Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của Bộ Luật dân sự Việt Nam 2005 - Pdf 25


MỤC LỤC Trang
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI VIỆT NAM 7
1.1.0. Khái niệm và đặc điểm về chuyển quyền sử dụng đất 7
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về quyền sử dụng đất 7
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm về chuyển quyền sử dụng đất 16
1.2.0. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng
đất theo quy định của pháp luật Việt Nam 18
1.2.1. Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 18
1.2.2. Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 21
1.3.0. Nội dung của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 27
1.4.0. Hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 29
1.4.1. Quan điểm hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết 29
1.4.2. Quan điểm hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm đăng ký 30
1.4.3. Kết luận về hiệu lực của hợp đồng 32
1.5.0. Pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 32
1.5.1. Luật đất đai năm 1993 và các Luật sửa đổi, bổ sung 32
1.5.2. Bộ Luật Dân sự năm 1995 35
1.5.3. Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành 35
1.5.4. Bộ luật Dân sự năm 2005 37
1.5.5. Các quy định về thuế, phí và lệ phí 40


3.3. 0. Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất 93
3.3.1.Giải pháp về rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định của
pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng sử dụng đất 93
3.3.2. Giải pháp về nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật
về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất 98
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất
HĐCNQSDĐ
:
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
QSDĐ
:
quyền sử dụng đất
Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
so với tranh chấp đất đai và tranh chấp dân sự do Tòa án
nhân dân thụ lý trong cả nước từ năm 2007 - 2009
77

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá; là tư liệu sản xuất đặc
biệt trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp; là thành phần quan trọng hàng
đầu của môi trường sống; là địa bàn phân bố các khu dân cư; xây dựng các cơ
sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Đất đai là nguồn tài
nguyên thiên nhiên hữu hạn về diện tích, về số lượng; cố định về vị trí địa lý
và không thể di dời được. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu tạo ra sự khác
biệt về giá trị giữa các mảnh đất có vị trí địa lý khác nhau.
Trong khi đại đa số các quốc gia trên thế giới đều duy trì các hình thức
sở hữu khác nhau về đất đai: Sở hữu nhà nước, sở hữu tư nhân … thì ở Việt
Nam, pháp luật chỉ thừa nhận một hình thức sở hữu duy nhất đối với đất đai:
Sở hữu toàn dân về đất đai. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ra đời kể từ khi
Hiến pháp năm 1980 được ban hành ngày 18 tháng 12 năm 1980. Chế độ sở
hữu đất đai này được duy trì, củng cố và tồn tại ở nước ta từ đó đến nay. Với
việc ra đời chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, hình thức sở hữu tư nhân về đất
đai bị xóa bỏ. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trở thành chủ sử dụng đất khi
được Nhà nước - đại diện chủ sở hữu giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận
QSDĐ đang sử dụng ổn định, hợp pháp. Pháp luật nghiêm cấm việc mua bán,
chuyển nhượng đất đai. Tuy nhiên, nhu cầu khách quan của cuộc sống đòi hỏi

vậy, các quy định về lĩnh vực này là chế định quan trọng của pháp luật dân sự
và pháp luật đất đai. Thời gian vừa qua đã có nhiều công trình nghiên cứu
khoa học về CQSDĐ dưới góc độ pháp lý được công bố mà tiêu biểu phải kể
đến các công trình khoa học sau đây:
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất - Những vấn đề về lý luận và thực
tiễn : Luận án thạc sĩ luật học của Trần Trọng Hùng (1998); 3
- Một số vấn đề về chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở theo quy định của
pháp luật Việt Nam: Luận văn thạc sĩ Luật học của Nguyễn Thị Thu Thuỷ (2004);
- Thực tiễn thi hành pháp luật chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thành
phố Hồ Chí Minh: Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Tiến (1997);
- Hoàn thiện pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta:
Luận văn thạc sĩ luật học của Trần Đăng Vinh (2002);
- Pháp luật về chuyển quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân: Luận
văn thạc sĩ luật học của Phạm Thu Thủy (2001);
- Chế định quyền sử dụng đất theo pháp luật Việt Nam: Luận văn thạc
sĩ luật học của Nguyễn Thị Cam (1997);
- Thị trường quyền sử dụng đất ở Việt Nam: Ths. Bùi Tuyết Mai, Nhà
xuất bản Lao động, xã hội, Hà Nội (2006);
- Địa vị pháp lý của người sử dụng đất trong các giao dịch dân sự,
thương mại về đất đai: Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Quang Tuyến
(2003) v.v;
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên đây, chỉ tìm hiểu CQSDĐ
dưới khía cạnh là một quyền năng của CQSDĐ của tổ chức, hộ gia đình, cá
nhân sử dụng đất hoặc xem xét việc CQSDĐ trên phương diện luật nội dung
(pháp luật đất đai) mà chưa có công trình chuyên khảo nào xem xét, đánh giá
một cách toàn diện, hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn cũng như nội dung của
hợp đồng CQSDĐ theo quy định của BLDS. Trên cơ sở kế thừa những thành

