QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DNVN - Pdf 23

QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA DNVN
DOANH CỦA DNVN
I. TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ RỦI RO TRONG KINH DOANH
1.1. Khái niêm rủi ro
Rủi ro là một khái niệm hết sức quen thuộc, đến mức mà người ta có thể hiểu ngay
mà chẳng cần biết đến định nghĩa của nó. Tuy nhiên, rủi ro lại là một trong số những
thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa và các cách này lại không hoàn toàn nhất trí với
nhau. Nhưng có lẽ cách định nghĩa sau của quan điểm hiện đại là được chấp nhận rỗng
rãi nhất:
Rủi ro là một tình huống của thế giới khách quan trong đó tồn tại khả năng xảy
ra một sự sai lệch bất lợi so vởi kết quả được dự tính hay mong chờ.
Từ khái niệm nói trên, chúng ta có thề rút ra những điểm cơ bàn sau đây:
Trước tiên, với việc định nghĩa rủi ro là “một tình huống của thế giới khách quan”,
định nghĩa đã khẳng định tính chất khách quan của rủi ro. Rủi ro chịu ảnh hưởng bởi các
nhân tổ từ môi trường khách quan gắn với sự kiện chứ không chịu tác động bởi nhận thức
chủ quan của con người về sự kiện đó.
Thứ hai, với quan niệm kết quả không mong muốn của rủi ro chính là sự sai lệch
bất lợi so với kết quả được dự tính hoặc mong chờ, định nghĩa bao hàm cả những rủi ro
gắn với các tổn thất và những rủi ro gắn với sự sai lệch so với dự tính.
Thứ ba, định nghĩa này tạo ra sự linh hoạt trong ứng dụng các công cụ lượng hóa
trong từng tình huống cụ thể. Điểm mấu chốt cho sự linh hoạt là thừa nhận “dự tính của
con người”, là tiêu chuẩn để đánh giá rủi ro. Mọi sự sai lệch bất lợi so với dự tính đều coi
là rủi ro.
1.2. Rủi ro trong kinh doanh
Rủi ro trong kinh doanh là một dạng rủi ro và nó cũng mang đầy đủ những đặc
điểm cơ bản như bất kỳ một loại rủi ro nào. Rủi ro trong kinh doanh thường dễ nhận thấy
và được con người quan tâm nhiều nhất. Bởi vì, trước hết kinh doanh là một hoạt động
mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, cho mỗi cá nhân và lợi nhuận chính là động lực
thúc đẩy doanh nghiệp không ngừng phát triển hoạt động của mình. Tuy nhiên, cũng cần

thích hợp. Thực tế, hoạt động quản trị rủi ro không chỉ giới hạn ở các hoạt động mua bảo
hiểm mà còn bao gồm cả các biện pháp, kỹ thuật nhằm ngăn chặn, giảm thiểu và trong
nhiều tình huống phải chuẩn bị cho doanh nghiệp gánh chịu những tổn thất cùa những rủi
ro không thể tránh khỏi.
Quan điểm trên đã đưa đến một định nghĩa đầy đủ về quản trị rủi ro như sau:
“Quản trị rủi ro là quá trình xử lý các rủi ro thuần tuý một cách có hệ thống, khoa học
toàn diện thông qua các hoạt động nhận diện và đánh giá rủiro, xây dựng và thực thi
các kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro xảy ra, thực hiện việc kiểm soát, giảm thiểu
những tổn thất gây cho doanh nghiệp một khi xảy ra rủi ro cũng như dự phòng về tài
chính để bù đắp cho các tổn thất đó.”
1.3.2. Nội dung quản trị rủi ro
Hoạt động quản trị rủi ro được tổ chức khác nhau tuỳ vào tiềm lực tài chinh của
doanh nghiệp cũng như việc phân bổ nguồn lực của doanh nghiệp cho công tác quản trị
rủi ro, tuỳ theo môi trường hoạt động của doanh nghiệp phức tạp hay đơn giản cũng như
mức độ coi trọng công tác quản trị rủi ro của ban lãnh đạo Tuy nhiên, dù mô hình tổ
chức quản trị rủi ro tại mỗi doanh nghiệp có thể khác nhau, hoạt động quản trị rủi ro vẫn
phải bao gồm các nội dung cơ bản sau:
1) Nhận dạng - Phân tích - Đo lường rủi ro
a. Nhận dạng và phân tích rủi ro
Để quản trị rủi ro, trước hết phải nhận dạng (hay phát hiện) được rủi ro. Nhận
dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro nảy sinh trong hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp. Hoạt động nhận dạng rủi ro nhằm thu thập các thông
tin về các đối tượng có thể gặp rủi ro (con người, tài sản, trách nhiệm pháp lý của doanh
nghiệp), các nguồn phát sinh rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm hoạ, các loại tổn thất mà
rủi ro có thể gây cho doanh nghiệp. Hoạt động nhận dạng rủi ro được thực hiện thông
qua việc theo dõi, nghiên cứu, xem xét môi trường xung quanh doanh nghiệp (vi mô và
vĩ mô), toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, nhằm thống kê được tất cả những rủi ro,
không chỉ những rủi ro đã và đang xảy ra mà cả những rủi ro mới có thể xảy ra đối với
doanh nghiệp. Trên cơ sở những thống kê đó sẽ tiến hành phân tích rủi ro nhằm xác đinh
nguyên nhân gây ra các rủi ro cũng như các nhân tố làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro

