Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
MỞ ĐẦU
Trong quá trình cạnh tranh trên thị trường bất cứ một doanh nghiệp nào
cũng quan tâm đến lợi nhuận vì nó quyết định đến sự sống còn của doanh
nghiệp trên thương trường. Nhưng muốn có lợi nhuận và nâng cao lợi nhuận
là một vấn đề khó khăn cho doanh nghiệp, đặc biệt khi nền kinh tế thị trường
càng phát triển đòi hỏi sự cạnh tranh và đổi mới của tất cả các doanh nghiệp.
Để có lợi nhuận thì doanh nghiệp phải có những biện pháp mang lại hiệu quả
nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù có ý nghĩa rất quan trọng trong
mọi nền kinh tế, là một chỉ tiêu chất lượng tổng hợp. Đánh giá hiệu quả kinh
doanh chính là quá trình so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu về với mục
đích đã được đặt ra và dựa trên cơ sở giải quyết các vấn đề cơ bản của nền
kinh tế: sản xuất kinh doanh cái gì? sản xuất kinh doanh như thế nào? Sản
phẩm dịch vụ cho ai? Do đó việc nghiên cứu và xem xét về vấn đề nâng cao
hiệu quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu đối với mỗi doanh nghiệp trong
quá trình hoạt động kinh doanh hiện nay. Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
đang là một bài toán rất khó đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải quan tâm đến,
đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp, đòi hỏi các doanh nghiệp cần phải có độ nhạy bén, linh hoạt trong quá
trình hoạt động kinh doanh của mình.
Bản thân công ty TNHH DLT là một công ty mới thành lập, trình độ hạn
chế nhưng trong những năm qua đã có nhiều cố gắng vượt bậc trên thị trường
đã thu được lợi nhuận đáng kể . Công ty đã có nhiều biện pháp đổi mới tư duy
, phương pháp và nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên mang lại hiệu
quả cao. Là một nhân viên thực tập tại côn ty sau khi tiếp thu chương trình
đào tạo chuyên ngành “ Quản Trị Kinh Doanh “ của trường Đại học Duy Tân,
em mạnh dạn nghiên cứu đề tài “ Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 1
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
động kinh doanh của công ty TNHH DLT Quảng Ngãi “, nhằm góp phần nhỏ
5. Có phương pháp tìm kiếm và hưởng ứng lại những nhu cầu chưa được thoả
mãn và các đòi hỏi của khách hàng
- Có rất nhiều khái niệm về Doanh Nghiệp, một trong số những khái niệm
chung nhất theo Luật Doanh Nghiệp đó là: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh.
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 3
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
1.1.2. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Từ trước đến nay các nhà kinh tế học đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về
hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một trong số đó là các khái niệm cơ
bản sau :
Hiệu quả kinh doanh là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất tức là giá trị
sử dụng của nó ( hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận thu được sau quá trình
sản xuất kinh doanh ). Khái niệm này lẫn lộn giữa hiệu quả và mục tiêu kinh
doanh.
- Hiệu quả kinh doanh là sự tăng trưởng kinh tế phản ánh nhịp độ tăng của các
chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này chỉ là phiến diện, nó chỉ đúng trên mức độ biến
động theo thời gian.
- Hiệu quả kinh doanh là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả. Đây
là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về hiệu quả kinh tế.
- Hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi
phí bỏ ra. Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred - Kuhn và quan
điểm này được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng và tính hiệu
quả kinh tế của các quá trình sản xuất kinh doanh.
- Từ các khái niệm về hiệu quả kinh doanh trên ta có thể đưa ra một số khái
niệm ngắn gọn như sau: hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản
ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, vốn và các
yếu tố khác) nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đã đề ra.
