3BBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
4BTRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
====== ∗ ∗ ∗ ======
ĐINH NGỌC TUẤN RỦI RO VÀ CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ CHẾ RỦI RO TRONG THOẠT
ĐỘNG KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM
0BLUẬN VĂN THẠC SỸ
Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số : 5.02.12
1BLUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS. NGUYỄN NHƯ TIẾN
Hà nội - 2004
LỜI CAM ĐOAN
CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT
DN: Doanh nghiệp
ICC: Phòng thương mại quốc tế
L/C: Tín dụng thư
TTQT: Thanh toán quốc tế
UCP 500: Quy tắc thống nhất và thực hành về tín dụng chứng từ
XK: Xuất Khẩu
NK: Nhập Khẩu
XNK: Xuất nhập khẩu DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
1 MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Chính sách phát triển kinh tế Việt Nam hoà với xu thế phát triển chung
là mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Là một lĩnh vực quan trọng
đƣợc các nƣớc ƣu tiên trong quan hệ kinh tế quốc tế, hoạt động kinh doanh
XNK nhƣ một thƣớc đo, cầu nối quan trọng. Hoạt động này đặc biệt có tiền
đề phát triển mạnh mẽ khi xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá và tự do thƣơng
mại trở thành một nhu cầu tất yếu của đời sống thƣơng mại toàn cầu với sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ. Sau đại hội VI của Đảng, nhờ
sự đổi mới mạnh mẽ trong tƣ duy kinh tế, giải phóng sức lao động, phƣơng
thức quản lý kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động XNK phát triển và
tăng trƣởng hơn bao giờ hết. Sự tăng trƣởng kinh tế và thƣơng mại với tốc độ
cao, đời sống nhân dân không ngừng đƣợc cải thiện là một minh chứng cho
chủ trƣơng, đƣờng lối đúng đắn của Đảng và Nhà nƣớc ta.
Tuy nhiên, hoạt động XNK không chỉ mang lại những lợi ích kinh tế mà
còn làm phát sinh nguy cơ gây rủi ro, gây tổn thất, làm ảnh hƣởng trực tiếp
hoặc gián tiếp tới kết quả kinh doanh của DN, của ngành nghề, ảnh hƣởng
đến bộ phận lao động hoặc nền kinh tế. Với sự hình thành của mạng thông tin
Nghiên cứu những rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK của Việt
Nam trong những năm đổi mới, từ đó làm cơ sở giải quyết từng vấn đề trong
luận văn.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các biện pháp nghiên cứu trên cơ sở phƣơng pháp duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin để luận giải các
3 vấn đề liên quan, bên cạnh đó luận văn còn sử dụng phƣơng pháp thống kê,
phân tích, so sánh
6. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng
Chƣơng 1: Lý luận chung về rủi ro - rủi ro trong hoạt động kinh doanh
xuất nhập khẩu.
Chƣơng 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động kinh doanh XNK Việt
Nam.
Chƣơng 3: Giải pháp ngăn ngừa - hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh
doanh xuất nhập khẩu.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của thầy giáo hƣớng dẫn PGS. TS
Nguyễn Nhƣ Tiến, các thầy cô giáo, các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi
hoàn thành luận văn này.
đƣợc tác động, hậu quả của rủi ro.
Theo nhà kinh tế học Irving Pfeffer “ Rủi ro là một tổng hợp sự ngẫu
nhiên có thể đo lƣờng đƣợc bằng xác suất” hay “ rủi ro là những biến động
5 tiềm ẩn ở kết quả, là giá trị hay kết quả hiện thời chƣa biết đến”. “Rủi ro là
những tai nạn sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, gây thiệt hại về
ngƣời và tài sản “.
Theo khái niệm rủi ro trong bảo hiểm thì “ Rủi ro là những tai nạn, tai
hoạ, sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên, hoặc những mối de doạ nguy
hiểm khi xảy ra thì gây tổn thất cho đối tƣợng bảo hiểm”.
Hai khái niệm về rủi ro này đề cập cụ thể hơn về rủi ro và hậu quả của
nó đồng thời đề cập đến thiệt hại vật chất có thể đo lƣờng đƣợc, có thể làm
phƣơng hại tới mọi hoạt động của con ngƣời.