thông tin đến mức có thể để nắm rõ về đổi tác.
Giảm thiểu những tổn thất do rủi ro gây ra (Loss reduction):
Đây là các biện pháp nhằm kiểm soát giảm thiểu thiệt hại một khi rủi ro xảy ra. Ví
dụ: đề hạn chế thiệt hại do rủi ro bị nhà cung cấp ép giá hoặc từ chối cung cấp hàng gây
ra, doanh nghiệp cần đa dạng hoá nguồn cung cấp của mình.
3) Tài trơ rủi ro (Risk Financing)
Hoạt động kiểm soát rủi ro không thể giúp doanh nghiệp tránh được mọi rủi ro.
Một khi rủi ro xảy ra, doanh nghiệp cần phải sẵn sàng cho các tổn thất, không để ảnh
hưởng tới hoạt động kinh doanh của mình. Tài trợ rủi ro chính là nội dung quản trị rủi ro
nhằm mục đích chuẩn bị cho doanh nghiệp trước những tồn thất xảy ra.
Tài trợ rủi ro chia làm hai nhóm biện pháp cơ bản:
a. Chấp nhận rủi ro (Risk retention) và lập quỹ dự phòng để bù đắp tồn
thất do rủi ro xảy ra
Chấp nhận rủi ro là biện pháp không tránh khỏi để không bỏ lỡ những cơ hội kiếm
lời. Trong trường hợp này, nhà quản trị phải dự phòng các nguồn lực tài chính để kịp
thời bù đắp những thiệt hại có thể xảy ra để không ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
chung của doanh nghiệp.
b. Chuyển giao hoặc chia sẻ rủi ro (Risk transfer or sharing)
Để chia sẻ rủi ro, doanh nghiệp sẽ phải ký kết những hợp đồng với những điều
khoản đặc biệt. Ví dụ: để tránh rủi ro giá cả biến động, doanh nghiệp sẽ phải ký những
hợp đồng dài hạn với giá cả cố định, hoặc doanh nghiệp sẽ phải tham gia vào các hợp
đồng ngoại tệ kỳ hạn để tránh rủi ro tỷ giá.
Để chuyên giao rủi ro, doanh nghiệp cũng bị đòi hỏi phải tham gia vào các hợp
đồng đặc biệt nhằm chuyển giao phần rủi ro mà mình không muốn gánh chịu sang những
chủ thể sẵn sàng nhận thêm rủi ro để đổi lấy một khoản thu nhập.
1.3.3. Vai trò của quản trị rủi ro đối với doanh nghiệp
Quản trị rủi ro có vai trò vô cùng to lớn và có thể có nhiều đóng góp cho doanh
nghiệp:
Trước tiên, hoạt động quản trị rủi ro sẽgiúp cho doanh nghiệp tránh khỏinguy
cơ phá sản. Có thể nói đảm bảo sự tồn tại cửa doanh nghiệp là lý do quan trọng nhất cho