chuyển nhượng QSDĐ, đặt trong mối quan hệ so sánh giữa các quy định hiện
hành và các quy định được ban hành trước đây;
- Thực tế thi hành pháp luật về chuyển nhượng QSDĐ ở nước ta trong
thời gian qua.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu những nội dung cụ thể sau đây: 5
- Nghiên cứu các quy định của BLDS năm 2005 và các văn bản hướng
dẫn thi hành; các quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng
dẫn thi hành về CQSDĐ;
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật chuyển nhượng QSDĐ ở
nước ta hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, Luận văn đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Triết học Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
- Ngoài ra, Luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ
thể sau:
+ Phương pháp phân tích, bình luận, được sử dụng trong Chương 1
tìm hiểu khái luận về HĐCNQSDĐ tại Việt Nam;
+ Phương pháp đánh giá, đối chiếu, so sánh, diễn giải, điều tra được
sử dụng tại Chương 2 thực trạng các quy định của BLDS năm 2005 về
HĐCNQSDĐ;
+ Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng tại Chương 3 khi
nghiên cứu, đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của BLDS năm 2005
về HĐCNQSDĐ.

1.1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất
Đất đai là tài sản đặc biệt, là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá,
nên mọi cuộc cách mạng trong lịch sử đều lấy đất đai làm đối tượng, coi đó là
nhiệm vụ cần giải quyết. Lịch sử nhân loại cho thấy rằng kể từ khi xuất hiện
Nhà nước cũng như khi chuyển từ chế độ này sang chế độ khác không có
quốc gia nào không quan tâm đến vấn đề sở hữu đất đai.
Ở nước ta, lịch sử của quan hệ sở hữu đất đai có nhiều chuyển biến và
tùy thuộc vào từng thời kỳ. Thời kỳ phong kiến, bên cạnh quyền sở hữu tối
cao và tuyệt đối của nhà vua với công thổ quốc gia, Nhà nước phong kiến còn
thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu cụ thể của cộng đồng làng, xã đối với một
số loại đất như tịch điền, công điền, công thổ cũng như sở hữu tư nhân đối với
đất đai [46, tr. 129 -137]. Thời kỳ Pháp thuộc, chế độ sở hữu tư nhân về đất
đai được duy trì và phát triển. Bởi vì, sở hữu tư nhân là đặc trưng của chế độ
tư bản.
Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa ra đời đã ban hành Hiến pháp năm 1946 quy định “quyền tư
hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm” [24, Điều 12]. Hiến pháp
năm 1959 ra đời thay thế Hiến pháp năm 1946 tiếp tục cho phép sở hữu tư
nhân được tồn tại:
“hình thức sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân, hình thức sở
hữu của hợp tác xã tức là hình thức sở hữu tập thể của nhân dân
lao động, hình thức sở hữu của người lao động riêng lẻ, và hình 8
thức sở hữu của nhà tư sản dân tộc” [25, Điều 11].
Tuy nhiên, trong giai đoạn này hình thức sở hữu Nhà nước (Sở hữu
toàn dân) và sở hữu tập thể đối với đất đai được đề cao và phát triển mạnh
mẽ, điển hình là việc hình thành các hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp, bậc cao
và kêu gọi người dân hiến đất tham gia các hợp tác xã. Tuy nhiên, sở hữu tư

hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu xuất phát từ các luận cứ
chủ yếu sau:
Về mặt tư tưởng, việc xây dựng hình thức sở hữu đối với đất đai phải
dựa vào học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, theo đó đất đai phải
được quốc hữu hóa để xóa bỏ mầm mống chế độ người bóc lột người; đồng
thời giúp cho Nhà nước thực hiện tốt công tác quy hoạch và kế hoạch hóa
việc sử dụng đất, nhờ đó chúng ta mới sử dụng đất một cách có hiệu quả và
bảo đảm đưa sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Về mặt chính trị, đất đai là thành quả do công sức, mồ hôi, xương máu
của các thế hệ người Việt Nam trải qua hàng ngàn năm khai phá, bồi bổ và
giữ gìn mới có được vốn đất như ngày nay, vì vậy nó phải thuộc về toàn thể
nhân dân.
Về mặt lịch sử, hình thức sở hữu Nhà nước về đất đai đã hình thành và
tồn tại suốt mấy nghìn năm lịch sử, từ thời kỳ phong kiến, Nhà nước đã nắm
toàn bộ đất đai trong lãnh thổ quốc gia, đồng thời, thiết lập chế độ quản lý sử
dụng đất, ban hành các quy định về nghĩa vụ nộp thuế bắt buộc mọi người
phải thực hiện và Nhà nước có quyền lấy đất để sử dụng vào mục đích công,
có quyền cấp đất cho dân sử dụng.
Về mặt thực tiễn, trước khi xây dựng Hiến pháp năm 1992, Luật Đất
đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003, Nhà nước ta đã thống nhất các hình
thức sở hữu, khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhờ đó, Nhà nước có
cơ sở quy định không thừa nhận đất đã giao cho người khác sử dụng và loại 10
trừ trường hợp tranh chấp về quyền sở hữu đất đai và sự phân cấp về quyền sở
hữu (chỉ phân cấp quyền quản lý Nhà nước đối với đất đai). Vì vậy, nếu như
quy định hình thức sở hữu khác sẽ gây ảnh hưởng, xáo động trong quan hệ đất
đai, từ đó có thể dẫn đến mất sự ổn định chính trị [47, tr. 12-13].
Xét về mặt pháp luật dân sự thì chủ sở hữu tài sản có ba quyền năng:

dụng đất trong quá trình khai thác và sử dụng đất” [20, tr.9].
Các quan điểm trên xét trên một phương diện nào đó đều có các hạt
nhân hợp lý. Tuy nhiên, trải qua 30 năm hình thành và phát triển, QSDĐ tại
Việt Nam đã có sự mở rộng về nội hàm của khái niệm. Trước đây, QSDĐ
được hiểu là quyền khai thác và hưởng những hoa lợi và lợi tức từ đất đai.
Đến nay, QSDĐ đã trở thành một loại quyền về tài sản được chuyển nhượng
và được định đoạt bởi chủ sử dụng. Trong phạm vi nghiên cứu của mình
chúng tôi xin đưa ra khái niệm về QSDĐ với mong muốn góp phần hoàn
thiện lĩnh vực pháp luật này:
Quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản được phái sinh trên cơ
sở quyền sở hữu đất đai do Nhà nước trao cho những chủ thể nhất định và
cho phép chuyển quyền từ chủ thể này sang chủ thể khác theo những hình
thức, điều kiện, trình tự và thủ tục do pháp luật quy định để khai thác công
dụng của đất, hưởng những thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất và
các lợi ích khác khác theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Đặc điểm của quyền sử dụng đất
Với cách hiểu như trên, chúng ta có thể nêu ra các đặc điểm riêng của
QSDĐ như sau:
Thứ nhất, QSDĐ là quyền được phái sinh trên cơ sở quyền sở hữu
đất đai.
Như trên đã phân tích, QSDĐ là một trong ba quyền năng của quyền sở
hữu đất đai. Quyền sử dụng một tài sản nói chung hay đất đai nói riêng trước 12
tiên phải thuộc chủ sở hữu tài sản đó. Người không phải là chủ sở hữu tài sản
chỉ được quyền sử dụng tài sản trong những điều kiện cụ thể:
“Người không phải là chủ sở hữu chỉ có quyền chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình theo
thoả thuận với chủ sở hữu tài sản đó hoặc theo quy định của pháp

