TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại.
Cho vay là hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại để tạo ra
lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động cho vay mới bù đắp nổi chi phí tiền gửi, chi phí
dự trử, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phớ vốn trụi nổi, chi phớ thuế các loại và
các chi phí rủi ro đầu tư.
Kinh tế càng phát triển, doanh số cho vay của các ngân hàng thương mại càng
tăng nhanh và loại hỡnh cho vay càng trơ nên vô cùng đa dạng ở hầu hết các nước
phát triển hàng đầu thế giới, cho vay của các ngân hàng thương mại đó chuyển dần
từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn. khu vực cho vay ngắn hạn nhường chổ
cho thị trương tài chính- tiền tệ cung ứng. ngược lại ở hầu hết các nước đang phát
triển, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ
chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu tư dài hạn (trong đó có những tác nhân chủ
yếu như tỡnh hỡnh tăng trưởng, lạm phát…)
Ở một số nước phát triển cho tới nay, khi một ngân hàng được thành lập và đi
vào hoạt động, mối quan tâm chính và thường xuyên của nó là cho ai vay, và đầu
tư vào đâu. Ở những nước này, đối tương cho vay là điều làm bận tâm nhiều hơn,
nếu không nói là vấn đề quan trọng nhất. Trong khi đó ở các nước phát triển tỡnh
hỡnh lại ngược lại. Vấn đề đặt ra cho các ngân hàng không phải vấn đề cho ai vay,
mà lợi tức có cao không và an toàn không. Thậm chí những lo ngại đại loại như
vậy thực tế đó khụng cũn vỡ hầu hết họ đó cú những thị phần chắc chắn và vấn đề
an toàn của vốn đó cú phỏp luật bảo đảm. Điều họ quan tâm là làm sao huy động
được ngày càng nhiều tiền cho các khoản đầu tư có sẵn.
Cho vay của ngân hàng thương mại, nói rộng ra là tín dụng ngân hàng thương
mại, là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển
của môi trường kinh tế. Để hiểu nó, chúng ta cần tỡm hiểu những nột đặc trưng
quan trọng của nó.
1.1.1. Khái niệm về hoạt động cho vay.
Nhà kinh tế pháp Louis Baundin, đó định nghĩa tín dụng như là “Một sự trao đổi
tài hoá hiện tại lấy một tài hoá tương lai”. Ở đây, chúng ta thấy yếu tố thời gian đó
Bước 2: Phõn tớch tớn dụng.
Bước 3: Quyết định cấp tín dụng cho vay.
Bước 4: Giải ngõn.
Bước 5: Giỏm sỏt thu nợ và thanh lý hợp đồng cho vay.
* Lói suất trong hợp đồng cho vay theo thoả thuận giữa khách hàng và ngân
hàng cho vay. (Ví dụ: Lói suất cố định, lói suất thả nổi,…).
* Các khoản cho vay có hoặc không có tài sản đảm bảo tuỳ vào việc đánh giá và
xếp hạng khách hàng của ngân hàng cho vay.
* Khi kết thúc hợp đồng khách hàng có nghĩa vụ trả ngốc và lói hoặc một số
thoả thuận khỏc nếu được ngân hàng cho vay chấp nhận. Trường hợp khách hàng
không thực hiện hợp đồng hay không có một điều khoản nào khác thỡ tài sản đảm
bảo thuộc quyền quyết định của ngân hàng cho vay.
1.1.3. Những yếu tố cấu thành hoạt động cho vay.
1.1.3.1. Cỏc bờn tham gia.
- Người cho vay: Là một định chế tài chính hay một ngươi nào đó cho ngươi
vay vay một khoản tiền nào đó trên cơ sở hợp đồng cho vay đó được thoó thuận
cỏc điều kiện về mức vay, thời hạn vay, lói suất, hỡnh thức trả gốc và lói, tài sản
đảm bảo …
- Người vay: Là người có phương án, dự án cần có vốn để thực hiện nó bao
gồm:
+ Các pháp nhân: Doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xó, cụng ty trỏch nhiệm
hửu hạn, cụng ty cổ phần, doanh nghiệp cú vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức
khác có đủ điều kiện quy định tại điều 94 của bộ luật dõn sự.
+ Hộ gia đỡnh.
+ Tổ hợp tỏĐiều kiện của chủ thể vay vốn:
Có năng lực chủ thể: Năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự
p
( phần bự rủi ro).