đa với chi phí tối thiểu, hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí
nhất định hoặc ngược lại đạt kết quả nhất định với chi phí tối thiểu. Chi phí ở
đây được hiểu theo nghĩa rộng là chi phí để tạo ra nguồn lực và chi phí sử
dụng nguồn lực, đồng thời phải bao gồm cả chi phí cơ hội. Chi phí cơ hội là
giá trị của việc lựa chọn tốt nhất đã bị bỏ qua hay là giá trị của sự hy sinh
công việc kinh doanh khác để thực hiện hoạt động kinh doanh này. Chi phí cơ
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 5
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
hội phải được bổ sung vào chi phí kế toán và loại ra khỏi lợi nhuận kế toán để
thấy rõ lợi ích kinh tế thật sự. Cách tính như vậy sẽ khuyến khích các nhà
kinh doanh lựa chọn phương án kinh doanh tốt nhất, các mặt hàng sản xuất có
hiệu quả cao hơn.
1.2.2. Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2.1 Đối với doanh nghiệp
Hiệu quả là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Hiệu quả giữ
một vị trí hết sức quan trọng trong điều kiện hạch toán kinh doanh theo cơ chế
“lấy thu bù chi và đảm bảo có lãi” thì doanh nghiệp có tồn tại và phát triển
được hay không điều đó phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có tạo ra được lợi
nhuận và nhiệu lợi nhuận hay không? Với ý nghĩa và kết quả , mục đích, động
lực, đòn bẩy của sản xuất - kinh doanh, lợi nhuận được xem là thước đo cơ
bản và quan trọng nhất, đánh giá hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp. Hiệu
quả có tác động đến tất cả các hoạt động, quyết định trực tiếp đến tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Thực hiện tốt chỉ tiêu lợi nhuận là điều kiện quan
trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp lành mạnh, vững
chắc bởi mức lợi nhuận thực hiện cao hay thấp sẽ quyết định khả năng thanh
toán của doanh nghiệp tốt hay không tốt, trên cơ sở đó tăng thêm uy tín của
doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho các kỳ kinh doanh tiếp theo. Vậy có
thể kết luận đối với doanh nghiệp phấn đấu cải tiến hoạt động sản xuất, quản
lý tốt các yếu tố chi phí làm cho giá thành sản phẩm của doanh nghiệp hạ,
doanh nghiệp có điều kiện hạ giá bán, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm hàng
cường phúc lợi xã hội...
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh toàn bộ hiệu
quả của quá trình kinh doanh kể từ lúc bắt đầu tìm kiếm nhu cầu thị trường,
chuẩn bị và tổ chức quá trình sản xuất - kinh doanh đến khâu tổ chức bán
hàng và dịch vụ cho thị trường. Hiệu quả kinh doanh là thước đo phản ánh cả
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 7
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
mặt lượng và mặt chất. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động
từ nhiều nhân tố. Nhưng doanh nghiệp cần chú ý đến các nhân tố cơ bản sau
đây :
Nhân tố thứ nhất, Quy mô sản xuất, sản lượng hàng hóa tiêu thụ của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp có khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ tăng
lên thì doanh thu của doanh nghiệp sẽ tăng lên, điều đó có thể tạo điều kiện
cho lợi nhuận cũng tăng lên.
Nếu như cung sản phẩm của doanh nghiệp lớn hơn cầu sản phẩm của thị
trường, doanh nghiệp phải hạ giá bán dẫn đến giảm doanh thu trong khi đó
chi phí không giảm làm cho doanh nghiệp không có lợi nhuận. Bởi vì
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
Vậy đối với nhân tố sản lượng, doanh nghiệp cần nắm thông tin thị trường
một cách chính xác về nhu cầu sản phẩm thì mới có thể tăng được lợi nhuận
của doanh nghiệp lên.
Nhân tố thứ hai, giá thành sản xuất sản phẩm: Giá thành sản phẩm là biểu
hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp để hoàn thành việc sản xuất
ra sản phẩm mang tiêu thụ. Giá cả và chất lượng các yếu tố đầu vào gồm: Lao
động, nguyên vật liệu, máy móc thiết bị... và phương tiện kết hợp các yếu tố
đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh sẽ quyết định trực tiếp đến chi
phí sản xuất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh
có hiệu quả tức là doanh nghiệp phải có biện pháp nhằm giảm chi phí sản xuất
vững trên thị trường. Sức cạnh tranh càng cao là động lực thúc đẩy doanh
nghiệp cải tiến hoạt động của mình nhằm thu được lợi nhuận. Trong trường
hợp mức cạnh tranh thấp hoặc không cạnh tranh doanh nghiệp dễ tìm kiếm lợi
nhuận và ngược lại. Đây chính là nhân tố tác động rất mạnh đối với quá trình
nói trên.
