Phát triển du lịch thiền (Zentourism) tại tỉnh Kiên Giang - Pdf 25

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_________________________

LƢƠNG NGỌC BÍCH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH THIỀN (ZENTOURISM)
TẠI TỈNH KIÊN GIANG LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH



Chuyên ngành: Du Lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm) LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN ĐÌNH HÕE

Hà Nội, 2013
3
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 6
1. Lý do chọn đề tài: 6
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài: 7
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: 8
5. Phƣơng pháp nghiên cứu: 9

2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên: …………………………………………42
2.2.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên có thể khai thác ZT…………………… 44
2.2.3. Tài nguyên du lịch nhân văn: . …………………………………………49
2.2.4. Tài nguyên du lịch nhân văn có thể khai thác ZT…………………… 50
2.2.5. Hệ thống cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật có thể phục vụ ZT của
tỉnh Kiên Giang: …………………………………………………57
2.2.6. Các điều kiện khác: …………………………………………………61
2.3. Thị trƣờng khách du lịch Thiền tiềm năng đến Kiên Giang: … 62
2.3.1. Nhu cầu của khách nội địa: . 63
2.3.2. Nhu cầu của khách quốc tế: …………………………………………65
2.4. Những khó khăn trong phát triển ZT ở Việt Nam nói chung và ở Kiên
Giang nói riêng: …………………………………………67
Tiểu kết chƣơng 2: …………………………………………68
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC DU LỊCH THIỀN
TẠI TỈNH KIÊN GIANG ………………………………………69
3.1. Cơ sở pháp lý và khoa học của hoạt động phát triển du lịch tại tỉnh Kiên
Giang: ………………………………………………………………………69
5
3.2. Định hƣớng khai thác khả năng phát triển ZT tại tỉnh Kiên Giang:
……… 70
3.3. Hƣớng dẫn nội dung tại các tuyến/điểm ZT tại tỉnh Kiên Giang: … 71
3.4. Các nhóm giải pháp: …74
3.4.1. Xây dựng nhận thức khai thác ZT: …………………………74
3.4.2. Xây dựng sản phẩm ZT tại Kiên Giang: ……………………74
3.4.3. Đầu tƣ cơ sở vật chất phục vụ ZT: 75
3.4.4. Tạo nguồn khách thông qua các hoạt động hƣớng dẫn thực hành Thiền:
76
3.4.5. Xúc tiến đầu tƣ và quảng bá du lịch: 77
3.4.6. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho ZT: ………… 77
3.4.7. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phƣơng vào hoạt động ZT:


7
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
TÊN BẢNG BIỂU
Trang
1.Bảng 2.1:Khách du lịch đến Kiên Giang năm 2012 63
2. Bảng 2.2:Lƣợng du khách trong nƣớc đến Kiên Giang từ năm 2005 đến
năm 2009 64
3. Bảng 2.3:Khách quốc tế đến Việt Nam tháng 12 và 12 tháng năm
2012 66
4. Bảng 2.4:Lƣợng du khách quốc tế đến Kiên Giang từ năm 2005 đến năm
2009 67

