Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Khoa Thương Mại – Du Lịch – Marketing
SVTH : Nhóm 4 – NT234
GVHD : Th.S Nguyễn Thị Hồng Thu
------------------------------------------------------------
TP. Hồ Chí Minh, 5-2010
LỜI MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề:
"Khi thời kỳ khó khăn qua đi, vị thế của một ngân hàng so với các đối thủ
cạnh tranh trên đường đua lúc đó sẽ phụ thuộc rất lớn vào khả năng quản trị của
ngân hàng ngay từ lúc này. Tuy nhiên, một thực tế không thể phủ nhận rằng trong
thời kỳ kinh tế phát triển, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã quá mải mê chạy
theo các hoạt động tìm kiếm lợi nhuận, tập trung chủ yếu vào các mục tiêu trước
mắt mà lơ là việc xây dựng hệ thống quản trị rủi ro."- Phó Tổng giám đốc
Vietcombank Nguyễn Thu Hà, nhận định như vậy khi đề cập đến vấn đề quản trị
rủi ro của NHTM Việt Nam trước ảnh hưởng của suy thoái kinh tế.
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế tất yếu xuất hiện quan hệ tín dụng
giữa các cá nhân, tổ chức trong nền kinh tế. Sự luân chuyển dòng vốn giữa một bên
CẦN vốn và một bên CÓ vốn nhàn rỗi đã xuất hiện quan hệ tín dụng.
Ngân hàng là một trung gian tài chính có chức năng: Nhận tiền gửi của dân
cư, tài chính kinh tế, tài chính tín dụng… và cho vay lại các thành phần kinh tế với
lãi suất thích hợp. Ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự thanh
khoản trong nền kinh tế.
Do đó công tác quản trị rủi ro tín dụng có vai trò cực kỳ quan trọng và cần
thiết đối với các ngân hàng nói riêng và cả hệ thống tài chính nói chung.
Mục đích nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản của quản rủi ro tín dụng
của ngân hàng. Bên cạnh đó, đề tài còn phân tích và đánh giá quá trình hoạt động
của ngân hàng TMCP Ngoại thương nhằm đưa ra được những cái nhìn đứng đắn về
quá trình hoạt động quản trị rủi ro của doanh nghiệp, để góp phần xây dựng lên một
hệ thống quản trị rủi ro tín dụng hoàn thiện hơn cho doanh nghiệp cũng như đưa ra
cổ phiếu lần đầu ra công chúng ngày 26/12/2007 tại Sở giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh.
Trải qua 45 năm phấn đấu và phát triển, Vietcombank đã không ngừng vươn
lên, trở thành ngân hang hàng đầu Việt Nam trong nhiều lĩnh vực như quản lý và
kinh doanh vốn, thanh toán quốc tế, dịch vụ thẻ, công nghệ ngân hàng… Với bề dày
kinh nghiệm và đội ngũ cán bộ tinh thông nghiệp vụ, có trình độ cao và tác phong
chuyên nghiệp, Vietcombank luôn là sự lựa chọn hàng đầu cho các tập đoàn lớn, các
doanh nghiệp trong và ngoài nước cũng như đông đảo khách hàng cá nhân. Từ một
ngân hàng chuyên phục vụ trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày nay
đã có mạng lưới chi nhánh vươn rộng ra hầu khắp các tỉnh thành lớn trên cả nước
với các sản phẩm ngân hàng đa dạng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của mọi đối tượng
khách hàng. Hệ thống Vietcombank đến hết năm 2008 bao gồm 1 hội sở chính, 1 sở
giao dịch, 60 chi nhánh và 209 phòng giao dịch trên toàn quốc, 1 trung tâm đào tạo,
3 công ty con tại Việt Nam, một công ty con tại Hồng Kông, 4 công ty liên doanh, 3
công ty liên kết và 1 văn phòng đại diện tại Singapore. Ngoài ra, mạng lưới phục vụ
khách hàng còn được đa dạng hóa với 1.244 máy ATM và 7.800 điểm chấp nhận thẻ
của Vietcombank trên toàn quốc. Hoạt động của ngân hàng còn được hỗ trợ bởi
mạng lưới hơn 1.300 ngân hàng đại lý trên gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Năm 2008 đánh dấu bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển của ngân
hàng với việc chính thức chuyển mình trở thành ngân hàng thương mại cổ phần có
vốn điều lệ và tổng tích sản lớn nhất Việt Nam. Trong bối cảnh nền kinh tế gặp
nhiều khó khăn, đứng trước thách thức quan trọng là phải vừa chuyển đổi cơ cấu
hoạt động, vừa đảm bảo đạt hiệu quả kinh doanh, toàn hệ thống Vietcombank đã nỗ
lực phấn đấu, hoàn thành xuất sắc kế hoạch đề ra. Với những thành tích nổi bật
trong năm qua, Vietcombank đã được tạp chí Asiamoney bầu chọn là “Ngân hàng
nội địa tốt nhất Việt Nam”.