Trong hoạt động cuộc sống hàng ngày cũng nhƣ trong hoạt động kinh tế
luôn hàm chứa rủi ro. Từ những quan niệm nêu trên, ta có thể nêu khái niệm
rủi ro nhƣ sau [1]:
Rủi ro là những tai hoạ, tai nạn, sự cố bất ngờ, ngẫu nhiên xảy ra, gây
thiệt hại về người và tài sản trong cuộc sống hàng ngày và trong hoạt động
kinh tế của con người.
Khi đề cập đến rủi ro, chúng ta thƣờng đề cập tới những yếu tố tiêu cực,
phiến diện gây ảnh hƣởng, hậu quả đối với con ngƣời. Do đó, nghiên cứu rủi
ro và đề ra các biện pháp hạn chế là hoạt động cần thiết.
1.1.2. KHÁI NIỆM RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XNK
Kinh doanh XNK là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro và mạo hiểm do
đặc thù của hoạt động này bởi sự xa cách về mặt địa lý, sự khác biệt về môi
trƣờng kinh doanh, chính trị và văn hoá
Qua xem xét một số quan niệm về rủi ro cũng nhƣ xuất phát từ thực tế
7 Rủi ro có tính tƣơng lai vì khi bàn đến rủi ro nghĩa là nó chƣa xảy ra, con
ngƣời chỉ dự đoán, đo lƣờng trƣớc trong tƣơng lai, ở thời điểm ta dự báo rủi
ro chƣa xảy ra. Căn cứ vào tính khả năng và tính tƣơng lai của rủi ro, ngƣời ta
có thể “kinh doanh rủi ro”- bảo hiểm.
- Rủi ro có tính lịch sử.
Rủi ro mang tính lịch sử, ứng với mỗi giai đoạn nhất định, mỗi chủ thể
doanh nghiệp cụ thể, rủi ro mang tính riêng biệt. Hoạt động xuất nhập khẩu
phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá, với sự tham gia của
nhiều nền kinh tế khác nhau trên thế giới. Do đó, rủi ro xuất nhập khẩu mang
tính lịch sử. Đặc trƣng của những rủi ro này luôn thay đổi, phù hợp với từng
giai đoạn phát triển của nền kinh tế, ví dụ nhƣ khi nền khoa học kỹ thuật,
công nghệ càng phát triển, kỹ thuật đóng tầu hiện đại hơn với những con tàu
an toàn hơn, khắc phục nhiều hơn yếu tố rủi ro thiên tai đối với vận tải biển,
song đồng thời cũng mở ra nhiều hình thức thƣơng mại mới, thanh toán mới
và nảy sinh những loại rủi ro mới.
Ngoài những đặc điểm chung nói trên, rủi ro trong hoạt động XNK so
với rủi ro kinh doanh nói chung có một số điểm chú ý sau:
Một là vì hoạt động XNK vƣợt ra ngoài biên giới quốc gia nên các doanh
nghiệp chịu nhiều nguy cơ rủi ro cả trong và ngoài nƣớc, gồm nhiều nhân tố
khách quan và chủ quan vì vậy rủi ro XNK có tần xuất lớn hơn.
Hai là rủi ro trong hoạt động XNK gắn liền, trực tiếp với sự biến động
của các nhân tố toàn cầu nhƣ khủng hoảng, suy thoái kinh tế khu vực và thế
giới, phạm vi mức độ cạnh tranh quốc tế.
Ba là kinh doanh XNK là hoạt động phức tạp liên quan đến nhiều yếu tố
nhƣ chủ thể kinh doanh, ngôn ngữ, luật áp dụng, tập quán thƣơng mại, sự dịch
- Rủi ro riêng biệt là rủi ro mà hậu quả của nó chỉ ảnh hƣởng đến một số
cá nhân, tổ chức mà không ảnh hƣởng đến toàn bộ xã hội. Ví dụ nhƣ đắm tàu,
cƣớp ngân hàng, hay cháy một nhà máy
Tuy nhiên, cách phân loại trên chỉ mang tính tƣơng đối, tuỳ thuộc vào
quan niệm của cộng đồng, xã hội ở mỗi hoàn cảnh lịch sử khác nhau, rủi ro
riêng biệt có thể chuyển thành rủi ro cơ bản và ngƣợc lại.
