Các biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại - Pdf 34

LỜI NÓI ĐẦU
Hoat động ngân hàng đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển
kinh tế của mỗi quốc gia. Một nền kinh tế không thể tăng trưởng và phát triển bền
vững nếu thiếu đi sự phát triển của hoạt động ngân hàng. Mỗi quốc gia trong nền kinh
tế thị trường ngày nay đều cần phải có một hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và
có hiệu quả để điều hòa quá trình lưu thông tiền tệ giữa các tác nhân trong nền kinh tế.
Từ khi hình thành đến nay, hoạt động ngân hàng ở Việt Nam không ngừng phát
triển mạnh mẽ và có những bước tiến đáng ghi nhận. Tuy vậy, vẫn còn nhiều bất cập
trong hệ thống ngân hàng ở Việt Nam, điển hình là hoạt động quản trị rủi ro còn nhiều
yếu kém. Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là một điều không tránh khỏi, và nếu
không được quản trị một cách hợp lý sẽ đem lại những hậu quả không đáng có, tác
động xấu đến sự phát triển kinh tế. Chính vì vậy, việc nhận thức đúng bản chất của rủi
ro, từ đó tìm ra các biện pháp nhằm hạn chế tối thiểu rủi ro trong các hoạt động ngân
hàng đóng một vai trò vô cùng quan trọng.
Trên cơ sở nhận thức được tính cấp bách của vấn đề này, em xin chọn đề tài “Các
biện pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại”,
qua đó xin đưa ra một số giải pháp hạn chế rủi ro, xây dựng một hệ thống ngân hàng
phát triển ngày càng vững mạnh.


Chương 1: Lý luận chung về rủi ro trong hoạt động kinh doanh
của ngân hàng thương mại

1.1.
Tổng quan về hoạt động ngân hàng
1.1.1. Khái niệm hoạt động ngân hàng

Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực
tiền tệ, tín dụng, nó cung cấp một số dịch vụ cho khách hàng và ngược lại nó nhận tiền
gửi của khách hàng với các hình thức khác nhau. Nghiệp vụ kinh doanh của Ngân
hàng thương mại rất phong phú và đa dạng cùng với sự phát triển của khách hàng,

chính mà với sự chuyên môn hóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu
nhập cho người tiết kiệm từ đó mà khuyến khích được tiết kiệm, đồng thời giảm phí
tổn tín dụng cho người đầu tư và cũng khuyến khích đầu tư. Trung gian tài chính đã
tập hợp những người tiết kiệm và đầu tư, vì vậy giải quyết được mâu thuẫn của quan
hệ tài chính trực tiếp.
Đồng thời do sự phân bổ không đều thông tin và năng lực phân tích thông tin
thường được gọi là tình trạng “thông tin không cân xứng” làm giảm tính hiệu quả của
thị trường và Ngân hàng có năng lực để làm giảm đến mức thấp nhất những sai lệch
đó.
1.1.2.2.

Tạo phương tiện thanh toán
Tiền-Vàng có một chức năng quan trọng là làm phương tiện thanh toán trong trao
đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, song khi nền sản xuất phát triển cao hơn, lượng phân
phối qua lại ngày càng nhiều thì trong thanh toán bằng tiền mặt, vàng gặp nhiều khó
khăn và Ngân hàng đã tạo phương tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ cho
khách hàng, và với những ưu điểm nhất định nó đã trở thành phương tiện thanh toán
rộng rãi được nhiều người chấp nhận. Ngoài ra giấy nhận nợ đó còn được thay thế tiền
kim loại làm phương tiện lưu thông, phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy.
Ngày nay giấy nhận nợ đã được phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau như:
Séc, kỳ phiếu... đã giúp cho việc thanh toán được diễn ra nhanh gọn và có hiệu quả
hơn.


