ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐÀO ĐỨC THUẬN
TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN
1976 – 1992) NGUỒN SỬ LIỆU GIÁ TRỊ CẦN ĐƯỢC
CÔNG BỐ, GIỚI THIỆU PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU
LỊCH SỬ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Mã số: 5 10 02
Người hướng dẫn: PGS. Nguyễn Văn Hàm
HÀ NỘI - 2004
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 3
CHƯƠNG 1 ................................................................................................. 11
QUỐC HỘI VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC
HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 - 1992) ................................................................. 11
1.1. Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội – một nguồn sử liệu có giá trị ........................................... 11
1.1.1. Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội ......................................... 11
1.1.2. Thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 19761992).................................................................................................................................... 14
1.1.3. Giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) ............................ 21
1.2. Nguyên tắc, phương pháp và các hình thức công bố, giới thiệu tài liệu lưu trữ .................. 23
CHƯƠNG 2 ................................................................................................. 35
TÀI LIỆU PHÔNG LƯU TRỮ QUỐC HỘI (GIAI ĐOẠN 1976 - 1992) . 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 106
PHỤ LỤC 1 ............................................................................................... 116
2
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá đặc biệt của dân tộc. Chính vì vậy, tài
liệu lưu trữ ở Việt Nam đã và đang được nghiên cứu để phục vụ đắc lực cho
việc ban hành các quyết định quản lý, giúp cho các cơ quan, tổ chức có thể
điều hành có hiệu quả các công việc của cơ quan, đơn vị mình. Chúng ta đều
công nhận, cùng với công tác bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ thì công tác tổ
chức, sử dụng tài liệu có hiệu quả (mà công bố, giới thiệu tài liệu là một hình
thức tổ chức sử dụng đặc biệt) là một trong những nhiệm vụ quan trọng của
công tác lưu trữ. Bởi suy cho cùng thì thì việc chúng ta thu thập, bổ sung, tổ
chức khoa học và bảo quản an toàn tài liệu lưu trữ cũng chỉ nhằm mục đích tối
quan trọng là đưa ra phục vụ xã hội, phục vụ công chúng một cách hiệu quả
nhất.
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam, cơ quan quyền lực
nhà nước cao nhất của nước ta là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập
pháp, qua từng thời kỳ hoạt động đã sản sinh ra rất nhiều tài liệu có giá trị quý
báu. Nếu như khối tài liệu này được đem ra nghiên cứu, sử dụng phục vụ các
nhu cầu khác nhau của xã hội một cách nhanh chóng và hợp lý thì sẽ tạo điều
kiện phát huy được tối đa tác dụng của tài liệu lưu trữ đối với đời sống xã hội.
Tài liệu hình thành trong qúa trình hoạt động của Quốc hội thời kỳ
1976-1992 thể hiện quan điểm, chủ trương, đường lối và những kết quả đạt
được của cơ quan có vai trò đặc biệt quan trọng này trong việc hoạch định các
chính sách phát triển đất nước. Đây là giai đoạn mà dân tộc ta thống nhất đất
nước về mặt nhà nước (năm 1976) sau hơn hai mươi năm bị chia cắt. Quốc hội
hội, lịch sử lập hiến, lập pháp, lịch sử tổ chức bộ máy nhà nước...) giai đoạn
1976-1992.
2. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
2
Khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi xác định chủ yếu một số
đối tượng nghiên cứu chính là vấn đề giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc
hội (giai đoạn 1976 - 1992) hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ
Quốc gia III Hà Nội. Việc xác định đối tượng và mục đích nghiên cứu trên
đây đặt ra cho người nghiên cứu vấn đề phải giải quyết những nhiệm vụ chính
sau: Thứ nhất là tìm hiểu và giới thiệu, phân tích một số tài liệu thuộc phông
lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) về thành phần, nội dung, đặc điểm của
các tài liệu đó kèm theo những phân tích, đánh giá về giá trị của chúng. Kết
quả của việc tìm hiểu, phân tích này sẽ giúp cho việc đánh giá một cách chính
xác giá trị của tài liệu thuộc phông lưu trữ Quốc hội như một nguồn sử liệu
chân thực, có độ tin cậy cao, cần được công bố phục vụ cho việc nghiên cứu
lịch sử dân tộc nói chung và lịch sử Quốc hội nói riêng. Thứ hai, trên cơ sở
tìm hiểu thực trạng kể trên, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng công tác công bố, giới thiệu tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn
1976-1992) phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử dân tộc.
