BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG NGUYỄN ANH TUẤN
CHUẨN MỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO
HIỆP ĐỊNH BASEL II VÀ VIỆC ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HIỆP ĐỊNH BASEL II VÀ VIỆC ÁP DỤNG TẠI VIỆT
NAM
Chuyên ngành : Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số : 60.31.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS., TS. Nguyễn Thị Quy
HÀ NỘI, 2006 LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành đề tài này, học
viên đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ từ các thầy cô khoa Sau Đại học Trường Đại
học Ngoại thương Hà Nội. Đặc biệt, học viên nhận được sự hướng dẫn tận tình của
PGS.,TS. Nguyễn Thị Quy. Nhân dịp này, cho phép học viên được bày tỏ lòng cảm
ơn chân thành tới PGS., TS. Nguyễn Thị Quy và các thầy cô trong khoa Sau đại
học.
Đồng thời, học viên cũng xin cảm ơn Ban lãnh đạo Ngân hàng Công thương
FSI
Financial Stability Institute
HĐQT
Hội đồng quản trị
Incombank
Ngân hàng Công thương Việt Nam
IRB
Internal Rating-based Approch
KPI
Key Performance Indexes
MRC
Maket Risk Capital
NHNNVN
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTM
Ngân hàng thương mại
NHTMCP
Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMNN
Ngân hàng thương mại Nhà nước
ORC
Operational Risk Capital
SA
Standardised Approach
Sacombank
Ngân hàng TMCP Sài gòn thương tín
TCTD
Tổ chức tín dụng
TSC/TSN
Tài sản có/Tài sản nợ
38
Bng 2.3: Mng li ca cỏc NHTM nh nc
41
Bng 2.4: sõu ti chớnh ca Vit Nam, 1991 2005
42
Bng 2.5: Mt s ch tiờu hot ng ca cỏc NHTM Vit Nam
43
Bng 2.6: Mt s ch tiờu ti chớnh ch yu ca h thng NHTM Vit Nam
44
Bng 2.7: Bin ng t giỏ VND/USD trong giai on 2000-2005
46
Bng 2.8: T l trớch lp DPRR theo tng nhúm n
55
Bng 2.9: T l an ton vn ti thiu ca cỏc NHTMNN
57
Bng 3.1: H s tớn nhim ca mt s NHTM ln ca Vit Nam theo t
chc Fitch Ratings
72
Bng 3.2: p dụng các nội dung của Hiệp định Basel vào công tác quản trị
rủi ro trong NHTM Việt Nam
73
Bng 3.3: Yờu cu tng, b sung vn cho cỏc NHTM nh nc
83
giúp lƣu thông vốn trong sản xuất, kinh doanh; đƣa vốn đầu tƣ từ những nơi nhàn
rỗi tới những nơi thiếu vốn để tăng hiệu quả sử dụng vốn. Dịch vụ tài chính ngân
hàng cũng là chất bôi trơn cho hoạt động kinh tế đối ngoại của một quốc gia.
Qua hơn 15 năm phát triển và trƣởng thành (tính từ thời điểm ngành ngân
hàng đƣợc chính thức chia làm 2 cấp theo Pháp lệnh Ngân hàng nhà nƣớc và Pháp
lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã Tín dụng và Công ty Tài chính ban hành năm 1990),
ngành tài chính ngân hàng Việt Nam đã có sự trƣởng thành và phát triển cả về
lƣợng và chất. Tuy nhiên, theo đánh giá của WB, IMF và kể cả những tổ chức
đánh giá tín nhiệm lớn, có uy tín trên thế giới về ngành ngân hàng Việt Nam, năng
lực quản trị nói chung và quản trị rủi ro nói riêng của hầu hết các NHTM đang hoạt
động tại Việt Nam là từ yếu đến rất yếu, dẫn đến mức độ tổn thất cao, không phát
huy hết chức năng và hiệu quả của hệ thống ngân hàng. Do vậy, một vấn đề cấp
thiết đặt ra đối với ngành ngân hàng Việt Nam hiện tại cũng nhƣ trong thời gian tới
là phải phát triển đƣợc những khuôn khổ quản trị rủi ro có hiệu quả.
