ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NHƢ QUỲNH
B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI
CñA nh÷ng NG¦êI BÞ H¹N CHÕ QUYÒN Tù DO
TRONG luËt Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NHƢ QUỲNH
B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI
CñA nh÷ng NG¦êI BÞ H¹N CHÕ QUYÒN Tù DO
TRONG luËt Tè TôNG H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN ĐỨC PHÚC
HÀ NỘI - 2015
6. Đóng góp khoa học của luận văn .................................................................. 6
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ..................................................... 6
8. Kết cấu của luận văn ..................................................................................... 6
Chƣơng 1. LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƢỜI VÀ BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI BỊ HẠN CHẾ QUYỀN TỰ DO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ....................................................................... 7
1.1. Nhận thức về quyền con ngƣời của ngƣời bị hạn chế quyền tự do
trong tố tụng hình sự................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm và phân loại quyền con người ....................................... 7
1.1.2. Khái niệm quyền tự do và người bị hạn chế quyền tự do trong tố
tụng hình sự Việt Nam ............................................................................ 10
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm quyền con người của người bị hạn chế quyền
tự do trong tố tụng hình sự ...................................................................... 15
1.2. Khái niệm, nội dung, vai trò bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời
bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự ........................................ 18
1.2.1. Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị hạn chế quyền
tự do trong tố tụng hình sự ...................................................................... 18
1.2.2. Nội dung bảo đảm quyền con người của người bị hạn chế quyền tự
do trong tố tụng hình sự .......................................................................... 20
1.2.3. Vai trò của việc bảo đảm quyền con người của người bị hạn chế
quyền tự do trong tố tụng hình sự ........................................................... 37
1.3. Bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời bị hạn chế quyền tự do ở một
số nƣớc trên thế giới và những giá trị có thể vận dụng ở Việt Nam .... 39
1.3.1. Quy định về quyền con người ở một số nước trên thế giới .......... 39
1.3.2. Những giá trị có thể vận dụng ở Việt Nam về bảo đảm quyền con
người của người bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự .............. 41
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 45
Chƣơng 2. QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM
của người bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự Việt Nam ........ 80
Kết luận Chƣơng 2 ........................................................................................ 85
Chƣơng 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI BỊ HẠN CHẾ QUYỀN TỰ DO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM ............................................... 86
3.1. Quan điểm nhằm tăng cƣờng bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời
bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự Việt Nam ....................... 86
3.2. Giải pháp tăng cƣờng bảo đảm quyền con ngƣời của ngƣời bị hạn
chế quyền tự do trong tố tụng hình sự Việt Nam ................................... 91
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự có liên
quan đến việc bảo đảm quyền con người của người bị hạn chế quyền tự do . 91
3.2.2. Nâng cao nhận thức, trình độ của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm
phán và Hội thẩm ..................................................................................... 98
3.2.3. Tăng cường hướng dẫn áp dụng bộ luật tố tụng hình sự, tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân ............................ 100
3.2.4. Tăng cường xử lý vi phạm, khắc phục kịp thời các hậu quả của vi
phạm quyền con người do hoạt động tố tụng hình sự gây ra ................ 103
3.2.5. Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật trong tố tụng hình sự nhằm
bảo đảm quyền con người của người bị hạn chế quyền tự do .............. 106
3.2.6. Tăng cường vai trò của người bào chữa nhằm bảo đảm quyền con người
của người bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự .............................. 109
3.2.7. Tăng cường công tác giám sát của các cơ quan tiến hành tố tụng,
các tổ chức, cá nhân trong bảo đảm quyền con người của người bị hạn
chế quyền tự do trong tố tụng hình sự................................................... 109
3.2.8. Tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi về kinh nghiệm lập pháp
hình sự về bảo vệ quyền con người của người bị hạn chế quyền tự do .. 109
Kết luận Chƣơng 3 ...................................................................................... 111
TTHS:
Tố tụng hình sự
VKSND:
Viện kiểm sát nhân dân
XHCN:
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
Số hiệu
bảng, sơ đồ
Tên bảng, sơ đồ
Trang
Bảng 2.1: Tình hình bắt, tạm giữ, tạm giam
126
Bảng 2.2: Tình hình khởi tố
126
Bảng 2.3: Số bị cáo Tòa án tuyên không tội
đối với pháp luật là phải bảo đảm QCN, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân trong đó đặc biệt bảo đảm QCN đối với nhóm yếu thế trong tố tụng hình
sự - người bị hạn chế quyền tự do.