1.1.2.3. Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc
gia. Thay mặt cho khách hàng, Ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hóa và
dịch vụ, để việc thanh toán nhanh chóng thuận tiện và tiết kiệm chi phí, Ngân hàng
đưa ra cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán như thanh toán bằng Sec, ủy nhiệm
chi, nhờ thu... Cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và cung cấp tiền


Rủi ro là yếu tố khách quan, nên người ta không thể nào loại trừ được hẳn mà chỉ có
thể hạn chế sự xuất hiện và những tác hại của chúng gây ra.


1.2.2. Phân loại rủi ro

Rủi ro của ngân hàng có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau song đều có
bản chất chung, đó là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải gánh chịu.
Có một số quan điểm cho rằng rủi ro là toàn bộ tổn thất có thể xảy ra đối với
ngân hàng. Một số khác lại cho rằng rủi ro chỉ là những tổn thất có thể xảy ra ngoài dự
kiến. Ví dụ ngân hàng đang chuyển hoán từ nguồn ngắn hạn sang cho vay trung và dài
hạn sẵn sàng chấp nhậnchi phí nguồn vốn cao hơn khi lãi suất thay đổi để thu lãi cao
hơn. Chỉ khi nào lãi suất nguồn tăng vượt dự kiến làm lợi nhuận của ngân hàng giảm
sút thì lúc đó mới nảy sinh rủi ro lãi suất. Như vậy rủi ro của ngân hàng phải gắn liền
với giảm sút thu nhập ngoài dự kiến.
Phân chia rủi ro theo các loại tài sản gồm có: rủi ro trong quản lý và kinh doanh
ngân quỹ, rủi ro tín dụng, rủi ro trong quản lý và kinh doanh chứng khoán, rủi ro trong
cho thuê và rủi ro đối với các tài sản khác của ngân hàng.
Phân chi rủi ro theo nguyên nhân – các nhân tố tác động – gồm có rủi ro do người
vay không trả nợ cho ngân hàng, rủi ro do lãi suất thay đổi, rủi ro do tỷ giá thay đổi,
rủi ro do các nguyên nhân khác như mất trộm, cháy, giấy tờ giả… Sau đây là cách
1.2.2.1.

phân loại rủi ro phổ biến:
Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do
khách hàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ cả vốn và lãi.
Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho
vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro. Một số


ứng nhu cầu thanh khoản hoặc làm cho ngân hàng mất khả năng thanh khoản.
Rủi ro tác nghiệp
Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân
hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do

1.2.2.6.

các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng.
Các rủi ro khác
Các rủi ro khác là khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh toán,

hỏa hoạn…
1.2.3. Ảnh hưởng của rủi ro tới hoạt động của ngân hàng
Rủi ro gắn liền với hoạt động ngân hàng thương mại, phản ánh các tình huống bất
thường xảy ra, có thể gây tổn thất cho ngân hàng. Khi tổn thất xảy ra, trước hết dẫn
đến thu nhập của ngân hàng giảm sút, dẫn đến tỷ suất lợi tức và thị giá cố phiếu của
ngân hàng giảm. Việc cổ phiếu giảm giá, nếu không được kịp thời chấn chỉnh, sẽ có
thể kéo theo việc bán hàng loạt cổ phiếu trên thị trường, là điểm mở đầu của quá trình
mua lại, sáp nhập, hoặc thay thế ban quản lý ngân hàng. Rủi ro tín dụng, và lãi suất có
thể dẫn đến rủi ro thanh khoản với việc hàng loạt người rút tiền ra khỏi ngân hàng,
buộc ngân hàng phải đóng cửa và tuyên bố phá sản. Tổn thất ở mức thấp, làm giảm
quỹ dự phòng, giảm vốn và quỹ của ngân hàng. Để đối phó với tình huống trên, ngân
hàng có thể phải giảm tiền lương (hoặc chi phí khác), giảm lao động…
1.2.4. Các nguyên nhân gây ra rủi ro

Có nhiều nguyên nhân gây rủi ro cho ngân hàng.
Thứ nhất, do khách hàng: làm ăn thua lỗ hoặc kém hiệu quả, cố tình chây ì hoặc
lừa đảo… dẫn đến không trả được nợ cho ngân hàng.