Hiệp định Basel II là thoả thuận về một cơ chế quản lý, điều hành và giám
sát hoạt động của hệ thống NHTM nhằm mục đích quản trị rủi ro, ổn định thị
trƣờng tài chính do Ngân hàng Thanh toán quốc tế – Bank for International
Settlement (BIS) ban hành. Basel II đƣa ra một loạt các chuẩn mực tính toán tỷ lệ
an toàn vốn tối thiểu (CAR – Capital Adequacy Ratio), chuẩn mực quản trị rủi ro
thị trƣờng, rủi ro tác nghiệp và cơ chế giám sát. Mặc dù đến cuối năm 2006, Basel
II mới chính thức đƣợc áp dụng trong khuôn khổ 13 nƣớc phát triển thành viên,
nhƣng do những lợi ích mà các chuẩn mực này mang lại, một loạt các nƣớc không
phải thành viên của BIS cũng nhƣ các nƣớc đang phát triển đã bắt đầu nghiên cứu
và áp dụng. Hơn nữa, cho dù Basel II có vẻ thiên nhiều về chuẩn mực quản trị
ngân hàng đứng trên khía cạnh của đơn vị quản lý chính sách tiền tệ (nhƣ FED của 2
Mỹ hay NHNNVN của Việt Nam), những gợi ý mà nó đem lại cũng rất có giá trị
đối với NHTM trong quản trị rủi ro. Các NHTM Việt Nam cần chủ động nghiên
3
www.vneconomy.com. Các nghiên cứu trên mới chỉ sơ khảo phần nào về nội dung
của Hiệp định vốn Basel II, do tính mới mẻ của Hiệp định này. Hiện tại, Vụ Chiến
lƣợc phát triển ngân hàng, NHNNVN đang chủ trì đề tài cấp ngành Các điều kiện
cho ngân hàng Việt Nam áp dụng Hiệp định Basel II, dự kiến đến cuối năm 2006
sẽ nghiệm thu.
Do vậy, có thể khẳng định đây là luận văn thạc sỹ đầu tiên nghiên cứu một
cách tƣơng đối có hệ thống về các nội dung của Hiệp định vốn Basel II với ý nghĩa
là những chỉ dẫn trong quản trị rủi ro trong hoạt động của NHTM và khả năng áp
dụng các chỉ dẫn này vào thực tiễn quản trị rủi ro của NHTM Việt Nam.
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở tìm hiểu về các nội dung trong Hiệp định Basel II với tƣ cách là
chuẩn mực về quản trị rủi ro trong hoạt động của NHTM, luận văn phân tích khả
năng và chứng minh sự cần thiết phải áp dụng các chuẩn mực quản trị rủi ro theo
Basel II tại các NHTM Việt Nam. Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp tăng
cƣờng hiệu quả công tác quản trị rủi ro trong các NHTM Việt Nam dựa trên các
nội dung của Hiệp định Basel II trong bối cảnh nền kinh tế nói chung và ngành tài
chính-ngân hàng Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế khu
vực và thế giới.
4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt đƣợc các mục đích nghiên cứu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:
Làm rõ các vấn đề chung, cơ bản về ngân hàng thƣơng mại, rủi ro và quản
trị rủi ro trong hoạt động của NHTM.
Trình bày các nội dung của Hiệp định Basel II với ý nghĩa là các chuẩn mực
quốc tế về quản trị rủi ro trong hoạt động của NHTM và tình hình áp dụng
trên thế giới.
Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh của các
NHTM Việt Nam. 5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG
MẠI VÀ HIỆP ĐỊNH BASEL II
1.1. HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
1.1.1 Khái quát về Ngân hàng thƣơng mại và Rủi ro trong hoạt động kinh
doanh của NHTM
1.1.1.1 Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của NHTM
a. Ngân hàng thƣơng mại
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh đặc biệt trong nền kinh tế. Nó đặc
biệt vì nhiều lý do khác nhau, nhƣng lý do quan trọng nhất là loại hàng hoá chủ
yếu mà nó kinh doanh là loại hàng hoá đặc biệt: tiền tệ. Trong các ngôn ngữ các
nƣớc phƣơng Tây, từ Banque trong tiếng Pháp cổ và Banca trong tiếng Ý có nghĩa
là “cái ghế dài” hay “bàn của ngƣời đổi tiền”, dùng để chỉ nơi để đổi tiền, thƣờng
có bàn đổi tiền và ghế cho khách hàng ngồi trong cửa hiệu tại các trung tâm
thƣơng mại [15]. Trong nghĩa Hán Việt, bản thân từ “Ngân hàng” cũng đã nói lên
một cách rõ ràng loại hàng hoá mà loại hình tổ chức này kinh doanh là tiền tệ
(ngân). Trong nền kinh tế thị trƣờng, ngân hàng đƣợc gọi là một loại trung gian tài
chính theo nghĩa là đơn vị chuyển những khoản tiết kiệm của tổ chức, cá nhân (có
tiền nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian gửi vào ngân hàng
để sinh lời hoặc vì mục đích an toàn hoặc để sử dụng các dịch vụ, tiện ích ngân
hàng khác) sang cho các cá nhân, đơn vị cần tiền để hoạt động.
Nhìn chung, rủi ro là những vận động không lƣờng trƣớc đƣợc của sự vật,
hiện tƣợng và nằm ngoài tầm kiểm soát của con ngƣời. Tính “không lƣờng trƣớc
đƣợc” có thể theo nghĩa khả năng xảy ra, diễn biến và mức độ. Rủi ro thƣờng gắn
với tổn thất. 7
Dƣới góc độ hoạt động kinh doanh của NHTM, rủi ro đƣợc định nghĩa là
những sự thay đổi không lường trước được về giá trị tài sản (gồm tài sản có và tài
sản nợ) và các nghĩa vụ khác.[5]
Các phƣơng châm quản trị rủi ro hiện đại đƣợc xây dựng trên cơ sở “Không có
rủi ro thì không có lợi nhuận”, và “Rủi ro là cái để quản lý, chứ không phải để tránh”. Hình 1.1: Rủi ro càng lớn thì tỷ suất lợi nhuận càng cao
1.1.1.3 Phân loại rủi ro trong hoạt động NHTM
Tất cả các mặt hoạt động của NHTM đều chứa đựng rủi ro, hay những yếu
tố không lƣờng trƣớc đƣợc có thể gây ra tổn thất cho ngân hàng. Có nhiều cách
phân loại rủi ro. Một trong những cách phân loại thông dụng là phân loại thành rủi
ro tín dụng, rủi ro thị trƣờng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tác nghiệp và rủi ro
khác.[5]
(a) Rủi ro tín dụng
Là rủi ro phát sinh khi khách hàng vay không có khả năng thanh toán các
nghĩa vụ trả nợ đầy đủ và đúng hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng hoặc các
loại thoả thuận khác phát sinh nghĩa vụ thanh toán của khách hàng.
(b) Rủi ro thị trƣờng
cho ngân hàng.
(e) Các loại rủi ro khác
Tuỳ vào mục đích quản lý mà ngân hàng có thể xác định các loại rủi ro khác
trong hoạt động kinh doanh của mình nhƣ: rủi ro pháp lý, rủi ro danh tiếng, rủi ro
đạo đức…Trong quản trị ngân hàng hiện đại, các NHTM lớn gần đây đã bắt đầu
chú ý đến 1 loại rủi ro mới là rủi ro tập trung tín dụng (credit concentration risk)
trong điều kiện hoạt động mua lại và sáp nhập (M&A) đang diễn ra mạnh mẽ.
1.1.2 Quản trị rủi ro trong hoạt động NHTM
1.1.2.1 Nội dung công tác quản trị rủi ro trong hoạt động của NHTM
Quản trị rủi ro là một bộ phận trong công tác quản trị điều hành hoạt động
kinh doanh hàng ngày của NHTM. Quản trị rủi ro có 2 nội dung chủ yếu:
(a) Đánh giá rủi ro và dự tính tổn thất
NHTM phải đánh giá đƣợc mức độ rủi ro cũng nhƣ các đặc điểm rủi ro mà
ngân hàng mình đang có (thuật ngữ tiếng Anh là Risk profile, trong đó profile có
nghĩa là bộ hồ sơ). Trƣớc hết, NHTM phải xác phân loại đƣợc những loại rủi ro mà
ngân hàng đang phải đối mặt, mức độ của mỗi loại rủi ro đấy.