Nhân tố thứ năm, những nhân tố về nguồn lực ảnh hưởng đến hiệu quả kinh
doanh đó là: nhân lực, thiết bị, công nghệ là những vấn đề quyết định đến
hiệu quả kinh doanh. Đây là những nhân tố bên trong của doanh nghiệp, đòi
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 9
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
hỏi bản thân doanh nghiệp phải xem xét và tìm ra cách giải quyết phù hợp với
năng lực và khả năng của doanh nghiệp.
1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
1.4.1 . Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
- Chỉ tiêu năng suất lao động của doanh nghiệp
Chỉ tiêu năng suất lao động của
doanh nghiệp
=
Tổng giá trị kinh doanh tạo ra trong kỳ của
doanh nghiệp
Tổng số lao động bình quân trong kỳ của
doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết một lao động sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị kinh
doanh.
- Chỉ tiêu kết quả kinh doanh trên một đồng chi phí tiền lương của doanh
nghiệp
Chỉ tiêu kết quả kinh doanh trên 1 đồng
chi phí tiền lương của doanh nghiệp
=
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong
Tổng thời gian lao động định mức của
doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian lao động thực tế so với thời gian lao động định
mức, nó cho biết tình hình sử dụng thời gian lao động trong doanh nghiệp.
1.4.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp
- Sức sản xuất vốn cố định của doanh nghiệp
Sức sản xuất vốn cố định của
doanh nghiệp
=
Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong
kỳ của doanh nghiệp
Vốn cố định bình quân trong kỳ của
doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu.
- Sức sinh lợi vốn cố định của doanh nghiệp
Sức sinh lợi vốn cố định của
doanh nghiệp
=
Lợi nhuận trong kỳ của
doanh nghiệp
Vốn cố định bình quân trong kỳ của doanh
nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn cố định trong kỳ sẽ tạo ra được bao nhiêu
đồng lợi nhuận.
- Hiệu suất sử dụng thời gian làm việc của máy móc thiết bị của doanh nghiệp
Hiệu quả sử dụng thời gian làm
việc của máy móc thiết bị của
doanh nghiệp
=
doanh nghiệp
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận.
- Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động của doanh nghiệp
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động
của doanh nghiệp
=
Vốn lưu động bình quân trong kỳ của
doanh nghiệp
Doanh thu thuần của doanh nghiệp
Chỉ tiêu này cho biết cần bao nhiêu đồng vốn lao động đảm nhiệm để tạo ra
một đồng doanh thu.
- Số vòng quay vốn lưu động của doanh nghiệp
Số vòng quay vốn lưu động
của doanh nghiệp
=
Doanh thu thuần của doanh nghiệp
Vốn lưu động bình quân trong kỳ của
doanh nghiệp
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 12
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ việc sử dụng vốn lưu động có hiệu quả và
ngược lại.
- Thời gian một vòng quay của doanh nghiệp
Thời gian một vòng quay của
doanh nghiệp
=
Thời gian kỳ phân tích của doanh
nghiệp
Số vòng quay vốn lưu động của
là công cụ hữu hiện để các nhà quản trị thực hiện các chức năng quản trị của
mình mà còn là thước đo trình độ của nhà quản trị.
Ngoài những chức năng trên của hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nó
còn là vai trò quan trọng trong cơ chế thị trường.