3. Phạm vi và nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu về vấn đề công bố học nói chung và nghiên cứu về phông
lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976-1992) nói riêng là một vấn đề hết sức phức
tạp và còn khá mới mẻ đối với bản thân tác giả luận văn. Với khả năng và thời
gian hạn chế nên chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu và giới thiệu tài liệu lưu
trữ hành chính hình thành trong qúa trình hoạt động của Quốc hội giai đoạn
1976 -1992 hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà
Nội. Các loại hình tài liệu khác phông, thuộc giai đoạn lịch sử trước và sau
giai đoạn 1976-1992 không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài. Thêm vào
lịch sử Việt Nam hiện đại” của Phạm Bích Hải, Tạp chí Lưu trữ Việt Nam số
4
4. 2000. Bài viết đã giới thiệu một cách khái quát toàn bộ tài liệu lưu trữ hiện
đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội, trong đó có
một phần nhỏ giới thiệu về phông lưu trữ Quốc hội cùng những đánh giá
bước đầu về giá trị sử liệu của chúng đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt
Nam hiện đại. Bài viết “Tài liệu lưu trữ ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III với
tiềm năng phục vụ các nhu cầu của xã hội” của tác giả Hà Quảng trên Tạp chí
Lưu trữ Việt Nam số 3.2001, trong đó tác giả cũng đã sơ lược giới thiệu thành
phần nội dung tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội cũng như tiềm năng của
chúng đối với việc phục vụ các nhu cầu của xã hội. Một số công trình khoa
học của sinh viên thể hiện qua các khoá luận tốt nghiệp cử nhân ngành Lưu
trữ học và Quản trị văn phòng như của sinh viên Đào Thị Thu Hiền với đề tài
“Tìm hiểu về tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ phông Quốc hội tại Trung tâm
Lưu trữ Quốc gia III”, sinh viên Vũ Thị Ngọc Thuý với đề tài “Chỉnh lý tài
liệu lưu trữ Phông Quốc hội giai đoạn 1946 – 1992 ở Trung tâm Lưu trữ
Quốc gia III (thuộc đề án nâng cấp)”. Một vài bài báo công bố giới thiệu tài
liệu của phông Quốc hội như “Tuyên ngôn của Quốc hội Việt Nam” trên Tạp
chí Lưu trữ Việt Nam số 1.2001 nhân dịp kỷ niệm 55 năm ngày Quốc hội Việt
Nam. Tuy nhiên ở cả hai khoá luận tốt nghiệp này, sinh viên cũng mới chỉ
bước đầu đưa ra những nhận xét về giá trị sử liệu của phông lưu trữ Quốc hội
mà chưa đi sâu vào việc giới thiệu, phân tích về giá trị của những tài liệu ấy để
có thể công bố, giới thiệu phục vụ cho các mục đích khác nhau. Nhìn chung,
trong số các bài viết, công trình khoa học nói trên, các tác giả vẫn chỉ gián tiếp
đề cập đến vấn đề cần phải công bố, giới thiệu những tài liệu đó phục vụ cho
các nhu cầu của xã hội mà chưa có sự nghiên cứu có hệ thống về vấn đề công
bố, giới thiệu những tài liệu này.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trong chương này, chúng tôi trình bày đôi nét về chức năng, nhiệm vụ
và quyền hạn của Quốc hội với vai trò là cơ quan duy nhất ở Việt Nam đại
diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Tiếp đó, chúng tôi đưa ra những
kết quả khảo sát, đánh giá ban đầu về thành phần, nội dung và đặc điểm của
tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992). Trên cơ sở đó, tài liệu
của phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) cũng được đánh giá về giá
trị sử liệu phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử trên một số vấn đề như: nghiên
cứu lịch sử lập hiến, lập pháp, tổ chức và hoạt động của Quốc hội và nghiên
cứu về lịch sử của các ngành và các địa phương. Một số vấn đề về nguyên tắc,
phương pháp và hình thức công bố, giới thiệu tài liệu cũng được trình bày.