Để đánh giá đƣợc rủi ro của NHTM, một loạt các chỉ số thống kê và số học
đƣợc xây dựng và sử dụng trong công tác quản trị rủi ro của ngân hàng.
- Mức độ rủi ro (Exposure): là tổng giá trị tài sản có mà ngân hàng coi là có
rủi ro.
- Xác suất khách hàng không trả đƣợc nợ (Probability of Default – PD): là
tỷ lệ xác xuất khách hàng nắm giữ tài sản có của ngân hàng không trả đƣợc nợ 9
đúng hạn và đầy đủ. Tỷ lệ này đƣợc xác định đối với mỗi tài sản có trong danh
mục đầu tƣ. Hiện tại, để tính đƣợc chỉ số này, ngân hàng phải sử dụng tổng thể kết
quả tính toán và thống kê tỷ lệ tổn thất tín dụng của ngành và theo từng đối tƣợng
khách hàng và đặc điểm của khoản cho vay.
- Tổn thất trong trƣờng hợp khách hàng không trả đƣợc nợ (Loss Given
Theo thực tiễn quản trị rủi ro của các NHTM trên thế giới, công tác quản trị
rủi ro trong hoạt động của 1 NHTM thƣờng thực hiện theo một số nguyên tắc chủ
yếu sau:
- Nguyên tắc chấp nhận rủi ro;
- Nguyên tắc điều hành rủi ro cho phép;
- Nguyên tắc quản lý độc lập các rủi ro riêng biệt;
- Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và mức độ thu nhập;
- Nguyên tắc phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả năng tài chính;
- Nguyên tắc hiệu quả kinh tế;
- Nguyên tắc hợp lý về thời gian;
- Nguyên tắc phù hợp với chiến lƣợc chung của Ngân hàng;
- Nguyên tắc chuyển đẩy các loại rủi ro không cho phép;
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong trình bày các nguyên tắc cơ bản trong
quản trị rủi ro đối với ngân hàng thƣơng mại; PGS. TS. Nguyễn Thị Quy trong tác
phẩm “Năng lực cạnh tranh của các NHTM trong xu thế hội nhập”, NXB Lý luận
chính trị, Hà Nội 2005 đƣa ra 16 nguyên tắc; Uỷ ban Basel (The Basel Committee)
trong xuất bản có tên “The Core Principles for Effective Banking Supervision”
(Những nguyên tắc cơ bản để Giám sát ngân hàng một cách hiệu quả) đƣa ra 26
nguyên tắc quản trị NHTM nói chung và quản trị rủi ro nói riêng.
1.1.2.3 Quy trình Quản trị rủi ro hoạt động NHTM [26]
Tuỳ thuộc vào hồ sơ rủi ro của mình mà mỗi ngân hàng xây dựng một quy
trình rủi ro phù hợp. Những ngân hàng có quy mô hoạt động nhỏ, phạm vi hoạt
động hẹp (ví dụ: không có hoạt động quốc tế), danh mục sản phẩm đơn giản…có
thể lựa chọn xây dựng cho mình một quy trình quản trị rủi ro ít tốn kém hơn các
ngân hàng lớn hơn. Nhƣng tựu trung, một quy trình quản trị rủi ro của một NHTM
thƣờng bao gồm những bƣớc sau:
Bước 1: Xác định rủi ro và xây dựng hệ thống chính sách, quy chế, quy định
Trong bƣớc này, NHTM cần thực hiện:
chế, cơ chế, quy trình, pháp luật, quy định 12
1.2 HIỆP ĐỊNH BASEL II VÀ CÁC CHỈ DẪN VỀ CHUẨN MỰC QUẢN TRỊ RỦI
RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM
1.2.1 Sự ra đời và quá trình phát triển của Hiệp định Basel II
1.2.1.1 Uỷ ban Basel (The Basel Committee)
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tài chính quốc tế, tác động từ những vụ
việc và sự sụp đổ của một hoặc một vài ngân hàng hoạt động quốc tế (international
bank) mang tính lan truyền mạnh mẽ ảnh hƣởng tới ngành tài chính ngân hàng của
không chỉ nƣớc của ngân hàng đó, mà thƣờng có tác động lan truyền. Nhằm ngăn
ngừa nguy cơ khủng hoảng tài chính ngân hàng toàn cầu, đặc biệt là sau sự sụp đổ
của ngân hàng Bankhaus Herstatt của Tây Đức vào năm 1977, các cơ quan điều
hành chính sách tiền tệ trung ƣơng (ngân hàng trung ƣơng hoặc một cơ quan có
chức năng tƣơng tự) của 10 nƣớc có nền kinh tế phát triển đã thành lập ra Uỷ ban
Basel (The Basel Committee on Banking Regulations and Supervisory Practices)
[30] để xây dựng những khuôn khổ chung kiểm soát các rủi ro và giám sát an toàn
đối với những ngân hàng hoạt động quốc tế. Trụ sở của Uỷ ban Basel nằm tại
thành phố Basel, Thuỵ Sỹ.