suất đầu ra và lãi suất đầu vào.
Một lưu ý lớn hiện nay của hệ thống NHTM là vấn đề rủi ro tín dụng. Nợ xấu là
một tiêu chí để xem xét tầm quan trọng của vấn đề này ở hệ thống ngân hàng đang ở
mức độ nào. Đặc biệt là việc nhiều NHTM có công ty mẹ, cổ đông lớn, cổ đông chiến
lược là các tập đoàn, các tổng công ty lớn, các doanh nghiệp lớn. Điều này có thể tạo
ra mối nghi ngờ về việc một số ngân hàng có thể cố tình nới lỏng điều kiện cho vay
đối với một số cá nhân hoặc tổ chức vì một số lý do nào đó, điều này có thể dễ dẫn tới
những rủi ro tín dụng.


Theo tính toán của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu trong toàn ngành ngân
hàng ở thời điểm cuối năm 2009 ở mức 2,5% (tỷ lệ này năm 2008 là 2,1%), tỷ lệ nợ
xấu đối với một số khoản vay đặc biệt ở mức khoảng 6,5%. Như đã phân tích việc tỷ
lệ nợ xấu tăng là yếu tố quan trọng cho thấy “sức khỏe” của toàn khối ngân hàng. Hơn
nữa nhiều chuyên gia cho rằng cách phân loại các khoản vay và dự phòng của Việt
Nam không thể khắt khe như theo quy định của chuẩn mực lập báo cáo tài chính quốc
tế (IFRS). Chính vì vậy các ngân hàng Việt Nam phải đương đầu với nhiều khó khăn
liên quan đến chất lượng tài sản và vốn, tăng trưởng tín dụng cao sẽ dẫn đến chất
lượng các khoản vay đi xuống, các quy định thường lỏng lẻo hơn khi ngân hàng mở
rộng quá nhanh.
Về rủi ro tỷ giá hối đoái, tỷ giá tại Việt Nam được giữ ổn định tương đối trong
một thời gian dài. Biến động bình quân 1năm chỉ khoảng 1%, ngay cả khi đồng USD
có nhiều biến động lớn trên thị trường thế giới. sự ổn định đó làm mờ nhạt đi những
rủi ro về tỷ giá, thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, khi mà quá
trình hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên sâu rộng, hội nhập tỷ giá là
không thể tránh khỏi.
Khi cơ chế tỷ giá linh hoạt, thì rủi ro tỷ giá sẽ xảy ra thường xuyên hơn, mức độ
ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ lớn hơn. thời gian
2.1.2. Tình hình quản trị rủi ro tại một số ngân hàng tại Việt Nam
2.1.2.1.

hàng tăng từ 2.994 tỷ đồng cuối năm trước lên 3.738 tỷ đồng.
Ở khối ngân hàng TMCP tư nhân, dù số lượng nợ xấu ít hơn nhưng cũng không
nằm ngoài xu hướng tăng lên. Ngân hàng Á Châu (ACB), một trong những nhà băng
có tỉ lệ nợ xấu trong năm 2011 ở mức thấp thì sau 3 tháng đầu năm cũng đã ghi nhận
sự sụt giảm khá mạnh chất lượng các khoản cho vay khách hàng.
Cụ thể, theo thuyết minh báo cáo tài chính giữa niên độ đề ngày 20/4/2012, tổng
dự nơ cho vay khách hàng của nhà băng này chỉ tăng chưa tới 1,8% nhưng nợ xấu lại
tăng tới 38,8%, từ 873,4 tỷ đồng của cuối năm 2011, lên 1.212,5 tỷ đồng. Tại Đại hội
cổ đông ngày 30/3 mới đây của ACB, TGĐ Lý Xuân Hải cho biết khoảng 60% nợ xấu
của ngân hàng có liên quan đến bất động sản.