1.2.3. CĂN CỨ VÀO KHẢ NĂNG BẢO HIỂM
Theo căn cứ này, rủi ro đƣợc chia làm hai loại. Đó là rủi ro có thể bảo
hiểm và rủi ro không thể bảo hiểm.
- Rủi ro có thể bảo hiểm:
Cách phân loại rủi ro có thể bảo hiểm đứng trên góc độ ngƣời kinh
doanh dựa vào đặc điểm “tính khả năng và tính tƣơng lai của rủi ro”. Khi xem
xét rủi ro có thể bảo hiểm hay không ngƣời bảo hiểm phải xác định rủi ro dựa
trên hai cơ sở sau:
Một là chỉ bảo hiểm cho rủi ro hoàn toàn ngẫu nhiên, rủi ro cố ý gây ra
phải bị loại trừ.
Hai là rủi ro có thể lƣợng hoá, tức là hậu quả của rủi ro đó quy thành tổn
thất vật chất.
- Rủi ro không thể bảo hiểm: là những rủi ro không đáp ứng hai tiêu chí
trên.
1.2.4. CĂN CỨ VÀO NGUYÊN NHÂN SINH RA RỦI RO
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, ta có thể chia rủi ro làm các
loại sau:
10 - Rủi ro do thiên tai, thiên tai là những hiện tƣợng tự nhiên mà con ngƣời
Rủi ro về chính trị, pháp luật
Là rủi ro do chính sách mà chính phủ áp dụng nhằm điều tiết hoạt động
kinh doanh XNK làm hạn chế, ảnh hƣởng đến hoạt động của các doanh
nghiệp, các nhà đầu tƣ. Cụ thể hơn đó có thể là khả năng mà các cơ quan chức
năng của chính phủ có thể tạo nên sự thay đổi, xáo trộn môi trƣờng kinh
doanh của quốc gia tác động đến lợi nhuận và những mục tiêu khác của doanh
nghiệp. Đây là rủi ro mà các nhà xuất khẩu cần phải chú ý vì trƣớc khi xây
dựng chiến lƣợc xuất khẩu hay quyết định ký kết một hợp đồng kinh tế, các
doanh nghiệp xuất khẩu phải dựa vào tình hình kinh tế xã hội, dựa trên văn
bản quy phạm pháp luật của đối tác. Biến động về chính trị, pháp luật xảy ra
sẽ làm đảo lộn mọi dự đoán của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh
XNK, rủi ro chính trị, pháp lý là loại rủi ro khó lƣờng. Một số loại rủi ro
chính trị nhƣ:
- Chính sách quản lý ngoại hối, thuế, hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới
hạn thƣơng mại khác thay đổi làm thay đổi khoản thu nhập cũng nhƣ khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Chính sách tuyển dụng lao động: sự thay đổi những quy định về quản
lý và tuyển dụng lao động, ví dụ nhƣ thay đổi tiền lƣơng tối thiểu, lao động
nữ hoặc hạn chế lao động nƣớc ngoài.
- Lãi suất: Chính phủ có thể đƣa ra nhiều biện pháp sử dụng lãi suất để
quản lý và kiểm soát lạm phát. Vấn đề có thể nảy sinh theo thời gian tác động
đến tiền tệ của quốc gia
- Giấy phép độc quyền, chính sách tài trợ hoặc bảo trợ một ngành nào
đó, quyền phát triển hoặc khai thác nguồn tài nguyên hay cơ hội kinh doanh.