Đến nay, Uỷ ban Basel có 13 thành viên, gồm các nƣớc: Bỉ, Canada, CH
Pháp, CHLB Đức, Ý, Nhật Bản, Luxembourg, Hà Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển,
Thuỵ Sỹ, Vƣơng quốc Anh và Hoa Kỳ. Uỷ ban nhóm họp 3 hoặc 4 lần trong năm.
Hiện tại, Thống đốc NHTW Tây Ban Nha đang đảm nhiệm chức vụ Chủ tịch Uỷ
ban.
Trên thực tế, Uỷ ban Basel là một diễn đàn để 10 nƣớc phát triển thành viên
trao đổi và hợp tác về các vấn đề liên quan đến giám sát hoạt động ngân hàng
thƣơng mại của từng nƣớc. Ban đầu sau khi thành lập, Uỷ ban Basel chủ yếu bàn
về các cơ chế hợp tác nhằm đi đến thống nhất một cơ chế chung về giám sát hoạt
động ngân hàng trong nội bộ 13 quốc gia thành viên. Sau này, Uỷ ban đặt ra mục
và đã đƣợc NHTW 10 nƣớc thành viên chấp nhận. Hiệp định này quy định tỷ lệ
vốn tối thiểu đối với các NHTM phải đạt 8% vào cuối năm 1992. Đến tháng
9/1993, tất cả các NHTM trong nhóm G10 có hoạt động kinh doanh ngân hàng
quốc tế lớn đều đạt đƣợc yêu cầu về tỷ lệ vốn tối thiểu nhƣ quy định trong Hiệp
định Basel I. 14
Hiệp định Basel I cũng quy định cụ thể về vốn của một ngân hàng thƣơng mại
cũng nhƣ cách thức tính toán tỷ lệ vốn tối thiểu để đạt mức 8% trên tài sản có tính
theo trọng số rủi ro (hay còn gọi là Tỷ số Cooke – Cooke Ratio).
Ngoài ra, việc phân loại tài sản có để gán trọng số rủi ro (risk weight) thành 4
nhóm cũng đƣợc quy định chi tiết theo bảng tổng kết tài sản (hay bảng cân đối kế
toán) của NHTM.
1.2.1.3 Các sửa đổi Hiệp định Basel I
Cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp tài chính toàn cầu cũng nhƣ sự
xuất hiện của các nhân tố rủi ro mới trong hoạt động ngân hàng, ví dụ thị trƣờng
ngoại hối với các giao dịch qua đêm (overnight), hoán đổi (swap), kỳ hạn và quyền
chọn (forward, option), thị trƣờng chứng khoán phát triển cho phép ngân hàng lựa
chọn đầu tƣ vào cổ phiếu, trái phiếu và các loại giấy tờ có giá bên ngoài các danh
mục đầu tƣ tín dụng…NHTM đối mặt với một loạt các rủi ro khác không thua kém
quan trọng so với rủi ro tín dụng. Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các nhà
quản trị ngân hàng cũng nhƣ cơ quan giám sát an toàn hoạt động NHTM khi tỷ
trọng thu nhập từ phí của NHTM ngày càng tăng trong cơ cấu thu nhập.