Tình hình nợ xấu tăng cũng được ghi nhận ở một số ngân hàng khác như
Eximbank (tăng 14,5%, từ 1.202,9 tỷ đồng lên 1.377,2 tỷ đồng) và SHB (tăng 18,17%,
lên 769,8 tỷ đồng). Trong đó đáng chú ý là dù dư nợ giảm tới hơn 5.000 tỷ đồng so với
đầu năm nhưng nhà tài trợ chính cho VưLeague lại ghi nhận thêm hơn 174 tỷ đồng nợ
xấu.
Trên đây mới chỉ là số liệu nợ xấu của 5 ngân hàng đã công bố báo cáo tài chính
quý 1. Trước đó cả 5 đơn vị này đều được NHNN xếp nhóm 1 về tăng trưởng tín dụng,
nghĩa là những ngân hàng có tình hình tài chính lành mạnh, khả năng quản trị tốt và
được cấp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng 17%.
Tình hình quản trị rủi ro tại ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

2.1.2.2.

 Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất trong hoạt động kinh doanh của tập đoàn, do đó
ban lãnh đạo quản lý rủi ro tín dụng cho tập đoán một cách rất cẩn trọng.
Tập đoàn kiểm soát rủi ro tín dụng bằng việc áp dụng các hạn mức đối với các rủi

phát hành thư tín dụng và các hợp đồng bảo lãnh tài chính được thực hiện theo các quy
trình đánh giá và phê duyệt tín dụng như đối với các khoản cho vay và tạm ứng cho
khách hàng trừ khi khách hàng ký quỹ 100% cho các cam kết có liên quan.
Bảng tổng mức tối đa có rủi ro tín dụng chưa tính đến tài sản thế chấp hoặc các
biện pháp giảm thiểu rủi ro:



Bảng tài sản tài chính nội bảng có rủi ro tín dụng:


<Nguồn: Báo cáo tài chính 2011 của NH TMCP Á Châu>


 Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất liên quan đến dòng tiền là rủi ro khi dòng tiền trong tương lai của
công cụ tài chính diễn biến bất thường do những biến động của lãi suất thị trường. Rủi
ro lãi suất liên quan đến giá trị hợp lý là rủi ro khi giá trị của các công cụ tài chính biến
động do sự thay đổi của lãi suất thị trường. Tập đoán quản lý rủi ro lãi suát bằng cách
theo dõi định kỳ hàng tháng mức độ không phù hợp của lãi suất theo từng kỳ hạn.


Bảng quản lý rủi ro lãi suất tại NH TMCP Á Châu ngày 31/12/2011:



<Nguồn: Báo cáo tài chính 2011 của NH TMCP Á Châu>


Năm 2011, lợi nhuận của một số ngân hàng đã công bố tốt hơn so với năm 2010
như Vietinbank (tăng 77,62%), Eximbank (tăng 68,6%), SHB (tăng 50,82%), MBB
(tăng 29,03%)...CTG và MBB có tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao với mức tăng lần
lượt là 25,25% và 31,26%. ACB, EIB, VCB... có tốc độ tăng trưởng tín dụng từ 17 ư
20%. Đối với mảng huy động vốn, bốn ngân hàng là ACB, CTG, MBB, và SHB có tốc
độ tăng trưởng huy động vốn trên 20%
Đạt được thành tựu đó một phần là do quản trị rủi ro ở các ngân hàng được coi
trọng. Một số ngân hàng lớn đã và đang từng bước xây dựng bộ phận quản trị rủi ro
như NHTM CP Á Châu (ACB), NHTM CP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank),…
Bên cạnh đó, một số ngân hàng ở Việt Nam đã áp dụng các công cụ quản trị rủi
ro: sử dụng các công cụ phái sinh, thiết lập chính sách lãi suất sao cho phù hợp với cơ
chế lãi suất và những biến động của thị trường…
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân
 Hạn chế

Nhìn chung, ngoại trừ một số ngân hàng lớn đã áp dụng thành công các công cụ
để quản trị rủi ro, tình hình quản trị rủi ro tại các ngân hàng ở Việt Nam vẫn còn nhiều
yếu kém. Tỷ lệ nợ xấu có xu hướng tăng do thị trường bất động sản biến động thất
thường, tình trạng đầu cơ còn phổ biến… dẫn đến nguy cơ rủi ro tín dụng là rất cao.
Nhiều ngân hàng nhỏ gặp khó khăn trong thanh khoản, đối mặt với nguy cơ phá sản.
Rủi ro tác nghiệp trong hệ thống ngân hàng Việt Nam còn khá phổ biến.
 Nguyên nhân
- Đa phần các NHTM chưa xây dựng được về mặt tổ chức và quy trình quản lý rủi ro.
-

