tranh
dành ảnh hưởng về vị thế kinh tế và chính trị nên Hà Tiên luôn bị triều đình Thái Lan gây chiến
và phải trải qua nhiều trận chiến kéo dài đến tận năm 1771. Hà Tiên vẫn còn lưu giữ nhiều
chứng tích như chiến trường, pháo đài trên núi Pháo Đài là một dấu tích của triều đại Mạc và
những trận đánh để duy trì quyền lực và lãnh thổ của họ.
Trong năm 1978, Khmer Đỏ tấn công Việt Nam để đánh chiếm lại khu vực Đồng bằng sông
Cửu Long. Tại chân núi chùa Thạch Động, người ta đã xây dựng một đài tưởng niệm người
dân Việt Nam đã bị chết trong cuộc tấn công của Khmer Đỏ.
B1.2.3Khu vực Hòn Đất
Hòn Đất là một chiến trường ác liệt trong cuộc Chiến tranh Việt Nam - Mỹ (1955-1965), bao
gồm các hang động do lực lượng du kích và quân giải phóng sử dụng như hang Huyện Ủy,
hang Cọp, hang Cá Sấu, hang số 5... Có một đài tưởng niệm những sự kiện này và một nhà
trưng bày chứng tích chiến tranh tại Hòn Me.
Kiên Giang vẫn là một tỉnh có nền kinh tế phụ thuộc vào đánh bắt thủy sản và sản xuất nông
nghiệp. Du lịch được xem là một hoạt động kinh tế có thể là nguồn bổ sung cho ngành nghề
nông thôn để nâng cao phúc lợi của cộng đồng. Trong khi các loại hình sản xuất ở nông thôn
có thể phục vụ du lịch, thì nó cũng có thể là một sản phẩm du lịch trực tiếp nâng cao thu nhập
cho các cộng đồng nông thôn nghèo.
16
Phần B. Các nguồn lực du lịch của Kiên Giang
B1.3.1Truyền thống canh tác
Sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập chính của tỉnh Kiên Giang. Những cánh đồng lúa rộng
lớn tạo nên một bức tranh thẩm mỹ khi được nhìn từ các vị trí trên cao cũng như những
con đường trên khắp Đồng bằng sông Cửu Long. Nông dân làm việc trên cánh đồng với
những chiếc nón lá là biểu tượng của Việt Nam. Hình ảnh này thường xuyên được du khách
chụp ảnh.
Ngoài sản xuất lúa gạo, rau và hoa quả chủ yếu cung cấp cho thị trường địa phương là nguồn
thu nhập phụ thêm cho người dân. Các chợ dù lớn hay nhỏ đều bày bán sản phẩm đa dạng
nhiều màu sắc tạo được sự thích thú đối với du khách trong nước và quốc tế. Tiêu là một sản
phẩm đặc biệt và phổ biến của Kiên Giang, đặc biệt là từ đảo Phú Quốc và khu vực Hà Tiên,
Kiên Lương.
Việc trồng thử nghiệm dừa dứa ở huyện U Minh Thượng có tiềm năng đặc biệt đối với du
lịch nếu được kết nối với tour thăm quan Vườn quốc gia và cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, cần
thiết phải phát triển của một tuyến du lịch và dịch vụ hướng dẫn liên quan khác.
Thăm trang trại tại các khu vực sản xuất, kết hợp với thưởng thức ẩm thực là một sản phẩm
du lịch có giá trị có thể tăng thêm giá trị của sản xuất nông nghiệp và thu hút một khoản thu
bên cạnh các sản phẩm nông nghiệp.
B1.3.2Đánh bắt truyền thống và nuôi trồng thủy sản
Các đoàn tàu đánh cá của Kiên Giang tạo ra một hình ảnh ngoạn mục khi cập cảng. Cá và thủy
17