Hiệp định Basel I có một số hạn chế chủ yếu sau đƣợc chỉ ra trong quá trình
thực tiễn áp dụng tại nhóm G10 cũng nhƣ tham khảo ý kiến của NHTW các nƣớc
ngoài G10:
- Trọng số rủi ro chỉ phân biệt nhóm tài sản có theo đối tƣợng cho vay mà
không phân biệt đến chất lƣợng hoạt động thực tế của đối tƣợng đó. Cụ thể, theo
Basel I thì một khoản vay cho đối tƣợng công ty đƣợc xếp hạng tín dụng loại A
Tháng 6/2004, Uỷ ban Basel chính thức ban hành một khuôn khổ mới thay
thế cho Hiệp định vốn Basel I sau 6 năm phát triển và tổng hợp ý kiến đóng góp từ
các nƣớc trên khắp thế giới. Khuôn khổ này gồm có 3 cột trụ: (1) yêu cầu vốn tối
thiểu, là sự mở rộng của các quy tắc chuẩn hoá đặt ra trong Hiệp định 1988, (2)
quy trình rà soát giám sát tỷ lệ đảm bảo an toàn vốn và quá trình đánh giá nội bộ,
và (3) áp dụng các nguyên tắc thị trƣờng nhằm khuyến khích việc công khai thông
tin cũng nhƣ thực hiện các thông lệ kinh doanh ngân hàng an toàn. Tên đầy đủ của
Hiệp định Basel II là Thoả thuận quốc tế Đo lƣờng vốn và các Chuẩn mực về vốn
– Bản sửa (International Convergence of Capital Measurement and Capital
Standards, A Revised Framework). 16
Rủi ro
tác
nghiệp
Những
rủi ro
hoạt
động
kinh
doanh
mua bán
(gồm cả
rủi ro thị
trƣờng)
Cột trụ
thứ hai –
Quy trình
Rà soát
giám sát
Cột trụ
thứ ba –
Nguyên
tắc thị
trƣờng 17
So với Basel I, các quy định về tính toán tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trong
Basel II đã đƣợc mở rộng ra các yêu cầu vốn đối với rủi ro thị trƣờng và rủi ro tác
nghiệp ngoài rủi ro tín dụng nhƣ trong Hiệp định 1988.
TRC = CRC + MRC + ORC
nào, cũng nhƣ không để dự phòng cho bất kỳ khoản giảm giá trị của một tài sản có
cụ thể nào. Ngoài ra, phần dự phòng chung này cũng chỉ đƣợc bằng tối đa 1,25%
tổng trị giá tài sản có rủi ro.
Những khoản sau không đƣợc tính vào vốn của NHTM
- Giá trị thƣơng hiệu (goodwill) – trừ vào vốn loại 1.
- Các khoản đầu tƣ vào những đơn vị trực thuộc, phụ thuộc không đƣợc
tổng hợp vào hoạt động chung của toàn bộ ngân hàng.
Trọng số rủi ro tín dụng (credit risk weight) của tài sản Có
Mỗi mục trong danh mục tài sản có của NHTM đƣợc gán một trọng số rủi
ro tín dụng nhất định để tính tài sản có theo rủi ro tín dụng (risk-weighted asset).
Trọng số rủi ro đƣợc sử dụng để đo lƣờng mức độ rủi ro tƣơng ứng của tài sản có.
Việc áp dụng trọng số rủi ro trong tính toán tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu có những lợi
thế sau:
(i) công bằng hơn trong so sánh tỷ lệ an toàn tối thiểu của các hệ thống
NHTM tại các nƣớc khác nhau;
(ii) dễ dàng đƣa mức độ rủi ro ngoại bảng vào trong việc tính toán tổng mức
độ thiệt hại có thể xảy ra trong trƣờng hợp rủi ro;
(iii) giúp NHTM không ngại giữ tiền mặt hoặc các loại tài sản có có tính
thanh khoản cao.
Hiệp định Basel II quy định một cách tƣơng đối trọng số rủi ro đối với các
loại tài s 19
Bảng 1.1: Phân loại Tài sản có và trọng số rủi ro tín dụng
Trọng số
rủi ro tín
dụng
Loại tài sản có
Ký hiệu
(d) Các khoản phải thu đối với khu vực kinh tế công
tại các nƣớc ngoài khối OECD, trừ phải thu đối với
A3