lịch.
Kiên Giang có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng nhƣ: Hòn
Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi Moso, bãi biển Mũi Nai, Thạch Động,
Lăng Mạc Cửu, ĐôngHồ, HònĐất, vƣờn quốc gia U Minh Thƣợng, đảo Phú
Quốc… đây không chỉ là những điểm dừng chân và tham quan du lịch nổitiếng
mà nó còn đóng vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng
đồng dân cƣ địa phƣơng [26,27].
Theo kết quả khảo sát số liệu các tôn giáo năm 2010 địa bàn tỉnh Kiên
Giang của Ban tôn giáo tỉnh, đến cuối năm 2010, tỉnh Kiên Giang có 12 tôn
9
giáo, với 26 tổ chức tôn giáo và 342 tổ chức tôn giáo cơ sở, với 377 cơ sở thờ
tự; 57 cơ sở từ thiện nhân đạo; tổng số tín đồ 492.131 ngƣời, chiếm 29,24%
dân số của tỉnh. Có thể xem các cơ sở thờ tự Phật giáo này là nhân tố tiên
quyết trong những nhân tố thu hút du khách và làm tiền đề để xây dựng các
trung tâm thiền và các thiền viện để phục vụ du khách và phát triển ZT tại Kiên
Giang.
Dựa trên bề dày lịch sử hình thành và phát triển, những thuận lợi về mặt
vị trí địa lý và tài nguyên du lịch cho thấy tỉnh Kiên Giang có nhiều tài nguyên
và điều kiện có khả năng để phát triển loại hình ZT. Điều này góp phần tháo gỡ
cho du lịch Kiên Giang vốn đang chững lại do các loại hình du lịch truyền
thống đã cũ mòn và ngày càng ít du khách.
Với những lý do trên, đề tài “Phát triển du lịch thiền (Zentourism) tại
tỉnh Kiên Giang” đƣợc chọn làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở các nƣớc phát triển có nền văn hóa Phật giáo lâu đời, du lịch thiền đƣợc
xem là một loại hình du lịch khá phổ biến. Tại Việt Nam, du lịch thiền mới chỉ
đƣợc nhắc đến trong vài năm gần đây tuy nhiên cũng có một số bài báo khoa học
đăng trên các tạp chí hoặc mạng internet nghiên cứu về đề tài này nhƣ:
- Khánh Vũ (2007), Du lịch thiền: lạ mà hay đăng trên website
http//www.khachsanexpress.com

- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi tỉnh Kiên
Giang.
- Thời gian nghiên cứu: Các số liệu đƣợc sử dụng để nghiên cứu từ 1995-
2012.
11
- Về nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu tiềm năng, khả năng phát triển ZT
tại tỉnh Kiên Giang. Từ đó, đƣa ra các giải pháp và định hƣớng phát triển loại
hình du lịch này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập số liệu
 Số liệu thứ cấp:
o Các công trình nghiên cứu, sách báo tài liệu xuất bản và trên các trang
web về ZT bao gồm cả ZT trên thế giới và Việt Nam.
o Các luận văn, luận án, đề tài nghiên cứu về ZT.
Các số liệu thứ cấp đƣợc sử dụng với mục đích tìm hiểu những thông tin
tổng quan và khung lý thuyết về ZT trong đó có ZT cũng nhƣ thực trạng, kết
quả, tiềm năng phát triển ZT trong đó có ZT trên thế giới và Việt Nam trong
thời gian qua.
 Số liệu sơ cấp :
o Phương pháp chuyên gia: tham vấn các chuyên gia về du lịch. Mục đích
phỏng vấn chủ yếu là để tìm hiểu điều kiện và khả năng phát triển ZT của các
chuyên gia du lịch và nhu cầu tham gia ZT của du khách. Nội dung câu hỏi
tham vấn có ở phần phụ lục 2.
o Các phương pháp khảo thực địa:
- Hệ phương pháp Đánh giá nhanh có sự tham gia (PRA).
Đây là hệ phƣơng pháp thu tƣ liệu nhanh với giá cả hợp lý, đƣợc áp dụng
rộng rãi tại các nƣớc đang phát triển. Lý do chính là tại các nƣớc này, thông tin
có đƣợc bằng con đƣờng chính thức thƣờng nghèo nàn và không cập nhật.
PRA đƣợc áp dụng cho nhiều lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội trong đó có cả
du lịch [7,49,50 ].