Theo tinh thần Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định:
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được công
nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. quyền con
người, quyền công dân chỉ có thế bị hạn chế theo quy định của luật trong
trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng [39, Điều 14].
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ chính trị “Về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020” cũng khẳng định:
Đòi hỏi của công dân và xã hội đối với cơ quan tư pháp ngày càng
cao; các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc
bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời phải là công cụ hữu hiệu bảo
vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả với các
loại tội phạm và vi phạm [3].
Việc tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự bao giờ cũng tiềm ẩn trong nó
1
ít nhất hai loại nguy cơ. Nguy cơ thứ nhất là sự xung đột lợi ích giữa một bên là
lợi ích của số đông mà đại diện là các cơ quan tiến hành tố tụng, và bên kia là lợi
ích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, những người bị tình nghi là đã thực hiện
hành vi phạm tội. Nguy cơ thứ hai là nguy cơ lạm dụng quyền lực của những cơ
quan và cá nhân được pháp luật giao cho rất nhiều quyền hành và công cụ. Chính
vì vậy, vấn đề bảo vệ QCN cơ bản của các đối tượng bị hạn chế quyền tự do là
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng, trao cho họ những quyền
năng tố tụng để họ có thể tự bảo vệ mình thông qua việc đòi hỏi một sự phán xét
- Phân tích quy định của Bộ luật TTHS Việt Nam liên quan đến bảo đảm
QCN của người bị hạn chế quyền tự do và thực tiễn áp dụng các quy định đó; tìm ra
những hạn chế và bất cập về bảo đảm QCN của người bị hạn chế quyền tự do trong
thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự.
- Đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS
Việt Nam và tăng cường bảo đảm QCN của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong
hoạt động TTHS.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Ðối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn bảo
đảm QCN của người bị hạn chế quyền tự do trong TTHS Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu phạm vi cả nước liên quan đến bảo đảm
QCN của người bị hạn chế quyền tự do.
- Phạm vi thời gian: Thực tiễn tố tụng từ năm 2010 đến tháng 6/2015.
- Phạm vi nội dung: Tập trung chủ yếu vào bảo đảm QCN của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo. Nội dung đảm bảo quyền tập trung vào bảo đảm pháp lý, bao
gồm các quy định pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật về QCN của người bị
hạn chế quyền tự do trong TTHS.
Luận văn không đi sâu nghiên cứu các bảo đảm khác như bảo đảm về chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
5. Cơ sở lý luận và các phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Đường lối quan điểm của Đảng và
chính sách pháp luật của Nhà nước ta về bảo đảm QCN nói chung và bảo đảm QCN
của người bị hạn chế quyền tự do trong TTHS nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-
6
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƢỜI VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI BỊ HẠN CHẾ QUYỀN TỰ DO
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Nhận thức về quyền con ngƣời của ngƣời bị hạn chế quyền tự do
trong tố tụng hình sự
1.1.1. Khái niệm và phân loại quyền con người
1.1.1.1. Khái niệm quyền con người
Quan niệm về quyền con người, trong lịch sử chính trị- tư tưởng của nhân
loại, thuật ngữ QCN (nhân quyền) thường được sử dụng, nhưng cho đến nay
chưa có quan niệm thống nhất. Ngay từ thời cổ đại đã có sự bàn luận về các
quyền. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XVII, XVIII, quyền con người mới được các
nhà tư tưởng bàn đến như một học thuyết.
Khi bàn đến QCN, Jaeque Mourgeon trong cuốn "Các QCN" đã cho rằng:
QCN trước hết được hiểu là những đặc quyền tự nhiên mà con người có. Đó là khả
năng hành động có ý thức, trách nhiệm nhất là tự bảo vệ. Nhưng bản thân đặc quyền
(quyền tự nhiên) chưa phải là QCN. Mà để đạt đến cái gọi là "quyền" thì phải có yếu
tố thứ hai là pháp luật. Chỉ khi được pháp luật ghi nhận thì các đặc quyền của cá nhân
mới trở thành đối tượng điều chỉnh của pháp luật và như vậy mới trở thành QCN.