đây cho thấy: Giá cả nhiều mặt hàng biến động khá thất thường, trong đó đặc biệt là giá
cả những hàng hóa là nguyên, nhiên, vật liệu. Đây chính là một nguy cơ rủi ro lớn nhất
cho các nhà sản xuất kinh doanh xuất, nhập khẩu, đã ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu
bán hàng hoặc chi phí đầu vào của doanh nghiệp. Đặc biệt khi các mặt hàng xuất khẩu
chù lực của Việt Nam là nông lâm thuỷ sản và nguyên liệu, vốn là những mặt hàng rất
nhạy cảm về giá, thì những biến động về giá càng có tác động mạnh đến hoạt động sản
xuất kinh doanh.
2.2. Rủi ro về tỷ giá hối đoái
Thực tế buôn bán quốc tế ngày nay, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam thường
lựa chọn đồng USD là đồng tiền tính toán và thanh toán. Việc các doanh nghiệp Việt
Nam phụ thuộc vào đồng USD trong thanh toán quốc tế và dự trữ ngoại tệ đã tiềm ẩn
một nguy cơ rủi ro cao. Mức độ rủi ro ở đây sẽ phụ thuộc vào nền kinh tế Mỹ, vào sự ổn
định của đồng USD. Một khi nền kinh tế Mỹ suy thoái, đồng USD mất giá sẽ làm tác
động mạnh đến các hoạt động kinh doanh quốc tế cùa Việt Nam cũng như giới kinh
doanh toàn cầu.
Hiện nay, trong quan hệ kinh doanh quốc tế, số lượng các doanh nghiệp chủ động
được nguồn ngoại tệ là không nhiều, do đó, việc kết quả kinh doanh của các doanh
nghiệp chịu ảnh hưởng nhiều từ biến động của tỷ giá hối đoái là không thể tránh khỏi.
2.3. Rủi ro về chính sách
Rủi ro chính sách là loại rủi ro đứng thứ 2 trong số các rủi ro mà các doanh nghiệp
Việt Nam thường gặp nhất.
Các doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt những thay đổi trong chính sách của
Việt Nam lẫn những thay đổi trong chính sách của nước đối tác.
Chính phủ Việt Nam hiện nay đang theo đuổi một chính sách quản lý kinh tế theo
cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước thông qua hệ thống chính sách, công cụ
pháp luật, cơ chế điều hành. Để xây dựng được một hệ thống chính sách vĩ mô, thiết lập
một cơ chế điều hành kinh tế hoàn hảo cần phải có thời gian dài không ngừng nghiên
cứu hoàn thiện, thử nghiệm, áp dụng, hiệu chỉnh Tuy vậy, hoạt động kinh doanh
thường ngày không thể chờ đợi một hệ thống chính sách và cơ chế điều hành hoàn hảo
được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp qui, hướng dẫn thi hành mới thực hiện. Nền kinh