Những kết quả nghiên cứu này sẽ giúp chúng tôi có cơ sở để đề xuất những
giải pháp chủ yếu ở chương 3 của luận văn.
Chương 2: Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) - Nguồn
sử liệu quan trọng phục vụ nghiên cứu lịch sử
Là chương chính của luận văn, chúng tôi tập trung phân tích những giá trị
về mặt sử liệu của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội. Đặc biệt, chúng tôi đi sâu vào
giới thiệu những kết quả khảo sát và kèm theo một số phân tích giá trị tiềm năng
của phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992) trong việc phục vụ nghiên
cứu lịch sử trên các khía cạnh như nghiên cứu lịch sử lập hiến và lập pháp Việt
Nam (giai đoạn 1976 - 1992) và nghiên cứu về lịch sử tổ chức và hoạt động của
Quốc hội, nghiên cứu lịch sử của các ngành và các địa phương. Đóng góp chính
của chương này là giới thiệu được cho những người nghiên cứu lịch sử những
thông tin giá trị về một bộ phận tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội. Với giá trị to
lớn này, nếu được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu để
công bố, giới thiệu kịp thời sẽ phát huy được giá trị đặc biệt của tài liệu phông
lưu trữ này.
7
(GIAI ĐOẠN 1976 - 1992)
1.1. Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội – một nguồn sử liệu có giá trị
1.1.1. Quốc hội và chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Quốc hội
Quốc hội là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, được thừa nhận
trong Hiến pháp của nước Việt Nam. Trong cả 4 bản Hiến pháp (Hiến pháp
năm 1946, 1959, 1980, 1992) đã được ban hành kể từ khi nhà nước Việt Nam
độc lập (năm 1945) đều xác lập vị trí này của Quốc hội. Kể từ khi xuất hiện
lần đầu tiên trong Hiến pháp 1946 với tên gọi là Nghị viện nhân dân cho đến
Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001), Quốc hội là cơ quan quyền lực duy nhất
ở Vịêt Nam có quyền lập hiến và lập pháp. Dù có sự thay đổi về tên gọi và
một số chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thể hiện qua các bản Hiến pháp,
song tập trung lại, theo Hiến pháp 1992 được Nghị quyết số 51/2001/QH10 về
việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992 thông qua và theo Luật
Tổ chức Quốc hội được Quốc hội thông qua năm 2001 thì Quốc hội có một số
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn sau đây.
1.1.1.1. Chức năng của Quốc hội
9
- Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền
lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc
hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
- Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại,
nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên
tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội
và hoạt động của công dân.
- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động
của Nhà nước.
1.1.1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội
qua ngày 25.12.2001 và được Lệnh của Chủ tịch nước công bố ngày
07.01.2002 đã khẳng định một cách vắn tắt chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn
của Quốc hội như “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ
quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội
quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế
– xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ
chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của
công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của nhà nước”[20; 7]. Chính vì vị trí và tầm quan trọng hết sức đặc biệt
như vậy, toàn bộ tài liệu hình thành trong qúa trình hoạt động của Quốc hội đã
được lập thành phông lưu trữ. Hiện nay theo quy định hiện hành, toàn bộ tài
liệu của phông lưu trữ Quốc hội có thời gian từ 1946 đến 1992 hiện đang được
bảo quản thống nhất tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội.
11
1.1.2. Thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội
(giai đoạn 1976-1992).