Do vậy lói suất luụn phải điều chỉnh tuỳ vào thời hạn vay và đối tượng khách
hàng. Mặt khác lói suất cho vay luụn phải phự hợp với diễn biến kinh tế vĩ mụ,
chớnh sỏch tài chớnh tiền tệ của chính phủ đồng thời lói suất cạnh tranh giữa cỏc
ngõn hàng thương mại và tổ chức tín dụng khác.
Lói suất trong hợp đồng cho vay, được thể hiện dưới hai mức thoó thuận là ỏp
dụng lói suất cố định hay lói suất thả nổi theo thị trường.
-Chi phớ marketing trực tiếp.
- Chi phớ dự phũng cho trường hợp không thu hồi được vốn cho
vay.
- Chi phớ quản lý.
- Lợi nhuận mong đợi trong tương lai.
- Chi phớ khỏc.
1.1.4. Vai trũ của hoạt động cho vay.
1.1.4.1. Vai trũ đối với nền kinh tế.
* Cho vay góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế.
Do đặc điểm cho vay là quy mô rộng, khách hàng đa dạng mặt khác nó là hỡnh
thức kinh doanh chủ yếu của ngõn hàng. Với vai trũ là trung gian tài chớnh ngõn
hàng đóng vai trũ là cầu nối vốn cho nền kinh tế, giữa người thừa vốn và người cần
vốn để đầu tư.
* Doanh nghiệp
*Cỏ nhõn
* Hộ gia đỡnh…
Ngõn hàng
* Doanh nghiệp
*Cỏ nhõn
* Hộ gia đỡnh…
Vỡ thế mà ngõn hàng giải quyết được một trong những đặc điểm của tiền là.
“Tiền có giá trị theo thời gian” các nguồn vốn nhàn rỗi đươc tập hợp và đầu tư
Trong nền kinh tế thị trường, cho vay là chức năng kinh tế cơ bản của ngân
hàng. Đối với các hầu hêt các ngân hàng, dư nợ tín dụng chiếm tới hơn 50% tổng
tài sản có và thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm khoảng từ ½ đến 2/3 tổng thu
nhập của ngân hàng. Mặt khác rủi ro trong hoàt động cho vay có xu hướng tập
chung chủ yếu vào danh mục cho vay. Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính
khó khăn nghiêm trọng, thỡ nguyờn nhõn thường phát sinh từ hoạt động cho vay
của ngân hàng, viêc ngân hàng không thu hồi đươc vốn, có thể là do ngân hàng
buông lỏng quản lý, cấp tớn dụng khụng minh bạch, áp dụng một chính sách tín
dụng kém hợp lý, hay do nền kinh tế đi xuống không lường trước hay do nguyên
nhân chủ quan từ phía hach hàng …
2. Rủi ro trong hoàt động cho vay ngân hàng thương mại.
1.2.1 . Quan niệm rủi ro trong hoạt động cho vay.
Dưới góc độ chuyên môn, cho vay là hoạt động tín dụng bao gồm ngắn hạn,
trung hạn và dài hạn của ngân hàng thương mại thực hiện, trong hoạt động tín dụng
này. Xét về bản chất và quan hệ kinh tế có thể nói cho vay là một nghiệp vụ tín
dụng chiếm hơn 50% tổng tài sản có và có thu nhập từ cho vay chiếm từ 50% đến
80% tổng thu nhập của ngân hàng. Hơn nữa rủi ro trong hoạt động kinh doanh có
xu hướng tập chung chủ yếu vào danh mục cho vay của ngân hàng.
Có rất nhiều quan niệm về rủi ro như: “Rủi ro là bất trắc gây ra mất mát, thiệt
hại” hay “rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một hay nhiều biến cố không
mong đợi”… Nhưng nói chung, mọi quan niệm đều đi đến thống nhất:
“rủi ro là biến cố xẩy ra ngoài ý muốn, sự hiểu biết, dự tớnh của chủ thể và đem lại
những hậu quả xấu”. Rủi ro cú thể xẩy ra bất cứ lỳc nào trong mọi lĩnh vực cuộc
sống, nhất là trong lĩnh vực tớn dụng núi chung và nghiệp vụ cho vay núi riờng.
Lý luận và thực tiễn đó chứng minh rằng rủi ro trong hoạt động cho vay là
nhiều nhất trong hoạt động kinh doanh tài chính tiền tệ. Nó xẩy ra dưới nhiều hỡnh
thức, mức độ khác nhau là ro các nguyên nhân sau.
• Tiền là nguyên liệu chính tạo ra sản phẩm cho vay. Tiền được dùng để
giao dịch giữa người cho vay và khách hàng vay. Mặt khác tiền là thứ nguyên liệu
độc tôn không thể thay thế, nguyên liệu nay chịu tác động rất nhiều yếu tố như