Chính sách tín dụng còn khá nhiều thiếu sót.
Hệ thống thông tin quản lý còn thiếu đồng bộ. Các cán bộ và nhân viên ngân hàng còn

-


phù hợp để kiến nghị, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách, chế độ.
3.1.2. Nâng cao chất lượng thẩm định khách hàng

Trong nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa doanh nghiệp và Ngân hàng ngày
cành được khẳng định. Doanh nghiệp cần Ngân hàng bên cạnh để san bằng sự bất
thường về nguồn vốn thiếu hoặc thừa, ngược lại doanh nghiệp được coi là chỗ dựa và


là động lực để Ngân hàng tồn tại và phát triển. Ngân hàng lựa chọn doanh nghiệp từ
các tiêu chuẩn cần phải có để thành lập quan hệ tín dụng như: tư cách, năng lực hoạt
động, sức mạnh tài chính, điều kiện hoạt động và tài sản đảm bảo. Trong đó năng lực
hoạt động và sức mạnh tài chính thể hiện cho khả năng tài chính của doanh nghiệp, là
yếu tố cơ bản quyết định sự kết dính mối quan hệ.
3.1.3. Mở rộng cạnh tranh
3.1.3.1.
Mở rộng quan hệ tín dụng nhằm phân tán rủi ro

Hiện nay, phạm vi hoạt động tín dụng của các Ngân hàng còn hẹp, phần lớn là
các doanh nghiệp Nhà nước, vốn cho vay lớn nhưng chưa năng động. Các Ngân hàng
thương mại cần phải mở rộng quan hệ tín dụng với tất cả các thành phần kinh tế, đặc
biệt là kinh tế ngoài quốc doanh.
Biện pháp phân tán rủi ro là tránh tập trung quá lớn vào một lĩnh vực đầu tư, vào
một mặt hàng không có sức mạnh cạnh tranh... để đến khi doanh nghiệp không có khả
năng trả nợ thì Ngân hàng sẽ không chịu ảnh hương lớn. Vì thế, các NHTM phải phân
tán rủi ro bằng cách cho vay vào nhiều đối tượng, nhiều khách hàng khác nhau với
nhiều lĩnh vực khác nhau.
3.1.3.2.

Đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ tín dụng.
Đây là biện pháp nhằm phân tán rủi ro đã được các Ngân hàng trên thế giới áp


-

Thu hút vốn để củng cố đầu vào mở rộng đầu ra theo đúng yêu cầu của khách hàng,
thông qua mối quan hệ lâu bền với khách hàng Ngân hàng có thể huy động được một
khối lượng nguồn vốn từ tiền gửi của khách hàng.

-

Đề ra chính sách chiến lược, kế hoạch tác nghiệp trong từng thời kỳ và xu hướng phát
triển hoạt động Ngân hàng trong tương lai để không ngừng thích nghi với sự biến động
của thị trường.
Để thiết lập mối quan hệ tốt, lâu bền với khách hàng, Ngân hàng phải có kế
hoạch củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động, đề cao uy tín của Ngân hàng trên thị
trường, thông qua việc cải thiện và mở rộng thêm nhiều hình thức phục vụ, đổi mới tác
phong kinh doanh, thu hút thêm nhiều khách hàng đối với Ngân hàng như những
người bạn tin cậy.

3.2.

Biện pháp hạn chế rủi ro lãi suất

3.2.1. Đối với rủi ro lãi suất trong hoạt động huy động vốn
Để hạn chế rủi ro này, các NHTM cần tìm kiếm các nguồn vốn rẻ có mức lãi
suất thấp của các tổ chức kinh tế, cá nhân, các chương trình dự án, có chiến lược



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status