1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vietcombank:
1.2.1 Tình hình tài chính:
Vốn điều lệ của ngân hàng là 12.100.860.260.000 đồng. Trong đó vốn của
Nhà nước là 1.097.800.600 cổ phần (10.00đồng/cổ phần; chiếm 90,72%).
quản trị danh mục đầu tư, kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng, quản trị rủi ro
v.v.. Kết quả là chất lượng tín dụng của Vietcombank trong năm 2009 được cải
thiện đáng kể. Đến 31/12/09 tỉ lệ nợ xấu của Vietcombank là 2,47% - thấp hơn
nhiều so với mức 4,61% vào cuối năm 2008, thấp hơn mức dự kiến mà Đại hội
cổ đông cho phép là 3,5%.
Hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu: Năm 2009 chịu tác động
mạnh của cuộc khủng hoảng kinh tế và suy thoái toàn cầu, hoạt động xuất
nhập khẩu của cả nước gặp khó khăn và bị sụt giảm. Trong bối cảnh chung,
hoạt động thanh toán của Vietcombank cũng không tránh khỏi sự tụt giảm.
Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcombank đạt 25,62 tỷ USD,
giảm 23,8% so với năm 2008. Mặc dù vậy, Vietcombank vẫn duy trì thị phần
lớn trong hoạt động thanh toán XNK : chiếm 20,4% trong tổng kim ngạch
XNK của cả nước năm 2009.
Hoạt động thẻ: Vietcombank là ngân hàng có số lượng thẻ phát hành
và doanh số thanh toán không ngừng gia tăng qua các năm và luôn giữ vị trí
dẫn đầu về các chỉ tiêu này trên thị trường thẻ Việt Nam. Tổng số lượng thẻ
do Vietcombank phát hành được 966.243 thẻ, tăng 11,7% so với năm 2008.
Doanh số thanh toán thẻ quốc tế đạt 567 triệu USD, đạt 105,5% kế hoạch
năm. Vietcombank hiện chiếm hơn 53% thị phần thanh toán thẻ quốc tế, gần
36% thị phần phát hành thẻ quốc tế, 21% thị phần phát hành thẻ nội địa và
hơn 33% thị phần doanh số sử dụng thẻ các loại.
Kinh doanh ngoại tệ: Năm 2009 là năm rất khó khăn cho hoạt động
kinh doanh ngoại tệ do tình hình tỷ giá và thị trường ngoại tệ có nhiều biến
động lớn, tình trạng căng thẳng cung ngoại tệ kéo dài. Do vậy, tổng doanh số
mua bán ngoại tệ của Vietcombank trong năm 2009 giảm 14,3% so với năm
2008. Trong năm, Vietcombank đã bám sát thị trường, liên tục đưa ra các
chính sách chỉ đạo để thích ứng với sự thay đổi của thị trường, đồng thời áp
dụng các biện pháp điều tiết mua ngoại tệ để hạn chế rủi ro. Kết quả hoạt
động kinh doanh ngoại tệ trong năm đã đóng góp một nguồn thu đáng kể
trong tổng thu nhập của Vietcombank.
thông qua việc rút vốn ODA ngân hàng phục vụ đã thu hút được lượng tiền
ngoại tệ (vốn ODA) và nội tệ (các nhà thầu) khá lớn duy trì trên các tài khoản
mở tại NH phục vụ với chi phí rất thấp.
Bên cạnh đó, các NHTM nhà nước luôn nhận được sự hỗ trợ từ NHNN. Gần
đây, NHNN tuyên bố sẽ đáp ứng nhu cầu vay vốn thiếu hụt thanh khoản tạm
thời của các NHTM nhà nước với LS thích hợp và thời gian phù hợp (chắc LS
thấp hơn khá nhiều so mặt bằng LS huy động thị trường và thời gian dài hơn
cho vay tái cấp vốn và chiết khấu với các NHTM cổ phần). Các NHTM cũng
chủ định hướng khai thác tối đa kênh hỗ trợ của NHNN.