là phương thức được lựa chọn nhiều nhất bởi nó an toàn nhất trong buôn bán quốc tế
hiện nay. Tuy nhiên, ngay cả phương thức này cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro do tính
chất phức tạp của nó. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam quy định chứng từ, hàng hoá quá sơ
sài trong L/C, tạo điều kiện cho người bán giao hàng khác với hợp đồng nhưng vẫn có
thể lập được một bộ chứng từ hoàn hảo theo L/C và lấy được tiền thanh toán. Có những
doanh nghiệp ra ngân hàng xin mở L/C, trong phần mô tả hàng hoá chỉ yêu càu ghi
“Commodities, unit prices, detail description as per sales contract N o . . K h i ngân hàng
tư vấn nên quy định chi tiết về hàng hoá ngay trong L/C thì doanh nghiệp từ chối, với lý
do để cả hai bên chủ động trong việc giao nhận hàng khi giá cả và cung cầu biến động.
Hay có những trường hợp, các doanh nghiệp Việt Nam, do thiếu kinh nghiệm đã
bị phía nước ngoài ép đưa vào L/C những quy định về chứng từ không rõ ràng hoặc quá
phức tạp dẫn đến việc hàng đã chuyển sang nước người mua rồi nhưng do lỗi chứng từ
nên không được thanh toán.
2.6. Rủi ro, tổn thất do lừa đảo (rủi ro đạo đức)
Rủi ro lừa đảo chính là hậu quả của các hành vi vô đạo đức của con người, lợi
dụng sự thiếu hiểu biết, tin người và sự phức tạp trong các tình huống kinh doanh. Lừa
đảo trong kinh doanh hết sức đa dạng, mỗi một lĩnh vực khác nhau lại có những thủ đoạn
lừa đảo khác nhau.
Ngày nay thường gặp những dạng lừa đảo phổ biến trong buôn bán quốc tế như
lừa đảo về chứng từ, lừa đảo không thực hiện hợp đồng thuê tàu, đánh chìm tàu, lừa đảo
bằng tàu ma, địa chỉ ma, mạo danh, mua để bán, lừa đảo trang khi ký kết hợp đồng,
thanh toán Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, lừa đảo kinh tế ở Việt Nam cũng
có những diễn biến phức tạp. Theo báo cáo tồng kết của lực lượng cánh sát kinh tế (Bộ
Công an) từ năm 1989 đến năm 2000 thì ứong vòng hơn 10 năm đã có hơn 1655 vụ lừa
đảo kinh tế ưong và ngoài nước với mức thiệt hại là han 2468 tỷ đồng, trong đó có 108
vụ lừa đảo quốc tế với mức thiệt hại khoảng gần 227 tỷ đồng. Tuy các vụ lừa đảo quốc tế
chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tồng số các vụ lừa đảo (khoảng 6,5%) nhưng mức độ
nghiêm trọng cao hơn các vụ lừa đảo kinh tếtrong nước. Nạn nhân thường là những
thương nhân Việt Nam. Các vụ lừa đảo chủ yếu xảy ra trong quá trình giao dịch, đàm
phán, ký kết hợp đồng thương mại giữa các bên với nội dung không chặt chẽ, không đảm

3.1.2. Các nguyên nhân có nguồn gốc từ môi trường pháp lý chính trị

Cuối thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, dù cuộc chiến tranh lạnh đã lùi
vào dĩ vãng, nhưng trên thế giới vẫn liên tiếp xảy ra các cuộc xung đột vũ trang, các cuộc
chiến tranh khốc liệt, gây nên những tổn thất to lớn về người và của, để lại hậu quả cực
kỳ nghiêm trọng về chính trị, kinh tế, xã hội cho nhiều quốc gia dân tộc, đẩy cuộc sống
cùa nhân dân nhiều nước và khu vực rơi vào thảm họa của sự nghèo đói, chết chóc, bệnh
tật, tỵ nạn Theo thống kê sơ bộ, chỉ tính từ năm 1990 đến nay, trên thế giới đã xảy ra
hàng trăm cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang lớn nhỏ, cướp đi sinh mạng của hàng
chục vạn người với mức thiệt hại về vật chất lên đến trên 3000 tỷ USD. Bên cạnh đó, các
cuộc khủng bố đẫm máu mang màu sắc chính trị xảy ra liên tiếp, điển hình là vụ khủng
bố ngày 11/9/2001 ở Mỹ, nơi được coi là an ninh tốt nhất thế giới; đồng thời làn sóng
biểu tình, bãi công dâng cao ở khắp các thành phố các nước gây ra rất nhiều tổn thất về
người và của.
Nguyên nhân chủ yếu xảy ra xung đột chính trị trên thế giới xuất phát từ những
mâu thuẫn về chính trị, lợi ích kinh tế, về biên giới lãnh thổ giữa các sắc tộc, giữa các
đảng phái, giữa các tôn giáo, các quốc gia, dân tộc, cộng đồng người rất khó có thể dung
hòa. Do đó, các cuộc xung đột này diễn ra rất dai dẳng, tính chất, mức độ của nó ngày
càng nghiêm trọng. Trong khi đó, một số thế lực chính trị ở các nước lớn quan niệm: mọi
mâu thuẫn có thể giải quyết bàng con đường quân sự, nước lớn có thể áp đặt chính trị
cho nước nhỏ thông qua sức mạnh quân sự, nên khi cần, họ có thể phát động chiến tranh
với các nước khác; hoặc luôn khuyến khích, tài trợ cho các cuộc bạo động chính trị, gây
bất ổn về chính trị, tạo ra thị trường vũ khí làm lợi cho các nước sản xuất vũ khí chiến
tranh.Ngày mà toàn bộ thế giới trở nên hòa bình là còn rất xa. Đây chính là những nguy
cơ rủi ro mà các doanh nghiệp phải nhận diện và phân tích đầy đủ trong chiến lược kinh
doanh của mình.
3.1.3. Các nguyên nhân do thiếu hiểu biết môi trường văn hoá - xã hôi đa dạng của các dân
tộc khác nhau trên thế giới