Thứ hai, nâng cao hiệu quả kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định
bởi sự có mặt của doanh nghiệp trên thị trường, mà hiệu quả kinh doanh lại là
nhân tố trực tiếp đảm bảo sự tồn tại đó, đồng thời mục tiêu của doanh nghiệp
là luôn tồn tại và phát triển một cách vững chắc. Do vậy, việc nâng cao hiệu
quả kinh doanh là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với tất cả các doanh
nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường hiện nay. Do yêu cầu của sự tồn tại
và phát triển của mỗi doanh nghiệp đòi hỏi nguồn thu nhập của doanh nghiệp
phải không ngừng tăng lên. Nhưng trong điều kiện nguồn vốn và các yếu tố
kỹ thuật cũng như các yếu tố khác của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong
khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng
cao hiệu quả kinh doanh. Như vậy, hiệu quả kinh doanh là hết sức quan trọng
trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo ra
hàng hóa, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội,
đồng thời tạo ra sự tích lũy cho xã hội. Để thực hiện được như vậy thì mỗi
doanh nghiệp đều phải vươn lên và đứng vững để đảm bảo thu nhập đủ bù
đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trình hoạt động kinh doanh. Có như vậy
mới đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất trong nền kinh tế. Như vậy chúng ta
buộc phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh một cách liên tục trong mọi
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 14
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
khâu của quá trình hoạt động kinh doanh như là một nhu cầu tất yếu. Tuy
nhiên, sự tồn tại mới chỉ là yêu cầu mang tính chất giản đơn còn sự phát triển
và mở rộng của doanh nghiệp mới là yêu cầu quan trọng. Bởi vì sự tồn tại của
doanh nghiệp luôn luôn phải đi kèm với sự phát triển mở rộng của doanh
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ,
Việt Nam. Được biết đến với tên gọi “ quê mía xứ đường “. Quảng Ngãi trải
dài từ 14˚32́ đến 15˚25’ Bắc, từ 108
o
06’ đến 109
o
04’ Đông, tựa vào dãy núi
Trường Sơn hướng ra biển Đông phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam
giáp tỉnh Bình Định, phía tây giáp tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông.
Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 883 km
về phía Bắc và cách Tp Hồ Chí Minh 838 km về phía Nam.
Tỉnh Quảng Ngãi bao gồm 1 thành phố trực thuộc và 13 huyện trong đó
có 1 huyện đảo, 7 huyện đồng bằng và 6 huyện miền núi. Nằm ở miền Nam
Trung bộ, có nhiều núi đồi cao, gò, thung lũng và biển cả chia làm các miền
riêng biệt. Miền núi chiềm gần bằng 2/3 diện tích. Miền đồng bằng đất đai
phần lớn là phù sa nhiều cát, đất xấu.
Tổng diện tích: 513.520 ha
Đất ở: 6594 ha
Đất nông nghiệp: 99.055 ha
Đất lâm nghiệp: 144.164 ha
Đất chuyên dùng: 20.797 ha
Đất chưa sử dụng: 37.061 ha
Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa. Nhiệt độ trung bình
25-26,9°C. Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa nắng. Khí hậu
có nhiều gió Đông Nam ít gió Đông Bắc vì địa hình địa thế phía nam, và do
thế núi địa phương tạo ra. Mưa 2.198 mm/năm nhưng chỉ tập trung nhiều nhất
vào các tháng 9, 10, 11, 12, còn các tháng khác thì khô hạn. Dân số:
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 16
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
1.271.370 người (2004). Trong đó vùng đồng bằng là 1.064.879; vùng núi là
khoảng 950 - 1.000 USD.
- Giá trị sản xuất nông - lâm - ngư tăng bình quân: 4,5 - 5 %.
- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng bình quân: 32 - 33 %.
+ Công nghiệp: 41 - 42%;
+ Xây dựng: 13 - 14%.
- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng: 13 - 14 %.
- Tỷ trọng các ngành kinh tế trong GDP đến năm 2010:
+ Công nghiệp - xây dựng: 62 - 63%;
+ Dịch vụ: 22 - 23%;
+ Nông - lâm - ngư nghiệp : 15 - 16%.
- Tỷ trọng cơ cấu lao động trong các ngành kinh tế chủ yếu đến năm 2010:
Công nghiệp 14,61%, dịch vụ 21,59% và nông nghiệp 63,8%.
