ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC ANH
CHUYÓN Nh-îng quyÒn sö dông ®Êt cña tæ chøc kinh tÕ
theo quy ®Þnh cña luËt ®Êt ®ai 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC ANH
CHUYÓN Nh-îng quyÒn sö dông ®Êt cña tæ chøc kinh tÕ
theo quy ®Þnh cña luËt ®Êt ®ai 2013
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN QUANG TUYẾN
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.1.2.
Đặc điểm của quyền sử dụng đất ....................................................... 9
1.1.3.
Mối quan hệ giữa quyền sở hữu toàn dân về đất đai với quyền
sử dụng đất ....................................................................................... 12
1.2.
KHÁI NIỆM TỔ CHỨC KINH TẾ ................................................ 14
1.2.1.
Định nghĩa và đặc điểm của tổ chức kinh tế ................................... 14
1.2.2.
Phân loại tổ chức kinh tế trong sử dụng đất .................................... 18
1.3.
KHÁI NIỆM CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ ............................................................. 18
1.3.1.
Khái niệm chuyển nhượng quyền sử dụng đất ................................ 18
NỘI DUNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT
ĐẤT ĐAI NĂM 2013 ....................................................................... 33
2.1.1.
Nội dung quy định về các nguyên tắc chuyển nhượng quyền sử
dụng đất của tổ chức kinh tế ............................................................ 33
2.1.2.
Nội dung quy định về điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng
đất của tổ chức kinh tế ..................................................................... 34
2.1.3.
Nội dung quy định về trường hợp không được chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế ............................................ 41
2.1.4.
Nội dung quy định về điều kiện nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất của tổ chức kinh tế ............................................................ 41
2.1.5.
Nội dung quy định về trường hợp không được nhận chuyển
nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế ............................... 43
2.1.6.
quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế ............................................ 57
2.2.2.
Vướng mắc khi áp dụng quy định về thời điểm có hiệu lực của
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất .................................. 62
2.2.3.
Vướng mắc khi áp dụng các quy định về quyền và nghĩa vụ của
các bên trong quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất.............. 64
2.2.4.
Vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi pháp luật về
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế do sự
không thống nhất giữa chế độ pháp lý đối với đất đai và chế độ
pháp lý đối với tài sản trên đất......................................................... 65
2.2.5.
Vướng mắc nảy sinh khi áp dụng các quy định về hệ thống tài
chính đất đai ..................................................................................... 66
2.2.6.
Vướng mắc về nhận thức pháp luật và ý thức tuân thủ pháp luật của
người dân nói chung và của tổ chức kinh tế sử dụng đất nói riêng ........ 67
Kết luận chương 2 ......................................................................................... 69
DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ CỦA LUẬT ĐẤT
ĐAI NĂM 2013 ............................................................................... 72
3.2.1.
Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trong việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất............................................................... 72
3.2.2.
Đổi mới hệ thống tài chính đất đai .................................................. 76
3.2.3.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đất đai ......... 79
3.2.4.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của các cơ
quan quản lý Nhà nước .................................................................... 80
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 86
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BĐS
Bất động sản
thừa tinh thần tại Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng
định đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 53). Luật Đất đai (1993, 1998, 2001,
2003, 2013) đã thể chế hoá chính sách đất đai của Đảng và cụ thể hoá các quy
định về đất đai của Hiến pháp; đồng thời quy định các nguyên tắc quản lý và
sử dụng đất đai: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý
và trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thông qua các
hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất và chuyển
quyền sử dụng đất; Sử dụng đất đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, đúng
mục đích sử dụng đất và trong thời hạn sử dụng đất; tiết kiệm, có hiệu quả, đi
đôi với bảo vệ môi trường.
Quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản đặc biệt phát sinh trong
quan hệ sử dụng đất. Hiện nay, về mặt pháp lý, không có khái niệm mua bán
đất đai, mà chỉ có khái niệm chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Bộ
luật Dân sự năm 2005, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Luật Đất
đai năm 2013. Chuyển quyền sử dụng đất là một loại giao dịch dân sự đặc
thù, có điều kiện. Có nhiều hình thức chuyển quyền sử dụng đất: chuyển
nhượng, chuyển đổi, thừa kế, tặng cho; cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng
đất; thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; trong đó, chuyển nhượng là
một trong những hình thức phổ biến. Trong giai đoạn hiện nay, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất là đòi hỏi tất yếu, khách quan của nền kinh tế thị
trường nhằm bảo đảm quyền tự do kinh doanh và tự do cư trú của công dân.