13
CHƢƠNG 1
TỔNG QUANCƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCHTHIỀN

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Thiền là gì?
Thiền trong các Phật đƣờng là một kiểu tu tập chủ yếu nhờ Thiền định
(Định tâm trong Tỉnh giác): Thiền vốn là “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn
tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật” có nghĩa là “Truyền giáo pháp
ngoài kinh điển, không lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy chân tính thành
phật”[6]. Cần phân biệt rõ sự khác nhau giữa tƣ duy khoa học và tƣ duy thiền.
Thiền chỉ có thể “ngộ” hay “giác ngộ” đƣợc mà không “hiểu” đƣợc – các thiền
sƣ vẫn nói vậy. Tƣ duy khoa học luôn đòi hỏi sự chứng minh hay bác bỏ, tƣ
duy Thiền đòi hỏi sự cảm nhận trong tỉnh giác. Có thể hiểu vấn đề bằng tƣ duy
khoa học - nếu khoa học có thể chứng minh hay bác bỏ, nhƣng muốn biết về
vấn đề thì cần tƣ duy Thiền - ngoài khoa học [6,12].
Các thiền sƣ vẫn cho rằng Thiền là “Bất lập văn tự” (không thể viết ra
đƣợc). Nhƣng trên thế giới cũng nhƣ ở nƣớc ta sách viết về Thiền rất nhiều,
chủ yếu là tài liệu của các nhà khoa học Âu – Mỹ. Họ ngộ thiền chủ yếu là
bằng con đƣờng Thiền quán (Quán sát và Suy ngẫm) dù không thể hiểu đủ về
Thiền vì Thiền đỏi hỏi rất nhiều sự cảm thụ ngoài khoa học, nhƣng nhƣ vậy
cũng đủ để viết ít nhiều về Thiền.
Khi nói đến Thiền ai cũng nghĩ đến Thiền Tông của Phật giáo, hay
với
những ngƣời đã từng tu tập Thiền sẽ nghĩ đến các phƣơng pháp tu thiền, hay
các pháp môn tọa thiền nhƣ: Thiền Tứ niệm xứ, Thiền Minh Sát, thiền quán niệm
hơi thở Tuy vậy, đối với một số các hoạt động đƣợc truyền từ xa xƣa đến nay
nhƣ Yoga hay các hoạt động phái sinh từ sự kết hợp của Thiền với các tín
14

đã góp phần phát sinh trƣờng phái nghệ thuật Thiền nổi tiếng vào đời Tống với
các tác phẩm tranh thuỷ mặc và Thiền thi (thơ thiền)[15]. Không chỉ trong các
Phật đƣờng mà bắt đầu lan tỏa ra ngoài cuộc sống của dân chúng [6,23,25].
Quân Nguyên tiêu diệt nhà Tống khiến Ch'an suy thoái, nhƣng đã kịp theo
chân các Thiền sƣ Nhật Bản du học tại Trung Hoa truyền sang Nhật Bản. Đến
Nhật, Ch'an gặp và kết hợp với Thần Đạo (Shinto) - một trong các tôn giáo cổ
xƣa nhất thế giới, còn đƣợc gọi là "Tôn giáo Kính thờ Thiên nhiên"[6,15,23].
Sự kết hợp giữa Ch'an Trung Quốc và Shinto Nhật Bản tạo ra Zen (Thiền Nhật
Bản) [6,15,10,11,23,25]. Kể từ khi Thiền Thiên trúc sang Trung Hoa để góp
phần hình thành các Thiền phái bắc tông Đại thừa, đã xuất hiện 2 cách hiểu về
Thiền.
Cách hiểu thứ nhất: Thiền là danh từ (Thiền luận), dùng để chỉ một hệ
thống các nguyên lí điều khiển sự vận hành và tồn tại của thực tại
[12,15,31,32,33,37,38]. Những nguyên lí thực tại vào thời Phật Thích Ca sáng
lập phái Thiền Thiên Trúc chủ yếu đƣợc nhận diện nhờ Thiền định của Đức
Phật. Đến đầu thế kỷ XX với những phát kiến nhƣ vũ bão của thuyết Tƣơng
đối, Cơ học lƣợng tử, lý thuyết Nhiễu loạn (Chaos Theory), Hình học Gồ ghề
(Fractal Geometry), nhiều nguyên lý thực tại đã đƣợc khoa học chứng minh
[2,5]. Nguyên lý nào đƣợc chứng minh bằng khoa học thì chuyển sang Lí
thuyết Hệ thống [15,10]. Kinh Hoa Nghiêm xuất phát từ Ấn Độ và là một trong
những cơ sở của triết lí Thiền học Phật giáo nguyên thủy (Thiền Thiên trúc).
Trình bày về một thế giới duyên khởi của vạn pháp. Lý Duyên khởi biến
Không thành Sắc, biến Sắc thành Không, mọi sự vật sinh ra đều do tƣơng cầu
và tƣơng tác chặt chẽ mà thành. Quan điểm của Kinh Hoa Nghiêm rất giống
với lý thuyết Hệ thống hiện đại, tạo thành một lối sống mới trong đời sống
16
Phật tử. Kết hợp với lý thuyết hệ thống, nhãn quan Hoa Nghiêm giúp tạo ra
một cái nhìn tổng hợp về các vấn đề nhân văn và xã hội cũng nhƣ quảng bá lối
sống Thiền ra bên ngoài các Phật đƣờng [10,12,19,22,26,33].
Cách hiểu thứ hai: Thiền là động từ (tu thiền, tập thiền, tọa thiền) chỉ