- Tăng lượng khách du lịch hàng năm 15,63%, đến năm 2010 đạt trên 300.000
khách du lịch.
- Sản lượng lương thực năm 2010: đạt 420.000 tấn.
- Sản lượng mía cây năm 2010: đạt 500.000 tấn.
- Sản lượng thuỷ sản năm 2010: đạt 95.000 tấn.
- Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2010: trên 100 triệu USD.
- Thu ngân sách năm 2010: trên 1.500 tỷ đồng.
- Vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm: đạt 68.000 - 70.000 tỷ đồng.
- Số thuê bao điện thoại bình quân đạt 30 máy/100 dân vào năm 2010 .
2. Chỉ tiêu xã hội:
- Giảm tỷ suất sinh bình quân hàng năm xuống khoảng 0,4 - 0,5%o. Tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên năm 2010 là 1,02%.
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 18
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
- Đến năm 2010 có 80 - 85% hộ gia đình; 70 - 75% thôn, tổ dân phố; 90 -
95% cơ quan đạt tiêu chuẩn văn hoá.
- Tạo việc làm, giải quyết thêm việc làm mỗi năm 33.000 lao động; lao động
qua đào tạo đạt tỷ lệ 28 - 30%.
- Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ ổn định 2% so với dân số; 100% thôn có
công an viên.
Trong những năm thực hiện chỉ tiêu này, có thể kể đến sự phát triển trong 2
năm đầu đã mang lại kết quả khả quan với những bảng số liệu cụ thể như sau
Kinh tế tỉnh Quảng Ngãi năm 2006 – 2007
Cơ cấu kinh tế ( % ) 2006 2007
Nông lâm ngư nghiệp 32 34
Công nghiệp – xây dựng 33,5 36
Dịch vụ 34,5 3
Tăng trưởng kinh tế 2006 2007
GDP 12,3 13
Nông lâm ngư nghiệp 4,3 5
Công nghiệp – xây dựng 25,7 27
Dịch vụ 11,2 12
GDP bình quân đầu người: 447 USD.
Tỉnh Quảng Ngãi có khu kinh tế Dung Quất với trái tim là nhà máy lọc
dầu Dung Quất, Công ty TNHH Công Nghiệp Nặng Doosan Việt Nam, …khu
kinh tế Tịnh Phong, Quảng Phú,….
Ngày 28 tháng 5 năm 2005 thị xã Quảng Ngãi được nâng cấp lên thành
phố trực thuộc tỉnh theo quyết định số 112/2005/ NĐ-CP của Chính Phủ Việt
Nam. Với vị trí được bao quanh bởi huyện Tư Nghĩa và huyện Sơn Tịnh, diện
tích tự nhiên 3.712 hecta, dân số gần 134.400 người, thành phố có 10 đơn vị
hành chính :
1. Phường Lê Hồng Phong
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 20
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
2. Phường Nguyễn Nghiêm
3. Phường Trần Hưng Đạo
4. Phường Nghĩa Chánh
5. Phường Chánh Lộ
pháp luật về quản lý kinh tế ra đời nhằm thế chế hóa đường lối đổi mới đã xác
lập và từng bước củng cố địa vị pháp lý của nền kinh tế tư nhân nói chung và
của các công ty TNHH nói riêng. Trong thời kỳ này, hàng vạn công ty
TNHH, doanh nghiệp tư nhân ra đời và phát triển nhanh chóng cả về số lượng
lẫn chất lượng, đáp ứng nhu cầu của thị trường mới.