Việc pháp luật đất đai ghi nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất
1
đáp ứng nhu cầu của người dân về đất nông nghiệp, đất ở và đất sản xuất - kinh
doanh; tạo cơ sở pháp lý cho người sử dụng đất chủ động đầu tư, nâng cao hiệu
quả sử dụng đất; đồng thời, góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện còn bộc lộ một số tồn tại như
"Những điểm mới của Luật đất đai 2003 về chuyển quyền sử dụng đất "
(2004).... Mặt khác, việc tìm hiểu về chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới
khía cạnh hoạt động kinh doanh BĐS đã được đề cập và công bố trên các tạp
chí chuyên ngành khác, cụ thể: "Sự tác động của Luật đất đai 2003 đến việc
hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở nước ta" của PGS.TS
Nguyễn Quang Tuyến đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 10/2005; bài
"Một sổ vấn đề về thị trường bất động sản" của tác giả Vũ Anh công bố trên
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 2/2004; bài "Đất đai và thị trường bất
động sản" của tiến sỹ Nguyễn Đình Bồng - Tạp chí Địa chính, số 1 - 2/2005...
Các công trình trên đã giải quyết một số vấn đề lý luận và thực tiễn, bao gồm
phân tích khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của chuyển quyền sử dụng đất; cơ sở
của quy định về chuyển quyền sử dụng đất; phân tích nội dung quy định của
chuyển quyền sử dụng đất và đưa ra giải pháp hoàn thiện. Tuy nhiên, tìm
hiểu, phân tích một cách có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về chuyển quyền sử
dụng đất của tổ chức kinh tế dưới khía cạnh các quy định của Luật Đất đai
năm 2013 thì dường như còn thiếu một công trình khoa học như vậy. Trên cơ
sở kế thừa kết quả, thành tựu nghiên cứu của các công trình khoa học về vấn
đề này đã công bố; Luận văn tiếp tục nghiên cứu, tập hợp và phát triển hệ
thống cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyển quyền sử dụng đất của tổ chức
kinh tế nhìn nhận dưới góc độ các quy định của Luật Đất đai năm 2013.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu tổng quát của Luận văn là phân tích thực trạng
nội dung các quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh
tế theo Luật Đất đai năm 2013 và khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả thi
hành các quy định này trên thực tế ở Việt Nam.
3
- Hệ thống lý thuyết về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế nói chung và
quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế nói riêng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là vấn đề rộng, được điều chỉnh bởi
Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2013 và Luật Kinh doanh bất
động sản năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành v.v. Tuy nhiên, trong
khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học, tác giả giới hạn phạm vi
nghiên cứu vào nội dung các quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
của các tổ chức kinh tế theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và các văn
bản hướng dẫn thi hành.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận Mác - Lênin về Nhà nước
và pháp luật; các quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN nói chung và quản lý, sử dụng đất đai nói riêng.
Các phương được sử dụng để giải quyết các vấn đề của đề tài luận văn
bao gồm: Phương pháp triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và các
phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp phân tích, phương pháp bình luận, phương pháp diễn
giải v.v được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế.
- Phương pháp so sánh, phương pháp đánh giá, phương pháp tổng hợp
v.v được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu nội dung chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế theo Luật Đất đai năm 2013.
- Phương pháp tổng hợp, phương pháp quy nạp, phương pháp lập luận
logic được sử dụng tại Chương 3 khi nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả
thực thi các quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh
tế theo Luật Đất đai năm 2013.
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế theo
Luật Đất đai năm 2013.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỔ CHỨC KINH TẾ
1.1. KHÁI NIỆM QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.1. Quan niệm về quyền sử dụng đất
Trước khi giải mã khái niệm về quyền sử dụng đất, chúng ta cần tìm
hiểu thế nào là quyền. Theo Lý luận nhà nước và pháp luật, quyền chủ thể là
cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành. Nói cách khác,
quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định được
pháp luật cho phép. Nói là khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựa chọn giữa
việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc không xử sự như
vậy [36, tr.448]. Quyền chủ thể được hiểu là như vậy thì như thế nào là quyền
sử dụng đất?. Theo quan niệm của pháp luật dân sự Châu Âu truyền thống,
quyền sử dụng là một trong các quyền năng của chủ sở hữu; theo đó, chủ sở
hữu có các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt đối với vật
thuộc sở hữu của mình. Dẫu vậy, khi vật được chủ sở hữu cho người khác
thuê, ủy quyền quản lý hoặc cho mượn v.v thì người này cũng có một số
quyền năng nhất định đối với vật như quyền chiếm giữ, bảo quản vật, quyền
sử dụng vật v.v. Khoa học pháp luật dân sự gọi những quyền này là “vật
quyền” (quyền đối với vật). Ở nước ta do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu
đất đai: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu song
trên thực tế Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao đất, cho thuê đất
cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là người
sử dụng đất) hoặc công nhận quyền sử dụng đất của họ. Người sử dụng đất
được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn giao đất, cho thuê đất. Như
thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất… theo quy định của pháp luật
về đất đai [39, tr.655].