Môi trường văn hóa - xã hội của mỗi một quốc gia, dân tộc sẽ chi phối mạnh mẽ

giảm càng đẩy nhanh sự sụt giá của đồng nội tệ ở các nước, đã làm trầm trọng thêm
khủng hoảng. Tình trạng đó làm cho rất nhiều ngân hàng không có khả năng chi trả dẫn
đến sự phá sản; các chỉ số chứng khoán giảm mạnh do trị giá nhiều cổ phiếu giàm mạnh,
sự rối loạn trong hoạt động kinh tế, xã hội gia tăng (nạn đầu cơ phát triển, môi trường
đầu tư, kinh doanh bị ảnh hưởng, phá sản tăng, thất nghiệp tăng ).
Như vậy, khủng hoảng kinh tế (trong đó có khùng hoảng tài chính - tiền tệ) là một
căn bệnh kinh niên của kinh tế thị trường xảy ra theo chu kỳ. Một khi xảy ra, nó mang
lại hậu quả rất nghiêm trọng cho nền kinh tế của nhiều quốc gia. Tuy nhiên, mức độ ảnh
hưởng của khủng hoảng kinh tế lại rất khác nhau, phụ thuộc vào sự can thiệp của Chính
phủ, mức độ mở cửa nền kinh tế, vào bản thân quy mô của nền kinh tế quyết định.
Khủng hoảng kinh tế là nguyên nhân gây ra nạn thất nghiệp, qua đó giảm sức mua của
thị trường quốc tế và thu hẹp thị trường xuất khẩu của nhiều quốc gia.
3.1.5. Các nguyên nhân có nguồn gốc từ chính sách kinh tế và môi trường pháp lý thiếu ổn
định, thiếu rõ ràng, minh bach của các nước trên thế giới

Chính sách phát triển kinh tế mỗi quốc gia thường được cụ thể hóa bàng một hệ
các văn bản pháp luật và cơ chế điều hành. Trong thực tế, nhiều khi hệ thống các văn
bản pháp lý và cơ chế điều hành mâu thuẫn thậm chí trái ngược với chính sách kinh tế
chung của Nhà nước. Sự thay đổi và tính không ổn định của các chính sách kinh tế và hệ
thống các văn bản pháp lý là một trong các nguyên nhân dẫn đến các rủi ro trong kinh
doanh quốc tế mà các doanh nghiệp thường gặp phải. Kinh nghiệm cùa các doanh
nghiệp cho thấy: khi kinh doanh với các đối tác ở một số nước đang phát triển thuộc
Châu Phi, Châu Á, Nam Mỹ môi trường pháp lý phức tạp, không rõ ràng hay thay đổi
của Chính phủ các nước sở tại cộng với cơ chế điều hành của chính quyền thường rườm
rà, thiếu kỷ cương, công khai, dân chù nên có thể gây ra các rủi ro cho các doanh nghiệp,
làm cho doanh nghiệp mất toàn bộ sổ vốn đã đầu tư, chi phí kinh doanh tăng dẫn đến
giảm sức cạnh tranh trên thị trường, thu nhập của doanh nghiệp giảm, thậm chí bị lỗ
trong kinh doanh.
3.1.6. Các nguyên nhân có liên quan đến sự phát triển của kĩ thuật công nghệ


tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngược lại, việc lựa chọn một chiến lược
kinh doanh sai lầm cùa lãnh đạo doanh nghiệp sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng.
Nó dẫn doanh nghiệp vào đường đi bế tắc, sai lầm, gây ra những thiệt hại, thua lỗ lớn
cho doanh nghiệp. Đây là nguy cơ lớn nhất dẫn đến sự đổ vỡ, phá sản của một doanh
nghiệp.
Ngoài ra, việc thiếu một chiến lược kinh doanh hoàn chỉnh cũng sẽ gây ra những
hậu quả nghiêm trọng không kém so với việc lựa chọn sai lầm chiến lược kinh doanh. Do
không có chiến lược nên hoạt động kinh doanh mang nặng tính "tình thế”, "chộp giựt”,
khi gặp phải rủi ro bất ngờ, thất bại là không thể tránh khỏi.
3.2.2. Sự thiếu thông tin kinh doanh dẫn đến những quvết định sai lầm gây ra rủi ro trong
kinh doanh.

Có thể nói trong nền kinh tế thị trường, thông tin có một vai trò hết sức quan trọng
trong việc quản trị doanh nghiệp. Lãnh đạo doanh nghiệp chỉ có thể ra được các quyết
định đúng đắn, đem lại hiệu quà cao cho doanh nghiệp trên cơ sở nguồn thông tin chính
xác, đầy đủ và kịp thời về tình hình thị trường, đối tác kinh doanh, đối thủ cạnh tranh,
môi trường luật pháp trong nước cũng như quốc tế.v.v
Sự thiếu thông tin hoặc có những thông tin không chính xác sẽ dẫn đến các quyết
định quản lý sai lầm, dễ bị lừa đảo, không xác định rõ sức mạnh của đối thú cạnh tranh,
thị trường phù hợp .Đây chính là những nguyên nhân dẫn đến rủi ro, thất bại trong kinh
doanh.
3.2.3. Sư yếu kém về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt: quy mô về lao
động và vốn, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp và
hiệu quả sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp.
Sự yếu kém về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ dẫn đến các hậu quả như:
chất lượng hàng hoá thấp kém, giá thành cao dẫn đến sản phẩm không có khả năng cạnh
tranh trên thị trường đặc biệt là thị trường quốc tế, gây ra sự thiếu tin tưởng của đối tác,
khách hàng, không có khả năng ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế lớn.v.v