12 - Môi trƣờng, sức khoẻ và an toàn, những quy định liên quan đến kiểm
soát chất thải, quy định về bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
13. Lạm phát qua hai năm
14. Khả năng của thị trƣờng vốn nội địa
15. Lực lƣợng lao động chất lƣợng cao
16. Khả năng thuê nhân công nƣớc ngoài
17. Nguồn năng lƣợng sẵn có
18. Những tiêu chuẩn về ô nhiễm môi trƣờng
19. Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống vận tải và thông tin
truyền thông Những mối
quan hệ
kinh tế với
nƣớc ngoài
20. Những hàng rào nhập khẩu
21. Những hàng rào xuất khẩu
22. Những rào cản về đầu tƣ nƣớc ngoài
23. Sự tự do trong thiết lập hay cam kết về hình thức công ty
24. Sự bảo vệ của luật pháp đối với nhãn hiệu và sản phẩm
25. Sự hạn chế trong chuyển tiền
26. Sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái
27. Tình hình cán cân thanh toán
28. Dòng chảy vốn nƣớc ngoài qua việc nhập khẩu dầu và
năng lƣợng
29. Vị trí tài chính quốc tế
30. Những hạn chế trong chuyển đổi từ đồng nội tệ sang
ngoại tệ
14 Không am hiểu về lối sống, ngôn ngữ của quốc gia đó.
Khai thác hình ảnh quảng cáo để kích thích sự quan tâm của ng-ời tiêu
dùng nh-ng lại thể hiện một cách quá mức gây tác động ng-ợc.
1.2.5. CN C VO HOT NG KINH DOANH XNK
Ri ro trong quỏ trỡnh chun b ngun hng xut khu, chun b hng
xut khu qua nhiu cụng on, cỏc sn phm hng hoỏ thng qua giai on
sn xut, ch bin hoc gom hng t nhiu ngun. Do ú, quỏ trỡnh ny
thng nh hng bi iu kin mụi trng t nhiờn, hoc cỏc yu t u vo
khụng n nh v bin ng tu thuc vo mi loi hỡnh v quy mụ hot ng
ca doanh nghip.
Ri ro trong m phỏn
Cỏc phng tin m phỏn ch yu trong thng mi quc t thng l:
m phỏn bng th tớn, m phỏn qua in thoi hoc m phỏn giao dch
trc tip. Tu thuc vo hỡnh thc m phỏn cỏc doanh nghip cú th gp
nhng ri ro khỏc nhau:
Hỡnh thc giao dch giỏn tip (m phỏn qua th t): Ri ro cú th xy ra
khi ta chun b kộm v hỡnh thc v ni dung hoc s nhm ln v ngụn t
lm i tỏc hiu nhm, hiu sai ni dung m ta hoc i tỏc mun chuyn ti.
Giao dch qua in thoi: Ri ro cú th xy ra nu khụng thụng tho
ngụn ng quy c hai bờn dựng giao dch, thng khụng dựng ting Vit.
Do vy, nu s dng khụng thụng tho, tinh t v linh hot s d b i tỏc
hiu nhm, t chi hp tỏc doanh nghip cú th mt i nhng hp ng cú
giỏ tr.
15
ngƣợc lại vì vậy họ ít khi coi trọng đến hậu quả rủi ro có thể xảy ra.
Rủi ro trong quá trình giao nhận
Rủi ro trong quá trình này thƣờng xảy ra đối với doanh nghiệp do một số
nguyên nhân chính sau:
Thiếu thông tin về hãng tầu, lịch trình, địa điểm, chi nhánh, chuyển tải,
không chủ động trong việc chuẩn bị giao hoặc nhận hàng.
Không nắm vững các khái niệm về thời gian xếp dỡ, thời gian tàu đến
cảng xếp, dỡ hàng, do đó không chủ động giao nhận
Không nắm vững các kỹ thuật bố trí giao nhận hàng trên phƣơng tiện
vận tải để đảm bảo số lƣợng và chất lƣợng đƣợc giao, không sử dụng điều
kiện dung sai.
Chƣa thông thạo các thủ tục hải quan, không chuẩn bị đầy đủ chứng từ
cần thiết để tiến hành kiểm hoá, thông quan.
Không thông báo đã giao hàng cho bạn hàng biết theo quy định của hợp
đồng.
Không chủ động trong việc thuê tàu, nên các doanh nghiệp Việt Nam
thƣờng gặp rủi ro trong quá trình giao nhận vì các doanh nghiệp Việt Nam
thƣờng mua CIF, bán FOB.
Rủi ro trong quá trình giao nhận ảnh hƣởng lớn tới việc thực hiện hoàn
chỉnh một hợp đồng xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Bởi giao nhận là một
trong những điều kiện để giúp doanh nghiệp có những chứng từ cần thiết để
thanh toán tiền hàng, trong đó vận tải đơn là một chứng từ chứng minh việc
giao hàng của doanh nghiệp.