Trên cơ sở quan niệm đúng đắn và khoa học về con người, C. Mác đã xác
định con người là một thực thể thống nhất, một “sinh vật – xã hội”. Do đó, QCN là
sự thống nhất biện chứng giữa “quyền tự nhiên” (như một đặc quyền vốn có và chỉ
con người mới có) và “quyền xã hội” – sự chế định bằng các quy chế pháp lý nhằm
điều chính các mối quan hệ xã hội. Vì vậy trong điều kiện ngày nay, việc đưa ra
khái niệm đúng đắn về QCN phải giải quyết được các quan hệ giữa cá nhân với xã
hội, giữa tính nhân loại với tính giai cấp, giữa các giá trị đạo đức với pháp luật và
bản pháp luật.
Theo Từ điển tiếng Việt 1992 thì quyền là “điều mà pháp luật hoặc xã hội
công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ pháp lý thông dụng: "QCN là các quyền
tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia phải tôn trọng".
8
Như vậy, QCN là những điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho mỗi
con người được hưởng. QCN được đặt trong mối quan hệ với nghĩa vụ, trách nhiệm
của mỗi cá nhân đối với xã hội và được giải quyết trên cơ sở đảm bảo lợi ích xã hội.
Bảo đảm QCN là bảo đảm dân chủ, bảo đảm hiệu quả, hiệu lực nhà nước cũng như
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đây là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta
luôn hướng tới. Việc bảo đảm các QCN, quyền công dân phụ thuộc vào nhiều yếu
tố như: kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng... trong đó nhà nước bảo đảm về mặt
pháp lý, các cơ quan tố tụng bảo đảm thực thi pháp luật có hiệu quả là vấn đề cực
kỳ quan trọng.
Dù định nghĩa các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu nêu ra không hoàn toàn
giống nhau, nhưng xét chung, QCN thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự
nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật
quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
1.1.1.2. Phân loại quyền con người
Trong khoa học pháp lý, căn cứ vào nội dung của nó, QCN được chia thành
các nhóm cơ bản sau đây:
- Các quyền chính trị bao gồm quyền tham gia quản lý Nhà nước và thảo
luận các vấn đề chung của cả nước, quyền bầu cử và ứng cử, quyền tự do ngôn luận,
quyền tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, quyền lập hội, quyền được thông tin, quyền
biểu tình, quyền bình đẳng nam nữ, quyền khiếu nại, tố cáo v.v…;
- Các quyền dân sự (các quyền tự do cá nhân) bao gồm quyền bất khả xâm
tội; nhưng đồng thời hoạt động TTHS cũng liên quan rất nhiều tới các quyền cơ
bản của con người v.v…
Một điều đáng lưu ý trong nghiên cứu việc bảo đảm QCN là các QCN liên
quan rất chặt chẽ với nhau, chúng tác động lên nhau rất lớn. Đặc biệt đóng vai trò
quan trọng là các quyền cơ bản được Hiến pháp quy định; chúng có tác động quyết
định đến việc bảo đảm thực hiện các QCN khác. Mất QCN là mất nhiều quyền
chính trị khác như quyền bầu cử, quyền lập hội; quyền tự do thân thể bị xâm phạm
có thể ảnh hưởng đến quyền tự do đi lại, quyền lao động, quyền học tập v.v…
1.1.2. Khái niệm quyền tự do và người bị hạn chế quyền tự do trong tố
tụng hình sự Việt Nam
1.1.2.1.Khái niệm quyền tự do
Tố tụng hình sự là toàn bộ hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng,
10
người tham gia tố tụng và cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nhằm giải
quyết vụ án khách quan, toàn diện, nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật. Hay
nói cách khác, TTHS là hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Hoạt động TTHS là một quá trình nhằm giải quyết vụ án, trong đó có nhiều
giai đoạn khác nhau phù hợp với tính chất, đặc điểm của các cơ quan tiến hành tố
tụng. Quan điểm truyền thống ở nước ta cũng như ghi nhận của BLTTHS 2003 phân
chia quá trình đó thành bốn giai đoạn tương ứng với chức năng của các cơ quan tiền
hành tố tụng: khởi tố vụ án hình sự; điều tra và truy tố; xét xử; thi hành bản án và
quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án. Nhưng trong phạm vi nghiên cứu này,
tác giải không đưa thi hành ánh là một giai đoạn trong các giai đoạn của TTHS.