Công ty DLT được thành lập vào ngày 23 tháng 3 năm 2002 theo quyết
định số 454/GP – UB do Ủy Ban Nhân Dân thành phố Hà Nội cấp, có trụ sở
tại 232 Phan Đình Phùng, Quảng Ngãi. Ban đầu là 1 công ty với qui mô nhỏ
về cả nhân lực và cơ sở vật chất. Xuất phát từ đại lý vé máy bay của
VietNamAirlines, sau quá trình hoạt động kinh doanh công ty đẩy mạnh đầu
tư phát triển lên thành công ty có qui mô lớn hơn và đa dạng về dịch vụ, loại
hình kinh doanh. Ngày 10 tháng 4 năm 2002, Công ty TNHH DLT đã được
cấp giấy phép kinh doanh số 040245 với ngành nghề kinh doanh chính là :
vận chuyển hàng không, thương mại dịch vụ du lịch,…Hiện nay công ty có 1
nhà hàng lớn với các món ăn đặc sản tên là Cơm Niêu nằm trên đường Hai Bà
Trưng Thành Phố Quảng Ngãi, là đơn vị nhận làm thủ tục đi nước ngoài, gia
hạn visa, làm giấy xuất nhập cảnh. Kinh doanh bất động sản, đầu tư xây dựng
khách sạn hiện nay công ty có 1 khách sạn nằm rải rác trên khắp thành phố
Quảng Ngãi đó là : Khách sạn Bình Minh nằm trên đường Quang Trung.Qua
5 năm đầu tư phát triển hiện công ty đã có đội ngũ nhân viên lên đến hơn 50
người, tham gia vào các lĩnh vực kinh doanh khác như du lịch, vận tải hàng
không,…
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 22
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
Đến nay trụ sở công ty đã là 1 tòa nhà 5 tầng khang trang với đầy đủ
trang thiết bị, các phòng ban với các chức năng nhiệm vụ riêng đáp ứng yêu
cầu công việc.
- Năng lực tài chính của công ty :
+ Vốn pháp định : 7,500,000,000 vnd được đóng góp bởi các thành viên :
1. Ông Nguyễn Huy Yên : 4,000,000,000 vnd ( Giám Đốc )
* Giám đốc: Đại diện pháp nhân của công ty, chịu trách nhiệm về toàn bộ
hoạt động kinh doanh thương mại, thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước. Giám
đốc có quyền quyết định tất cả các công việc trong công ty. Giám đốc còn tự
chịu mọi sự rủi ro của công ty.
* Phòng kế toán: Quản lý toàn bộ tài sản của công ty, tổ chức sử dụng vốn và
nguồn vốn kinh doanh của công ty. Thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà
nước. Phân phối thu nhập, tích luỹ tính toán theo dõi hoạt động kinh doanh
của công ty, viết phiếu xuất nhập kho. Kiểm tra rồi viết hoá đơn thanh toán
rồi giao cho nhân viên các phòng thực hiện theo yêu cầu thanh toán.
* Phòng dự án: Lập và phân tích các dự án đầu tư mới:
Nghiên cứu phương án xây dựng và phát triển công ty .
- Xây dựng những kế hoạch để trình lên Giám đốc
- Cung cấp các thông tin liên quan đến dịch vụ một cách đầy đủ chính xác.
* Phòng IT:
Chuyên về các thiết bị máy tính, công nghệ thông tin liên quan đến hệ thống
mạng của công ty. Bảo trì, sửa chữa khi máy có vấn đề. Do đặc thù công việc
mọi giao dịch đều thực hiện trên hệ thống máy tính và mạng Internet nên yêu
cầu tính ổn định và chính xác rất cao.
* Phòng hành chính : Tổ chức mau sắm phương tiện việc làm, văn phòng
phẩm phục vụ cho quá trình làm việc của các phòng ban:
- Tổng hợp truyền đạt các quyết định của giàm đốc cho các phòng ban.
- Chuẩn bị thông báo các cuộc họp cho các bộ phận trong công ty.
- Chuẩn bị tiếp khách và liên hệ xe đi lại cho các đoàn khách .
* Phòng kinh doanh: Là phòng có trách nhiệm mọi hoạt động kinh doanh của
công ty, phòng kinh doanh phải tự khai thác và mở rộng tìm kiếm khách hàng
trong nước cũng như ngoài nước, để tham mưu cho Giám đốc ký kết các hợp
đồng kinh tế.
SVTH: Nguyễn Thị Diệu Thúy – Lớp B13QTH 24
Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS. Nguyễn Thế Tràm
Trong tương lai gần công ty sẽ thành lập thêm 1 phòng ban mới với tên gọi là