17 Rủi ro trong quá trình mua bảo hiểm
Phần lớn các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam đều xuất khẩu hàng hoá
với giá FOB, thực tế rất ít doanh nghiệp gặp rủi ro trong quá trình này. Rủi ro
Có hai loại nhờ thu là nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ [9 ]:
Nhờ thu trơn là phƣơng thức trong đó ngƣời bán uỷ thác cho ngân hàng
thu hộ tiền ở ngƣời mua căn cứ vào hối phiếu do mình lập ra còn chứng từ gửi
hàng thì gửi thẳng cho ngƣời mua không thông qua ngân hàng.
Phƣơng thức nhờ thu trơn rất ít đƣợc sử dụng trong thanh toán quốc tế,
nhất là đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam, vì nó không đảm bảo
quyền lợi cho ngƣời bán, việc nhận hàng của ngƣời mua tách rời khâu thanh
toán do đó tiềm ẩn rủi ro rất cao đối với ngƣời bán. Đó là việc ngƣời mua có
thể đã nhận hàng nhƣng không thanh toán hoặc chậm thanh toán. Đối với
ngƣời mua, nếu hối phiếu đến sớm hơn chứng từ, ngƣời mua phải trả tiền
ngay trong khi không biết việc giao hàng của ngƣời bán có đúng hợp đồng
hay không.
Phƣơng thức nhờ thu kèm chứng từ là phƣơng thức trong đó ngƣời bán
uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở ngƣời mua không những căn cứ vào hối
phiếu mà còn căn cứ vào bộ chứng từ gửi hàng kèm theo điều kiện là nếu
ngƣời mua chấp nhận trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ chứng từ
cho ngƣời mua để nhận hàng. Nhờ thu kèm chứng từ có hai loại, một là D/P
(Documents Against Payment - thanh toán đổi chứng từ - nhờ thu trả ngay),
ngƣời mua phải trả tiền hối phiếu thì ngân hàng mới giao bộ chứng từ cho họ.
Hai là phƣơng thức D/A ( Documents Against Acceptance - thanh toán đổi
chứng từ - nhờ thu trả chậm), thay vì hành động trả tiền bằng hành động chấp
19 nhận trả tiền của ngƣời mua. Trƣờng hợp này dùng cho việc bán chịu ngắn
ngày của ngƣời bán cho ngƣời mua.
Các rủi ro thƣờng gặp trong phƣơng thức nhờ thu:
Ngƣời mua từ chối không nhận hàng, không nhận chứng từ, không thanh
toán.
phạm vi số tiền đó khi ngƣời này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ
thanh toán phù hợp với những quy định trong thƣ tín dụng [9].
Chứng từ là vấn đề cơ bản trong phƣơng thức thanh toán bằng tín dụng.
Ngân hàng chỉ liên quan đến chứng từ và không liên quan đến xác nhận hàng
hoá đƣợc giao, ngân hàng không chịu trách nhiệm xác minh tính chân thực
của chứng từ và không chịu trách nhiệm về số lƣợng và chất lƣợng hàng đƣợc
giao.
Phƣơng thức thanh toán tín dụng chứng từ là phƣơng thức thanh toán
đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu cao nhất so với các phƣơng thức thanh
toán khác đã đề cập. Tuy nhiên, L/C không phải là phƣơng thức tuyệt đối an
toàn cho cả ngƣời xuất khẩu và ngƣời nhập khẩu:
Rủi ro đối với người nhập khẩu
Ngân hàng tiến hành trả tiền cho ngƣời hƣởng lợi dựa trên các chứng từ
xuất trình mà không dựa vào việc kiểm tra hàng hoá. Ngân hàng không chịu
trách nhiệm về tính xác thực của các chứng từ, không chịu trách nhiệm về số
lƣợng và chất lƣợng hàng đƣợc giao. Do vậy, nếu có sự giả mạo trong việc
xuất trình chứng từ giả để nhận đƣợc thanh toán thì ngƣời mua phải bồi hoàn
lại số tiền cho ngân hàng phát hành thƣ tín dụng đã trả cho ngƣời hƣởng lợi.