phát triển loại hình sản phẩm du lịch này rất lớn. Để nắm rõ hơn việc các hoạt
động ZT của các quốc gia và tại Việt Nam, các hoạt động du lịch khác gắn với
các nguyên lý và giá trị của Thiền định và sự phát triển của Đạo Phật, các hoạt
động thiền Yoga, các tác động và giá trị mà Thiền và Phật giáo đem lại của các
quốc gia thế giới và của Việt Nam
1.1.3. Những đặc trưng của ThiềnNhật Bản [51]:
Nhiều nghệ thuật Thiền có xuất xứ từ Trung Hoa nhƣng đa số các nghệ
thuật này lại phát triển mạnh tại Nhật. Tại đây nghệ thuật Thiền trở nên rất đa
dạng trong đó bao gồm các lĩnh vực nhƣ kiến trúc, hội họa, trà đạo, thơ Thiền,
cắm hoa và ẩm thực.
- Kiến trúc: Với ảnh hƣởng của Thiền tông, bắt đầu từ thời Kamakura
(1185-1333) các chùa Nhật theo Thiền tông đã có nhiều thay đổi về kiến trúc:
 Đơn giản đi và trở về với kiểu Shinto.
 Thêm vào là các bức tƣờng giấy ngăn không gian nội thất. Giấy này
đƣợc làm từ lúa gạo.
 Các cửa sổ và màn che đƣợc trổ thêm ra phía vƣờn làm chỗ lấy ánh sáng
để đọc và viết gọi là kiểu dáng shoin.
 Ngày nay, các kiểu dáng shoin này đã đƣợc tiếp nối qua các thiết kế chi
tiết thêm vào của các trà đƣờng.
 Các kiến trúc Thiền đã thể hiện tính cởi mở, nhẹ nhàng, và hoà vào thiên
nhiên giúp rất nhiều có các ngôi nhà hay đền đài Nhật Bản vƣợt qua
18
đƣợc thử thách của các địa chấn. Tuy nhiên, mục tiêu chính của kiểu
kiến trúc này là để tạo bầu không khí an nhiên và cởi mở của tâm.
- Vườn Thiền: Các ngôi vƣờn Phật giáo thì đã có từ rất lâu (thế kỉ thứ 6),
nhƣng những nét đặc trƣng về khung cảnh khô (dry landscape) của kiến trúc
vƣờn Thiền mãi đến thế kỷ 14 mới bắt đầu. Một số vƣờn Thiền chỉ bao gồm sự
kết hợp của các khối đá. Tuy nhiên những điểm nổi bật của một mảnh vƣờn
Thiền Nhật Bản thƣờng là:
 Khung cảnh khô tạo nên một sắc thái giống các tranh vẽ 3 chiều.