Theo Quyết định số 54/QĐ - TCCB ngày 26.6.1995 của Cục Lưu trữ
Nhà nước (nay là Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước) thì Trung tâm Lưu trữ
Quốc gia III Hà Nội với chức năng chủ yếu là “thu thập, bổ sung, bảo quản an
toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc từ
Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay”. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III
Hà Nội là một trung tâm lưu trữ “mở”, tức là hàng năm trung tâm đều tổ chức
tiếp nhận tài liệu đã đến hạn nộp lưu theo quy định. Nguồn tài liệu nộp lưu là
các cơ quan quản lý nhà nước ở trung ương đóng trên địa bàn lãnh thổ từ
Quảng Bình trở ra phía Bắc. Tài liệu lưu trữ hiện đang được bảo quản tại
Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội có giá trị đặc biệt, có tầm ảnh hưởng
- Đợt 4: Ngày 25.8.1983 gồm 53 cặp bao gồm 50 cặp về Dự thảo Hiến
pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 và 03 tập công văn
lưu năm 1978.
- Đợt 5: Tháng 7.1991 gồm 212 cặp bao gồm tài liệu từ khoá I đến khoá
VI và 41 cặp tài liệu trong tình trạng bó gói.
- Đợt 6: Ngày 06.8.1997 gồm 289 hộp tài liệu của Quốc hội khoá VI
đến Khoá VIII có thời gian từ 1976 – 1992.
Hầu hết tài liệu thu được về Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội ban
đầu đều trong tình trạng bó gói, chưa được chỉnh lý hoặc mới chỉ được sắp
xếp ở mức sơ bộ. Tính đến thời điểm hiện nay, toàn bộ tài liệu của phông
Quốc hội đã được chỉnh lý làm 3 đợt vào các năm 1980, 1982, 1991 với tổng
số hồ sơ được lập là 6842 hồ sơ, hầu hết các hồ sơ đều có giá trị bảo quản vĩnh
viễn, một số ít hồ sơ có thời hạn bảo quản lâu dài và tạm thời. Kết quả khảo
13
sát ban đầu cho thấy toàn bộ khối lượng tài liệu này phản ánh quá trình hoạt
động của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ Quốc hội
khoá I (1946) đến Quốc hội khoá VIII (từ 6.1987 đến 1992), bao gồm nhiều
loại hình tài liệu khác nhau như tài liệu hành chính (chiếm đa số), phim ảnh
ghi âm… Trong đó nhìn chung thành phần và nội dung của tài liệu phông lưu
trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 – 1992) đã phản ánh khá đầy đủ hoạt động của
Quốc hội trên tất cả các mặt công tác. Cụ thể là toàn bộ tài liệu của phông lưu
trữ Quốc hội giai đoạn (1976 - 1992) được chia thành các khoá VI, VII, VIII.
Trong mỗi khoá đó, căn cứ vào những nét tương đồng của nội dung tài liệu, có
thể tập trung thành một số nhóm như:
- Tài liệu bầu cử đại biểu Quốc hội: Tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc
hội chiếm số lượng khá lớn trong giai đoạn 1976 – 1992, phản ánh đầy đủ quá
trình bầu cử Quốc hội các khoá VI, VII, VIII. Các tài liệu đó phản ánh quá
trình bầu cử trên phạm vi toàn quốc từ giai đoạn chuẩn bị đến khi kết thúc bao
do nhân dân cả nước bầu ra, đại diện cho nguyện vọng và quyền lợi của nhân
dân lao động. Một trong những hoạt động quan trọng nhất của đại biểu Quốc
hội là tham gia vào các kỳ họp của Quốc hội, thảo luận trong các tổ trong các
kỳ họp của Quốc hội theo các nhiệm vụ của người đại biểu Quốc hội, chuẩn bị
các tham luận trình bày tại các kỳ họp. Nhóm tài liệu về hoạt động của các đại
biểu Quốc hội còn có tài liệu phản ánh về các kiến nghị của các đại biểu Quốc
hội, tài liệu ghi lại kết quả làm việc, tiếp xúc cử tri của các đoàn đại biểu Quốc
hội với các cơ quan, các địa phương, tài liệu phản ánh kết quả làm việc trong
các chuyến viếng thăm của đoàn đại biểu Quốc hội nước ta tới các nước…
- Tài liệu về hoạt động của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (Hội đồng Nhà
nước) và Văn phòng Quốc hội: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội theo Luật Tổ
15
chức Quốc hội, là cơ quan làm việc thường xuyên nhất của Quốc hội, được
Quốc hội giao cho một số quyền hạn nhất định giữa hai kỳ họp của Quốc hội,
được quyền ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật. Văn phòng Quốc
hội như chúng ta biết là cơ quan giúp việc thường xuyên cho tất cả các hoạt
động của Quốc hội. Do vậy, tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của
hai cơ quan này đề cập đến rất nhiều vấn đề quan trọng và chiếm số lượng khá
lớn trong toàn bộ tài liệu trong phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 –
1992). Tài liệu của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội cho
thấy rất nhiều nội dung có giá trị như kế hoạch, báo cáo công tác của Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội và Văn phòng Quốc hội, hồ sơ về các phiên họp của Uỷ
ban Thường vụ Quốc hội (Hội đồng Nhà nước), tài liệu đề cập đến vấn đề ân
giảm án, đặc xá cho phạm nhân.