8
- Theo Giáo trình Luật đất đai của Trường Đại học Luật Hà Nội:
Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích
của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước;
Xét về khía cạnh kinh tế, quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan
trọng vì nó làm thỏa mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất
cho các chủ sử dụng trong quá trình sử dụng đất [38, tr.92].
Như vậy, xét trên phương diện chủ quan quyền sử dụng đất là một
quyền năng của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nhằm khai thác các thuộc tính
có ích của đất đai và đem lại lợi ích vật chất nhất định cho họ.
ii) Phương diện khách quan: Quyền sử dụng đất là một chế định quan
trọng của pháp luật đất đai bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật đất đai
do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong
quá trình sử dụng đất như quan hệ làm phát sinh quyền sử dụng đất; quan hệ
về thực hiện các quyền năng của quyền sử dụng đất; quan hệ về bảo hộ quyền
sử dụng đất (giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về quyền sử dụng đất);
Xét trên phương diện này quyền sử dụng đất với tư cách là một chế
định pháp luật bao gồm các quy định làm căn cứ pháp lý phát sinh quyền sử
dụng đất; các quy định về thực hiện quyền sử dụng đất và các quy định về giải
quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về quyền sử dụng đất. Luật đất đai năm
2013 đã dành hẳn một chương (Chương XI - Từ Điều 166 đến Điều 194) quy
định về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; bao gồm các quyền và
nghĩa vụ chung của người sử dụng đất và các quyền và nghĩa vụ cụ thể của
từng nhóm chủ thể sử dụng đất.
trên đất; iii) Hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước về bảo vệ, cải tạo
đất nông nghiệp; iv) Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo
và bồi bổ đất nông nghiệp; v) Được Nhà nước bảo hộ khi bị người khác xâm
phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; vi) Khiếu nại, tố cáo, khởi
10
kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và
những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. Nhóm quyền này có một số
nội dung cơ bản sau đây:
- Về phương diện xác lập và công nhận tư cách của người sử dụng đất,
trước tiên phải đề cập đến "Quyền được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất)". Ý nghĩa của quyền này thể hiện việc Nhà
nước thừa nhận tính hợp pháp của việc sử dụng đất của người sử dụng đất và
xác lập cơ sở pháp lý để người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong
quá trình sử dụng đất. Chỉ những người sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có
tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất mới được Nhà nước cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; Bởi lẽ, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là người đại diện cho chủ sở hữu đất đai song trên thực tế, Nhà nước
lại không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất đai, mà là những người thuê đất,
người được giao đất. Để bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử
dụng đất thì Nhà nước phải xác lập tư cách cho người sử dụng đất thông qua
việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho từng chủ sử dụng đất.