Một trong những thành công nhất trong năm 2009 là hoạt động của hệ thống
các tổ chức tín dụng (TCTD) Việt Nam đảm bảo an toàn, ổn định và có bước
tăng trưởng khá, năng lực tài chính và quy mô hoạt động tăng lên. Tính thanh
khoản của hệ thống được đảm bảo, đáp ứng đủ nhu cầu thanh toán của nền
kinh tế.
Trong các thời điểm khác nhau, ngân hàng nhà nước (NHNN) cũng linh hoạt
điều chỉnh giảm và tăng các mức lãi suất chủ đạo, lãi suất tái cấp vốn và lãi
suất tái chiết khấu, tạo điều kiện cho các TCTD giảm và tăng lãi suất huy
động, cho vay phù hợp mục tiêu điều tiết lượng vốn huy động và cho vay tín
dụng theo hướng nới lỏng một cách thận trọng.
2.3.2. Khó khăn:
Khó khăn lớn nhất của năm nay đó là vốn, kênh dẫn vốn mà các ngân
hàng đều trông chờ hiện nay vẫn nằm ở nguồn tiền gửi của dân cư và tổ chức.
Do tác động của các giải pháp kích thích kinh tế, nhu cầu vay vốn của
các doanh nghiệp, hộ sản xuất tăng cao, kéo theo tăng trưởng tín dụng của hệ
thống ngân hàng ở mức cao, trong khi huy động vốn gặp nhiều khó khăn, ảnh
hưởng đến khả năng cân đối vốn của các TCTD. Lãi suất huy động tăng cao
trong khi trần lãi suất cho vay bị khống chế bởi lãi suất cơ bản làm chênh lệch
giữa lãi suất huy động và cho vay bị thu hẹp, gây khó khăn cho việc trích lập
dự phòng rủi ro và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các TCTD. Trong
khi thị trường ngoại hối, thị trường vàng và cán cân thanh toán quốc tế còn
Vietcombank trong các hoạt động truyền thống; Đảm bảo sự cân đối hài hoà giữa
huy động và sử dụng vốn;
4. Tiếp tục cơ cấu lại tổ chức theo mô hình khối tại HSC cũng như chuyển hoá
cơ cấu tổ chức của các chi nhánh. Thực hiện nghiêm túc kỷ cương điều hành và ý
thức tuân thủ, chấp hành của các cán bộ trong toàn hệ thống;
5. Tiếp tục đổi mới, hiện đại hoá công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của khách hàng trong kinh doanh và hỗ trợ công tác quản trị, điều hành;
6. Đẩy mạnh các quan hệ đối ngoại; Thực hiện tốt hoạt động thông tin tuyên
truyền, hoạt động truyền thông về hình ảnh, thương hiệu và sản phẩm của
Vietcombank trong hệ thống cũng như trên thị trường;
7. Ban hành và hoàn thiện các quy trình, quy chế của Vietcombank để phù hợp
với các quy định của pháp luật, đi dần tới chuẩn mực quốc tế và nhằm giảm thiểu
các rủi ro trong hoạt động.
8. Tiếp tục chọn đối tác chiến lược theo tiêu chí đã định, phát hành cổ phiếu tăng
vốn Điều lệ nâng hệ số an toàn (CAR) 10%
1.3 Những rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng:
Trong các nghiệp vụ ngân hàng thực hiện hằng ngày có rất nhiều nguy cơ
tiềm ẩn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng. Theo nghiên cứu
của nhà chuyên môn trong lĩnh vực ngân hàng thì có nhiều loại rủi ro khác nhau
nhưng về bản chất có thể chia ra 4 nhóm rủi ro chính:
• Rủi ro thị trường
• Rủi ro hoạt động (rủi ro tác nghiệp)
• Rủi ro thanh khoản
• Rủi ro tín dụng
• Rủi ro thị trường là rủi ro nảy sinh từ sự mất ổn định liên quan tới những
thay đổi về giá cả thị trường, tỷ giá và lãi suất ví như là rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại
hối, rủi ro chứng khoán, rủi ro hàng hóa.
− Rủi ro lãi suất là nguy cơ biến động nguy cơ thu nhập và giá trị ròng của
ngân hàng khi lãi suất thị trường thị tường có biến động, sẽ tác động bất lợi tiềm ẩn
ảnh hưởng tới lợi nhuận và giá trị kinh tế do các thay đổi về lãi suất. Nguyên nhân
mục đích nhận “thù lao”; cán bộ ngân hàng quản lý khách hàng vay vốn trực tiếp
thu nợ gốc và lãi vay ngân hàng nhưng chỉ nộp lãi vào ngân hàng, nợ gốc giữ lại
chi tiêu cá nhân hoặc hệ thống dữ liệu bị tin tặc tấn công, bị cướp...