PHẦN IV: CASE STUDY “QUẢN TRỊ RỦI RO Ở NGÂN HÀNG ACB”
GIỚI THIỆU
Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu (tên giao dịch bằng tiếng Anh: Asia
Commercial Bank), được gọi tắt là Ngân hàng Á Châu (ACB), chính thức đi vào hoạt
động kinh doanh sau ngày 4 tháng 6 năm 1993. Đây là một trong những ngân hàng
thương mại cổ phần lớn thuộc loại hàng đầu của Việt Nam, với hệ thống mạng lưới chi
nhánh rộng khắp và là nơi làm việc của hơn 9.000 nhân viên, với nhiều loại hình sản
phẩm, dịch vụ đa dạng.
Nguồn: acb.com.vn
DIỄN TIẾN CỦA RỦI RO
Ngày 21/08/2012, thị trường tài chính Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Á
Châu (ACB) nói riêng đã rúng động mạnh chưa từng có trước thông tin Nguyễn Đức
Kiên, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng sáng lập ACB, người gắn với h ình ảnh của ACB
nhiều năm đã bị bắt giam để điều tra về các sai phạm trong hoạt động kinh tế. Gần 9 năm
kể từ vụ tin đồn thất thiệt “Tổng giám đốc ACB bỏ trốn tháng 10/2003”, một bóng đen
mới của rủi ro lại bao trùm lên ngân hàng này.
Mức độ ảnh hưởng nghiệm trọng của sự việc này, ngay lập tức đã được thể hiện. Chỉ
trong vòng 3 ngày sau đó, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đã bốc hơi 5,6 tỷ
USD, chưa kể đến chuỗi phiên giảm điểm kéo dài sau đó. Hàng nghìn tỷ đồng đã bị rút ra
khỏi ACB chỉ trong vài ngày.
Sóng gió liên tiếp ập đến với ACB. Ba ngày sau khi Bầu Kiên bị bắt giam, như một hệ
quả, ông Lý Xuân Hải – nguyên Tổng giám đốc ACB cũng bị bắt giam. Mức độ nghiêm
trọng của sự việc chưa dừng lại ở đó khi hơn một tháng sau, ngày 27/09/2012, nguyên
Chủ tịch Hội đồng quản trị - Trần Xuân Giá và 3 nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị
ACB lần lượt từ nhiệm và bị khởi tố.
HẬU QUẢ
Mặc dù ACB đã trả lời báo chí. “Việc tạm giam ông Kiên là quyết định của cơ quan
chức năng, do vậy không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của NH”, nhưng do hình
ảnh ông Kiên đã gắn chặt với ACB lâu nay và đặc biệt là do tốc độ lan truyền chóng mặt
trên không gian mạng mà thông tin chủ đạo ập đến với nhiều người vẫn là: “bầu Kiên bị

thua lỗ ở mức 1.700 tỷ đồng. Hội đồng quản trị mới với những trụ cột là gia đình ông
Trần Mộng Hùng và Ngân hàng Standard Chartered đang nỗ lực giải quyết những hậu
quả để lại.
CÁCH XỬ LÝ CỦA ACB
Bước 1: Đánh giá tình hình
Vì đã có kinh nghiệm đối phó với khủng hoảng vào năm 2003 nên ngay trong tối
ngày 20/8, toàn thể ban lãnh đạo của ACB đã họp để thống nhất những kịch bản cụ thể để
kiểm soát tình hình. Theo đó, ngân hàng đã đề ra 5 kịch bản, gồm: Bình thường, hơi
đông, hỗn độn, khẩn cấp và khủng hoảng, và đưa ra 5 phương án để giải quyết. Tuy tình
hình ngày 22/8 căng thẳng gấp 3 lần so với ngày 21 nhưng vẫn chỉ nằm ở mức độ 2 và 3,
nhẹ hơn so với những gì ACB dự đoán. Như vậy có nghĩa là, ACB đã tự đánh giá được
tình hình sẽ chỉ kịch trần ở mức “hỗn độn”, cấp độ 3, chứ khó có thể bị đẩy đến thế khẩn
cấp, khủng hoảng đáng báo động. Trong ba ngày thông tin đậm đặc nhất với dồn dập sự
kiện ông Kiên bị bắt giam, cựu tổng giám đốc Lý Xuân Hải bị b
ắt thì “lửa” vẫn chưa thể bén gót ACB
Bước 2: Trấn an dư luận:
Bởi dư luận vẫn nhìn nhận vai trò của ông Kiên tại ngân hàng ACB là rất lớn nên
điều quan trọng là phản ứng nhanh và kịp thời của ACB trong tình huống này.Phản ứng
đầu tiên của ACB sau khi lệnh bắt “bầu” Kiên được loan báo hôm 20/8 là thông báo phát
đi khẳng định “ông Kiên không còn là cổ đông lớn, cũng không phải thành viên Hội đồng
quản trị, không tham gia ban điều hành của ngân hàng ACB”. Ngân hàng Á Châu trong
ngày 22/8 đã tạm thời cử Phó tổng giám đốc Đỗ Minh Toàn điều hành thay cho Tổng
giám đốc Lý Xuân Hải đang phải hợp tác với cơ quan điều tra sau vụ bắt giam ông
Nguyễn Đức Kiên.Trong ba ngày cao điểm (từ 20/8 đến 23/8) ACB đã liên tiếp tung ra
nhiều cách thức để trấn an khách hàng, ổn định tình hình tại ACB dưới mắt nhìn từ bên
ngoài của công chúng
Song song với việc nhờ NHNN xác nhận Nguyễn Đức Kiên bị bắt không liên quan
tới ACB và các ngân hàng khác, phía ngân hàng ACB cũng đã xác nhận nguyên phó chủ
tịch Nguyễn Đức Kiên đang là sở hữu dưới 5% cổ phần, không phải cổ đông lớn, thuộc
diện không phải công bố thông tin. Với bản chất mối liên hệ giữa ông Kiên và ACB đã