- Pháp luật quy định cho người sử dụng đất có quyền được hưởng các
thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao. Đây là những lợi ích
mà người sử dụng đất thu được khi khai thác các thuộc tính có ích của đất
hoặc đã đầu tư vào đất đai trong quá trình sử dụng đất. Không những thế,
người sử dụng đất còn nhận được sự giúp đỡ của Nhà nước trong việc bồi bổ,
Tuy nhiên, do pháp luật cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử
dụng đất (bao gồm các quyền năng: quyền chuyển đổi, quyền tặng cho, quyền
chuyển nhượng, quyền cho thuê, quyền cho thuê lại, quyền thừa kế QSDĐ;
quyền thế chấp và quyền góp vốn bằng QSDĐ) nên quyền sử dụng đất tách
khỏi quyền sở hữu đất đai và trở thành một loại quyền tương đối độc lập so
với quyền sở hữu;
12
Mặc dù, quyền sử dụng đất được tham gia vào các giao dịch chuyển
nhượng trên thị trường song giữa quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền sử
dụng đất vẫn có sự khác nhau và chúng ta không thể đồng nhất giữa hai loại
quyền này; bởi lẽ, giữa chúng có sự khác nhau cả về nội dung và ý nghĩa, cụ thể:
- Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trước) còn quyền sử dụng
đất đai là quyền phái sinh (có sau) xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc
cho thuê đất, cho phép nhận chuyển QSDĐ hay công nhận QSDĐ;
- Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ còn quyền sử
dụng đất đai là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ;
Tính không trọn vẹn, không đầy đủ của quyền sử dụng đất thể hiện ở
các khía cạnh sau:
Một là, người sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng như Nhà
nước với tính cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai;
Hai là, không phải bất cứ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp
cũng có quyền chuyển đổi, tặng cho, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, cho
thuê lại, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng QSDĐ;
Ví dụ: theo Điều 179 Luật đất đai năm 2013 thì chỉ có hộ gia đình, cá
nhân sử dụng đất không phải là đất thuê mới có quyền chuyển đổi QSDĐ
nông nghiệp trong cùng một xã, phường, thị trấn với hộ gia đình, cá nhân
khác. Còn các chủ thể sử dụng đất khác không được pháp luật cho hưởng
Ở nước ta, một trong những người sử dụng đất là tổ chức kinh tế. Tổ
chức kinh tế là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong đời sống xã hội
cũng như trong các văn bản pháp luật (đặc biệt là các văn bản pháp luật về
kinh tế). Thuật ngữ này được sử dụng nhằm biểu đạt về một chủ thể hoạt
động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Khái
niệm tổ chức kinh tế được giải mã theo những khía cạnh lĩnh vực pháp luật
khác, theo đó:
Thứ nhất, theo pháp luật dân sự thì tổ chức kinh tế được quan niệm là
14
một pháp nhân, đảm bảo các điều kiện sau đây: i) Được thành lập hợp pháp;
ii) Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức
khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; iv) Nhân danh mình tham gia các
quan hệ pháp luật một cách độc lập [23, Điều 84].
Điều 103 Bộ luật Dân sự 2005 quy định pháp nhân là tổ chức kinh tế
bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức kinh
tế khác có đủ các điều kiện quy định tại Điều 84 của Bộ luật này.
Thứ hai, theo pháp luật thương mại, trên thực tế, tổ chức kinh tế tồn tại
dưới các hình thức doanh nghiệp, hợp tác xã, công ty v.v. Tổ chức kinh tế bao
gồm doanh nghiệp được thành lập hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (doanh
nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh); Hợp tác
xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã; các tổ chức
kinh tế thành lập theo luật đầu tư.
Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch,
được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh
doanh [28, Điều 4, Khoản 7].
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp
nghiệp công ích sử dụng đất vào mục đích công cộng như xây dựng vườn hoa,
công viên, nơi vui chơi giải trí công cộng không nhằm mục đích kinh doanh …
mới được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Sở dĩ pháp luật quy
định như vậy là bởi vì tổ chức kinh tế là chủ thể kinh doanh tiến hành hoạt
động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận. Đất đai là
một trong những yếu tố đầu vào không thể thiếu được của hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Điều này có nghĩa là có nghĩa là đất đai tham gia trực tiếp
vào quá trình kinh doanh của tổ chức kinh tế để thu lợi nhuận. Đất đai được
tính giá trị để đem trao đổi trên thị trường, được sử dụng làm tài sản bảo đảm
trong quan hệ thế chấp vay vốn tín dụng hoặc đem góp vốn liên doanh … Do
16
đó, yếu tố đầu vào là đất đai (bao gồm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế sử
dụng đất và giá trị quyền sử dụng đất) được tính vào giá trị của sản phẩm hàng
hóa. Muốn vậy, quyền sử dụng đất phải là tài sản của doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế. Điều này được thực hiện thông qua việc tổ chức kinh tế được Nhà nước
giao đất có thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước cho thuê đất.
Thứ hai, căn cứ vào mục đích sử dụng đất mà tổ chức kinh tế sử dụng
đất được pháp luật quy định nghĩa vụ tài chính khác nhau khi tiếp cận đất đai.
Điều này thể hiện:
Một là, tổ chức kinh tế được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng
nhà ở xã hội, nhà ở cho người có thu nhập thấp hoặc cho người nghèo; đầu tư
tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc vùng có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn v.v.
Trong khi đó, tổ chức kinh tế sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây
dựng nhà ở thương mại không được miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất
khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.
Hai là, doanh nghiệp công ích sử dụng đất vào mục đích công cộng thì