sử dụng tài sản, trích nộp một phần lợi ích khai thác tài sản cho chủ sở hữu.
Đối với đất đai, người sử dụng được thực hiện quyền năng này tùy theo
những quy định về mục đích, thời hạn, hạn mức sử dụng, giá thuê QSDĐ, các
thủ tục hành chính về đất đai Đồng thời, muốn nhận được QSDĐ, người sử
dụng phải đáp ứng được những điều kiện nhất định do pháp luật quy định.
Tính đặc thù của QSDĐ còn biểu hiện ở chỗ đây là quyền tài sản gắn
liền với một tài sản đặc biệt là đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Việc giao
QSDĐ cho các đơn vị, cá nhân trên lãnh thổ quốc gia không đồng nghĩa với
việc chia cắt khách thể này. Trái lại, QSDĐ của họ nằm trong một quy hoạch
tổng thể của Nhà nước nhằm khai thác đầy đủ tiềm năng của đất đai.
Phạm vi, mức độ quyền năng của quyền sử dụng các loại đất khác nhau
là khác nhau do pháp luật chia đất đai ra làm nhiều loại khác nhau. Theo pháp
luật Việt Nam, đất đai được chia thành ba nhóm: đất nông nghiệp, đất phi
nông nghiệp và đất chưa sử dụng.
Quyền sử dụng của mỗi loại đất còn khác nhau về thời hạn và hạn mức
sử dụng đất tùy theo tính chất và mục đích sử dụng của chúng. Việc quy định
thời hạn sử dụng đất có ý nghĩa lớn đối với việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của
các chủ thể trong sử dụng đất cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
quản lý đất đai. Bên cạnh đó, quy định hạn mức sử dụng đất có ý nghĩa nâng
cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đất đai, một trong những nguyên tắc
hàng đầu là “sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên đất” [30, Điều11].
Thứ ba, chủ thể của QSDĐ bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật. 14
Chủ thể của QSDĐ bao gồm: các tổ chức trong nước, hộ gia đình, cá
nhân trong nước, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất, cho
thuê đất, công nhận quyền sử dụng đối với đất đang sử dụng ổn định hay cho
phép nhận chuyển QSDĐ. Các chủ thể này được quy định trong Luật Đất đai

đất” [30, Điều 117].
Hai là, hình thức, thủ tục, điều kiện thực hiện các quyền của người sử
dụng đất cũng được pháp luật quy định chặt chẽ.
Thứ năm, QSDĐ theo quy định của pháp luật Việt Nam là quyền có thời
hạn. Bao gồm thời hạn sử dụng ổn định lâu dài và thời hạn xác định. Thời hạn
này được quy định cho từng loại đất phân chia theo mục đích sử dụng.
Thứ sáu, quy chế tài sản áp dụng đối với QSDĐ là đa dạng.
Luật Đất đai năm 2003 phân chia QSDĐ thành ba nhóm: nhóm được
Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất, nhóm được Nhà nước giao có thu
tiền sử dụng đất và nhóm được Nhà nước cho thuê. Nhóm thứ nhất được
chuyển nhượng theo những chế độ không giống nhau đối với những người có
QSDĐ mang thân phận khác nhau (cá nhân, hộ gia đình hoặc tổ chức). Nhóm
thứ hai có thể được chuyển nhượng như bất kỳ tài sản nào được tự do lưu
thông. Còn nhóm thứ ba được phân thành hai nhóm nhỏ: đất thuê trả tiền hàng
năm và đất thuê trả tiền một lần cho cả thời gian thuê. Tính chất tài sản của
QSDĐ thuộc nhóm thứ nhất và nhóm thứ ba có nhiều cấp độ và rất phức tạp:
QSDĐ có thể tồn tại như một tài sản độc lập, nếu thuộc về một người (người
được nhà nước giao đất không thu tiền, được thuê đất), nhưng lại chỉ là một
phần không tách rời của một thể thống nhất có giá trị tài sản (gồm QSDĐ và
quyền sở hữu các tài sản gắn liền với đất) nếu thuộc về một người khác
(người thuê lại tài sản trên đất, ). QSDĐ có thể là một tài sản theo nghĩa đầy
đủ trong một giao dịch (cho thuê lại đất, ); nhưng trong một giao dịch khác, 16
lại là tài sản chiếm hữu được đối với một người mà không chiếm hữu được
đối với một người khác (cho thuê lại tài sản trên đất, ).
Ngoài ra, QSDĐ có nguồn gốc từ nhận chuyển nhượng (có hoặc không
có đền bù) cũng được coi là tài sản. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền đối
với loại tài sản này cũng phải tuân thủ những điều kiện theo quy định của