 Mục tiêu của các bức tranh là chỉ ra trạng thái của tâm.
Loại tranh Thiền đƣợc biết đến nhiều nhất là loại tranh chăn trâu có tên
Thập Mục Ngƣu Đồ. Nội dung của 10 bức tranh miêu tả các giai đoạn của việc
tu tập Thiền. Thật ra, trong Phật giáo Đại thừa cũng có tranh trâu nhƣng hai
loại này có khác nhau vì mục đích diễn tả. Cụ thể tranh chăn trâu Đại thừa nói
về quá trình làm chủ tâm trong khi tranh Thiền tông thu gọn trong trong việc
thấy tánh hay thấy đƣợc các ý tƣởng và tƣ duy của chính thiền giả nhằm cắt
đứt các nguồn tƣ tƣỏng tạo nên cái "tôi". Ngoài ra, hình ảnh trâu trong tranh
Đại thừa có chuyển hóa dần từ đen sang trắng cho thấy quá trình chuyển hóa
việc làm chủ bản ngã trong khi màu của trâu trong tranh Thiền thì không đổi
thể hiện sự đốn ngộ.
- Trà đạo: Nghệ thuật dùng trà Thiền có nguồn gốc từ Trung Hoa đƣợc
truyền sang Nhật từ sƣ Eisai (1141-1215). Ở Nhật thì trà gọi là cha-no-yu
nghĩa là trà lễ hay chado tức là trà đạo. Trà đạo phát triển trên triết lý cho rằng
uống trà nhƣ là một thú tiêu khiển thanh tao cũng nhƣ là việc lễ giáo hóa việc
uống trà bởi các sƣ Thiền tông để giữ cho mình thức tỉnh. Sau đó, thiền sƣ Sen
20
no Rikyu (1521-1591) thì nó thực sự trở thành một nghệ thuật gắn liền với đời
sống thiền thông qua việc định nghĩa các yêu cầu của trà đạo nhƣ là sự hài hòa,
tĩnh lặng, thanh khiết và kính trọng.
- Thơ Thiền: Thơ Thiền còn đƣợc gọi là Kệ. Tiếng Phạn, đó là "gà thà",
có nghĩa là tụng, ngợi, ca, tán dùng để khẳng định giáo lý, kinh nghiệm, truyền
tâm pháp cho đệ tử. Thơ Thiền Trung Hoa đã phát triển mạnh từ thời nhà
Đƣờng. Tuy nhiên, hầu hết các học giả phƣơng Tây cho rằng thơ Thiền là kiểu
thơ haiku của Nhật.
Thơ Thiền Nhật ban đầu cũng chịu ảnh hƣởng từ Trung Hoa, nhƣng đến
thế kỉ 15 khi thể thơ renga ra đời thì nó phát triển rực rỡ. Đến thế kỉ 19 nó trở
thành thơ haiku 5 dòng, mỗi dòng 17 âm, hay 5 âm, hay 5,7 âm đan nhau.
Những vần thơ này thƣờng hàm chứa các từ về mùa màng.
Đặc điểm của thơ Thiền là:

ăn cay và kích thích nhƣ là tỏi và hành đều bị tránh dùng).
Tại Nhật, Zen (Thiền) không chỉ là cách tu tập của Thiền tông Phật giáo
với 2 tông phái là Lâm tế (thiền công án) và Tào động (thiền quán), mà còn là
một lối sống có triết lí giản dị nhƣng thâm trầm của phần đông dân chúng
[32,54,58]. Zen tạo ra tính đa dạng của đời sống Nhật nhƣ kiến trúc nhà cửa,
nghệ thuật tranh Mặc hội (Sumiye) [15], xây dựng các công viên Thiền (ví dụ
điển hình là công viên đá Royanji ở Kyoto) [52,53,55,56,57,58,59], kịch No,
kịch Kabuki, thơ Haiku 17 chữ [23], kỹ thuật bắn cung [3,9], võ judo, kiếm
đạo (Kendo), trà đạo (Chanoyu), nghệ thuật cắm hoa (Ikebana), nghệ thuật nấu
ăn, giáo dục con cái, chăm sóc nhà cửa, kinh doanh và du lịch,…
[21,35,39,40]. Tầm cao của lối sống Nhật mang đậm phong cách Thiền là Võ
22
sĩ đạo (Bushido) [15,23]. Đặc trƣng chung của lối sống Thiền là tĩnh lặng,
giản dị, hƣớng về thiên nhiên, tạo lập cân bằng của tâm hồn bằng cách hoà
nhập cá nhân với thế giới thực tại, tăng cƣờng năng lực sáng tạo và giải toả
stress do cuộc sống hiện đại gây ra [15,34].
1.1.4. Thiền tông Việt Nam[31]
Bắc Tông Đại thừa có 3 nhóm chính: Mật tông (Tu luyện mật chú), Tịnh
độ tông (thờ Phật A Di Đà) và Thiền tông (thờ Phật Thích Ca). Thiền tông
không coi Phật thích Ca nhƣ một vị Thiên Chúa hay ông Trời để cầu xin ngài
ban phƣớc lành, nhƣ Phật A Di Đà của Tịnh độ tông. Thiền tông coi trọng sự
tự thân rèn luyện giác ngộ của Thiền giả theo gƣơng và giáo lý của Phật Thích
Ca vốn đƣợc Thiền tông thờ nhƣ một vị Đạo sƣ, nhƣ một vị Thầy hƣớng dẫn.
Thiền có nghĩa là tĩnh tâm, tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt
đến chân lý giác ngộ của đạo Phật. Theo Thiền Tông, “thiền” không phải là “suy
nghĩ” vì suy nghĩ là “tâm vọng tƣởng”, làm phân tâm và mầm mống của sanh
tử luân hồi. Cách tu theo Thiền Tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và
thời gian cộng với khả năng đốn ngộ. Yêu cầu đó chỉ có kẻ căn cơ cao mới có
đƣợc nên ngƣời tu thiền thì nhiều nhƣng ngƣời chứng ngộ quả thực hiếm hoi. Tuy
nhiên, lịch sử Thiền Tông ở Việt Nam cũng có một lịch sử rõ ràng hơn cả.