- Tài liệu về hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban thường
trực của Quốc hội (chủ yếu của Uỷ ban pháp luật và Uỷ ban đối ngoại): Hội
đồng dân tộc và các Uỷ ban chuyên môn là các cơ quan giúp việc của Quốc
hội theo lĩnh vực hoặc nhóm lĩnh vực được giao. Kết quả khảo sát, nghiên cứu
năng và các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Tuy không phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài, song bên cạnh
khối tài liệu hành chính có dịp tiếp cận được, chúng tôi nhận thấy qua một số
tài liệu tham khảo còn có một số lượng không nhỏ tài liệu phim ảnh (bao gồm
khoảng gần 2000 tấm ảnh ghi lại các hoạt động quan trọng của Quốc hội và
các cơ quan của Quốc hội…), tài liệu ghi âm ghi lại các bài phát biểu, bài nói
của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, Quốc hội trong các kỳ họp của
Quốc hội. Nhóm tài liệu này cùng với tài liệu hành chính, nếu được công bố,
17
giới thiệu có hiệu quả sẽ là nguồn sử liệu quan trọng giúp cho việc nghiên cứu
khoa học và nghiên cứu lịch sử.
Về đặc điểm của tài liệu: Tài liệu phông lưu trữ Quốc hội sau khi được
giao nộp vào Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III Hà Nội đều được tổ chức khoa
học và có chế độ bảo quản an toàn. Tất cả tài liệu hành chính của Phông Quốc
hội được hệ thống hoá theo phương án Thời gian (Khoá) – Cơ cấu tổ chức,
một phương án áp dụng rất hợp lý khi hệ thống hóa tài liệu của phông lưu trữ
này. Có thể nói hầu hết tài liệu của phông Quốc hội nói chung (giai đoạn 1976
– 1992) nói riêng đều là bản chính, bản gốc, có giá trị pháp lý nên có độ tin
cậy cao.
Nội dung của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội có một vị trí đặc biệt quan
trọng trong toàn bộ thành phần Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam. Xét dưới
góc độ là nguồn sử liệu chữ viết thì tài liệu lưu trữ của phông Quốc hội là
những chứng cứ lịch sử phản ánh sự ra đời, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
và hoạt động của Quốc hội như một cơ quan đại diện cho nhân dân, cơ quan
duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp cũng như quyền quyết định những
chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại, các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã
hội, an ninh quốc phòng, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động
1.1.3. Giá trị của tài liệu phông lưu trữ Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992)
Về tính xác thực và độ tin cậy đặc biệt của tài liệu lưu trữ so với các
nguồn tài liệu khác, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với tác giả Lâm Bá Nam – Vũ
Thị Phụng trong bài viết “Sử dụng tài liệu lưu trữ trong việc nghiên cứu và
biên soạn lịch sử địa phương” trên tạp chí Lưu trữ Việt Nam số 3.1991 khi
khẳng định về tính chân thật, không thể thay thế của tài liệu lưu trữ trong việc
phục vụ nghiên cứu lịch sử địa phương. Đó là “có thể coi tài liệu lưu trữ là
19
những nhân chứng lịch sử, bởi lẽ nó được sản sinh ra gần như đồng thời với
các sự kiện, hiện tượng lịch sử và do nhu cầu khách quan của mọi hoạt động
trong quá khứ… giúp chúng ta tiếp cận với sự thật lịch sử” [ 28; 4].