đất đai thời kỳ này nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai song
trên thực tế do nhu cầu của xã hội, các giao dịch liên quan đến đất đai vẫn
được thực hiện “ngầm”:
“các giao dịch về đất đai trong suốt những năm 1980 và những
năm đầu của thập niên ’90, vì vậy, vẫn âm thầm diễn ra ngoài sự
bảo hộ của pháp luật. Hệ quả tất yếu của các hoạt động thị trường
ngầm là: 1-Làm biến dạng các quan hệ tài sản do tính thiếu công
khai của các giao dịch; 2- Làm phát sinh nhiều tranh chấp về nhà
đất nhưng không có căn cứ pháp lý để giải quyết; 3- Các cơ quan
quản lý không thể theo dõi được biến động của tình hình sử dụng,
phân bố đất đai; 4- Nhà nước thất thu nguồn thuế từ việc chuyển
nhượng quyền sử dụng đất; 5- Tạo ra tính bất ổn định trong đầu
tư” [38, tr. 23].
Nhận thức đúng bản chất của vấn đề, Luật Đất đai năm 1993 và Luật
Đất đai năm 2003 đã góp phần tạo lập cơ sở pháp lý cho các quan hệ dân sự
trong lĩnh vực đất đai được phát triển bình thường. Khoản 3 Điều 73 Luật Đất
đai năm 1993 quy định người sử dụng đất được “chuyển quyền sử dụng đất
theo quy định của pháp luật”, cụ thể: người sử dụng đất được chuyển đổi,
chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất [28, Điều 3].
Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 đã bổ
sung thêm hai quyền năng về chuyển quyền sử dụng đất đó là quyền cho thuê
lại QSDĐ và quyền góp vốn bằng giá trị QSDĐ. Luật Đất đai năm 2003 tiếp 18
tục bổ sung thêm quyền tặng cho QSDĐ.
CQSDĐ theo quy định của pháp luật hiện hành được hiểu là: “Sự
chuyển dịch quyền sử dụng đất từ chủ thể này sang chủ thể khác theo quy
định của Bộ Luật Dân sự và pháp luật đất đai” [40, tr. 320].
1.1.2.2. Đặc điểm của chuyển quyền sử dụng đất

“chuyển nhượng quyền sử dụng đất” mà không dùng thuật ngữ “mua, bán
quyền sử dụng đất”, hai thuật ngữ này khác nhau như thế nào?
Thuật ngữ “chuyển nhượng đất” hoặc “chuyển nhượng ruộng đất” đã
được sử dụng song song với thuật ngữ mua bán đất và được đề cập tại các văn
bản về quản lý đất đai của nước ta từ trước năm 1993, cụ thể: mục 1 phần II
Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 111/CP ngày 14 tháng 4 năm 1977 về
việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất
cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía nam quy định:
“Tất cả những nhà, đất và tài sản vắng chủ của người Việt nam và
ngoại kiều đều do Nhà nước trực tiếp quản lý. Khi người chủ về,
Nhà nước sẽ giải quyết với họ. Không ai được chiếm dụng, tự ý
chuyển nhượng, mua bán nhà cửa, tài sản vắng chủ khi không
được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”.
Mục 9, phần II Thông tư số 55/ĐKTK ngày 05 tháng 11 năm 1981 của
Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường) hướng dẫn
cách giải quyết các trường hợp sử dụng ruộng đất không hợp pháp, không hợp
lý quy định:
“Nói chung, tất cả các việc chuyển nhượng, mua bán đất hoặc đất
của Hợp tác xã chia cấp không được cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền cho phép và tất cả các việc chuyển nhượng, mua bán đất
trước đây thuộc sở hữu tư nhân không được cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền thị thực đều là trái phép. Riêng đối với các tỉnh phía

Trích đoạn Bộ luật Dân sự năm 2005 Các quy định về thuế, phí và lệ phí
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status