Như vậy, hoạt động TTHS là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và
người tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và
Kiểm sát viên, Tòa án và Thẩm phán, Thư ký, Hội thẩm; nhưng tham gia vào quá
trình TTHS còn có những người tham gia tố tụng khác mà quyền và lợi ích của họ
định khởi tố bị can. Kể từ thời điểm quyết định khởi tố bị can, tức Nhà nước thể
hiện sự buộc tội đối với con người cụ thể, bị can là người chính thức bị truy cứu
trách nhiệm hình sự, bị buộc tội. Đây là điểm khác biệt rất lớn giữa bị can và người
bị tạm giữ liên quan đến việc bảo đảm QCN của họ trong TTHS.
Một người chỉ có thế bị khởi tố với tư cách bị can trong vụ án hình sự khi có
đủ căn cứ xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội. Việc xác định một
người có tư cách bị can từ khi nào là rất quan trọng. Vì khi một người phát sinh tư
cách bị can đồng nghĩa với việc người đó sẽ có các quyền và nghĩa vụ của bị can.
Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành thì bị can là người bị khởi tố về hình
sự và tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can. Bị can sẽ tham gia vào
các giai đoạn điều tra, truy tố và một phần giai đoạn xét xử sơ thẩm. Tư cách tố tụng
của bị can sẽ chấm dứt khi Cơ quan điều tra đình chỉ điểu tra, Viện kiểm sát đình
chỉ vụ án, Tòa án đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đối với bị can hoặc
tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Khi một người bị khởi tố về hình sự thì họ
sẽ trở thành đối tượng bị buộc tội trong vụ án, điều này không đồng nghĩa với việc
xác định họ là người có tội. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc. BLTTHS 2003 quy
định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [36, Điều 9].
+ Bị cáo: Theo điều 50 BLTTHS, bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định
đưa ra xét xử. Sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, thấy rằng có đủ chứng cứ
13
để khẳng định rằng bị can đã phạm tội do BLHS quy định thì đề nghị Viện kiểm sát
truy tố ra trước Tòa án. Trong quá trình chuẩn bị xét xử,Thẩm phán được phân công
chủ tọa phiên tòa thấy rằng có đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử mà không phải
trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung, không có căn cứ để đình chỉ hay
tạm đình chỉ vụ án thì ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Từ thời điểm này, bị can
trở thành bị cáo trong vụ án hình sự.
nhanh chóng, xử lý công minh tội phạm và người phạm tội.
1.1.3. Khái niệm, đặc điểm quyền con người của người bị hạn chế quyền
tự do trong tố tụng hình sự
1.1.3.1.Khái niệm quyền con người của người bị hạn chế quyền tự do trong
tố tụng hình sự
Như đã đề cập, quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự
nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp
luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. QCN là một hệ thống thống
nhất không thể chia cắt, thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong hoạt
động của mình, Nhà nước có trách nhiệm bảo vệ quyền con người, ghi nhận
quyền con người trong hệ thống văn bản pháp luật.
Do đó, khái niệm quyền con người của người bị hạn chế quyền tự do cần được
nghiên cứu một cách tổng quát ở nhiều phương diện với quan điểm cho rằng, quyền
con người của người bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự phải được đảm bảo
bằng chính các yếu tố đã tạo ra nó, bảo đảm cho nó tồn tại và phát triển. Bên cạnh đó,
khái niệm này cũng cần chỉ ra chủ thể có trách nhiệm đảm bảo quyền con người.
Quyền con người của người bị hạn chế quyền tự do thực chất cũng là những
nhu cầu, lợi ích tự nhiên và khách quan cần phải được bảo đảm của con người trong
TTHS nói chung nhưng được áp dụng với một số người bị hạn chế quyền tự do cao
hơn những loại người khác.
Căn cứ vào nội dung khái niệm quyền con người nói chung, quy định của
Hiến pháp Việt Nam cũng như đặc điểm của tố tụng hình sự, ta có thể hiểu, quyền
con người của người bị hạn chế quyền tự do trong tố tụng hình sự là những nhu
cầu, lợi ích tự nhiên và khách quan cần phải được đảm bảo của họ khi tham gia vào
quá trình giải quyết vụ án hình sự, được thể hiện ở các quyền công dân quy định
trong pháp luật Việt Nam.
15
16