dùng Thiền quán. Đặc biệt Trúc lâm chủ trƣơng tu tập tại thế (tại gia) và do đó
rất gần gữi với triết lý Zen [25]. Hiện nay do giao lƣu văn hóa với Nhật Bản
đƣợc mở rộng, lối sống Zen ngày càng phát triển bên ngoài các Phật đƣờng ở
Việt Nam.
Zen gần gũi nhiều với Trúc Lâm Thiền phái của Đại Việt ở tích hợp với
Đạo Lão và tính nhập thế, nhƣng khác Trúc Lâm ở chỗ trong khi Trúc Lâm
tích hợp nhiều yếu tố Nho giáo (do chủ trƣơng Tam giáo đồng nguyện thời Lý
24
– Trần gồm: Phật – Lão - Nho) thì Zen không tích hợp Nho giáo mà tích hợp
với Thần đạo (Shinto).
1.2. Đặc điểm loại hình du lịch Thiền
Với đặc điểm nổi bật chính là các hoạt động Thiền: tu tập, quán chiếu,
thực hành Thiền định thông qua các pháp môn hoặc tham quan các địa danh nổi
tiếng của đạo Phật, tìm hiểu và giới thiệu các giá trị do Thiền định đem lại nhƣ
về sức khỏe và trị liệu, về tu tâm, về âm nhạc, kiến trúc
- Hình thức du lịch: mang tính chất du lịch tôn giáo, nghỉ dƣỡng và sức
khỏe trong đó dựa vào đặc điểm chính của hoạt động thiền định của Phật giáo
hoặc Yoga, các lợi ích của thiền cho sức khỏe về cả mặt vật chất và tinh thần.
- Tài nguyên du lịch Thiền: Bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và
tài nguyên du lịch nhân văn.
+Tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ khai thác du lịch Thiền:
tài
nguyên nhân văn mang tính chất Phật giáo (các chùa Thiền tông và Thiền viện),
sản phẩm nhân tạo phản ánh văn hóa bản địa, lối sống Zen của cộng đồng địa
phƣơng.
+
Tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ khai thác du lịch Thiền:
các
cảnh quan thiên nhiên đẹpcũng có thể là tài nguyên của ZT nếu chúng ta biết
khai thác đúng hƣớng, các không gian thoáng đãng.

4 ngày tại Lâm Đồng, hoặc Zen tour - Nha Trang của Công ty TNHH Du lịch
Anh Anh
Cũng nhƣ các sản phẩm du lịch khác trong hệ thống các dịch vụ du lịch
cung cấp cho du khách trong nền kinh tế quốc dân. ZT ngoài việc mang lại
các tác động và hiệu quả về mặt kinh tế, xã hội, văn hóa nó còn thay đổi cách
suy nghĩ, lối sống của cƣ dân.
Sự phát triển ZT sẽ đem lại sự hiệu quả trong việc sử dụng các nguồn
tài nguyên thông qua việc thấu hiểu các nguyên lý nhân quả và các du
khách đƣợc cảm nhận, khuyến cáo việc sử dụng các nguồn tài nguyên này đối

Trích đoạn Nhu cầu của khách nội địa : Nhu cầu của khách quốc tế: Những khó khăn trong phát triển ZT ở Việt Nam nói chung và ở Kiên Cơ sở pháp lý và khoa học của hoạt động phát triển du lịch tại tỉnhKiên Hƣớng dẫn nội dung tại các tuyến/điểm ZTtại tỉnhKiên Giang:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status