Thông cáo này không bỏ qua việc giới thiệu về ông Đỗ Minh Toàn, là Nhà lãnh
đạo trẻ triển vọng của Việt Nam 2007 do The Asian Banker công nhận, từ phó tổng giám
đốc thường trực, nay làm Tổng giám đốc thay cho Ông Lý Xuân Hải – theo đơn từ
nhiệm. Chỉ tiếc công luận không đọc được dòng nào nói về vai trò hay phát biểu của ông
Trần Xuân Giá trong vai trò Chủ tịch hội đồng quản trị, người được cho là đang đi công
tác nước ngoài.
Bước 4 : Đảm bảo khả năng thanh khoản
ACB cam kết chi trả toàn bộ số tiền khách hàng đang để tại ACB nếu khách hàng
có nhu cầu rút, để giải quyết khủng hoảng,. Tuy nhiên, khi giải quyết các khoản tiền gửi,
ACB không để khách hàng rút tiền ngay mà chỉ đưa ra lịch hẹn. Dù lượng khách hàng
giao dịch rất đông nhưng do đã được chỉ thị từ trước, các nhân viên giao dịch luôn sẵn
sàng cung cấp thông tin, giải thích, trả lời cặn kẽ mọi câu hỏi của khách hàng. Nếu khách
hàng còn băn khoăn và vẫn muốn tất toán, nhân viên giao dịch sẽ hẹn lại giao dịch vào
một ngày khác để khách hàng đến rút lại tiền.Việc hẹn lại khách hàng nhằm mục đích
giúp khách hàng bình tĩnh hơn sau khi nghe quá nhiều tin đồn.
Theo ACB, ngân hàng này triển khai các chương trình để thu hút người dân gửi
tiền trở lại như chương trình tiết kiệm 12+ Theo đó, nếu khách hàng gửi tối thiểu 100
triệu đồng, kỳ hạn 12 tháng, lãnh lãi định kỳ sẽ nhận được lãi suất lên đến 12%/năm.
Từ ngày 25-8 ACB bắt đầu triển khai chương trình khuyến khích gửi lại đối với khách
hàng đã rút tiền. Theo đó, khách hàng đã rút tiết kiệm nếu gửi lại sẽ nhận được quà
tặng, đồng thời khách hàng lỡ rút tiền trước khi đáo hạn nay gửi lại đến đáo hạn sẽ
được ACB giữ nguyên lãi suất như trên sổ tiết kiệm, thay vì chỉ nhận được lãi suất
không kỳ hạn.
ACB cũng đã ký kết với một số ngân hàng về việc tài trợ thanh khoản. Ngoài
ra, ACB có cổ đông chiến lược là Ngân hàng Standard Chartered, cùng với các cổ
đông nước ngoài khác bao gồm Jardines và Dragon Capital. Trong khả năng của
mình, những cổ đông này vẫn liên tục hỗ trợ ACB. Bên cạnh đó, ACB còn đánh tiếng
với những đối tác gửi tiền lớn, lâu năm của mình để họ hợp tác và không rút tiền ra
vào thời điểm này để đảm bảo sự an toàn cho hệ thống.
Đối với các khoản vay, ACB đã ngay lập tức giảm hạn mức giải ngân từ 2 tỷ đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status