Quả đúng vậy, với những đặc điểm đặc biệt của tài liệu lưu trữ so với
những nguồn sử liệu, tư liệu khác, tài liệu lưu trữ hoàn toàn là những chứng cứ
quan trọng nhất giúp cho việc nghiên cứu lịch sử trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội.
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sẽ xem xét giá trị của tài liệu
phông lưu trữ Quốc hội phục vụ cho nghiên cứu lịch sử trên cơ sở phân tích
thành phần, nội dung của tài liệu theo lịch sử từng khoá Quốc hội, từ khóa VI
(6.1976 đến 6.1981), khoá VII (6.1981 đến 6.1987), khoá VIII (6.1987 đến
1992). Từ kết quả phân tích đó, chúng tôi sẽ có sự so sánh, khái quát giá trị
của tài liệu lưu trữ phông Quốc hội (giai đoạn 1976 – 1992) phục vụ cho việc
nghiên cứu lịch sử.
Qua một thời gian nghiên cứu tư liệu và khảo sát tài liệu trực tiếp trên
một số tài liệu lưu trữ của phông Quốc hội (giai đoạn 1976 - 1992), chúng tôi
nhận thấy giá trị tài liệu của phông lưu trữ này có thể phục vụ cho nhiều khía
cạnh của nghiên cứu lịch sử. Chẳng hạn như có thể khái quát về giá trị sử liệu
của những tài liệu này theo một số vấn đề sau:
- Tài liệu của phông lưu trữ Quốc hội giúp cho việc nghiên cứu lịch sử
các nội hàm của thuật ngữ “công bố học” là chưa thực sự rõ ràng, hầu như nó
mới chỉ phản ánh được một phần của công bố học theo cách hiểu của chúng ta
ngày nay.
Theo các nhà công bố học Liên Xô trước đây và Liên bang Nga hiện
nay thì “công bố học là một môn khoa học bổ trợ cho khoa học lịch sử, nghiên
21
cứu lý luận và phương pháp công bố các sử liệu chữ viết (văn tự)” [21; 10].
Theo cách hiểu này thì định nghĩa này có hai phần tách biệt, thể hiện hai sự
khẳng định. Một là “công bố học là một môn khoa học bổ trợ cho khoa học
lịch sử”. Khoa học về công bố chưa phải là một khoa học độc lập, nó nằm
trong hệ thống các khoa học bổ trợ cho khoa học lịch sử khác như lưu trữ học,
bảo tàng học... Hai là “...nghiên cứu lý luận và phương pháp công bố các sử
liệu chữ viết (văn tự)”. Cách khẳng định này cho thấy khoa học công bố đã
được xác định tương đối rõ ràng hơn về đối tượng nghiên cứu. Đó là giới hạn
nghiên cứu lý luận và phương pháp công bố các sử liệu chữ viết.
Với các nhà lưu trữ học Việt Nam, kết hợp các kết quả nghiên cứu của
các nhà lưu trữ học thế giới, đặc biệt là các nhà lưu trữ học Xô Viết và các
nước xã hội chủ nghĩa với thực tiễn Việt Nam đã đưa ra cách định nghĩa hoàn
chỉnh hơn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam hơn. Đó là “Công bố học là môn
khoa học nghiên cứu các vấn đề về công bố các tài liệu thành văn trong quá
khứ”. Còn theo Từ điển Lưu trữ Việt Nam thì: Công bố tài liệu là dựa trên các
nguyên tắc và phương pháp của hoạt động công bố học để truyền đạt lại tài
liệu dưới các hình thức khác nhau nhằm phục vụ cho các đối tượng độc giả
khác nhau. [3]. Chúng tôi cho rằng tuy cách định nghĩa này chưa hẳn đã phản
ánh đầy đủ các nội hàm cần thể hiện song nó đã khái quát hoá được các vấn
đề, góc cạnh cần nghiên cứu của công bố học.
Nhìn chung, về công bố học từ trước đến nay đã có nhiều cách hiểu
khác nhau nhưng đều tập trung vào các vấn đề như khoa học công bố không