CHƢƠNG TRÌNH HỘI NGHỊ TỔNG KẾT
CÔNG TÁC THỰC TẬP SƢ PHẠM NĂM HỌC 2014 - 2015
Ngày 26 tháng 5 năm 2015
07h30 - 08h00
Đón tiếp và phát tài liệu cho các đại biểu
08h00 - 08h15
Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu
08h15 - 08h20
Phát biểu khai mạc Hội nghị của PGS.TS. Phạm Hồng Quang –
Hiệu trưởng
Trình bày báo cáo tổng kết công tác TTSP năm học 2013 – 2014
08h20 - 08h30
và định hướng đổi mới công tác TTSP năm học 2014 – 2015
của PGS.TS. Nguyễn Phúc Chỉnh – Trưởng Phòng Đào tạo
08h30 - 08h50
08h50 - 09h05
Phát biểu của đại diện lãnh đạo Sở GD&ĐT, đại diện lãnh đạo
Phòng GD&ĐT Thành phố Thái Nguyên
Tham luận của các cơ sở thực tập sư phạm
Đại diện lãnh đạo của Trường THPT
Đại diện lãnh đạo của Trường THCS
Đại diện lãnh đạo của Trường Tiểu học
BÁO CÁO HỘI NGHỊ TỔNG KẾT
CÔNG TÁC THỰC TẬP SƢ PHẠM NĂM HỌC 2014 – 2015
1. Đặt vấn đề
Thực tập sư phạm (TTSP) là hoạt động giáo dục đặc thù của các trường sư
phạm nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cần thiết của nhà giáo cho
sinh viên (SV) theo mục tiêu đào tạo đã đề ra. TTSP được chia làm hai giai đoạn:
giai đoạn 1 dành cho SV năm thứ 3 và giai đoạn 2 dành cho SV năm cuối. Đây là
hoạt động nhằm giúp SV thâm nhập thực tế, vận dụng kiến thức được học ở trường
đại học về giảng dạy, giáo dục và quản lý học sinh (HS) ở trường phổ thông. Thông
qua hoạt động này, SV được trải nghiệm với thực tế nghề nghiệp, giúp các em củng
cố, mở rộng những tri thức, kĩ năng đã được tích lũy; hình thành và phát triển
những tri thức, kĩ năng mới đáp ứng yêu cầu đổi mới của giáo dục phổ thông; nâng
cao hứng thú, tình cảm và trách nhiệm đối với nghề nghiệp.
Mục đích của Hội nghị này nhằm đánh giá những kết quả và những tồn tại
của công tác TTSP năm học 2014 – 2015, đồng thời thảo luận những vấn đề liên
quan đến việc phối hợp rèn luyện nghiệp vụ sư phạm giữa trường sư phạm với các
cơ quan quản lý giáo dục địa phương và các trường phổ thông. Hội nghị cũng sẽ
thảo luận về định hướng tổ chức các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho
SV trong năm học 2015 – 2016, thiết lập các trường thực hành sư phạm vệ tinh và
đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới công tác TTSP.
2. Đánh giá công tác TTSP năm học 2014 – 2015
2.1. Về TTSP 1 (TTSP1)
Mục tiêu của TTSP1 là giúp SV phải hiểu được thực tế giáo dục, tiếp xúc với
HS và giáo viên (GV) các cơ sở thực tập, qua đó hình thành tình cảm nghề nghiệp,
thúc đẩy quá trình tự rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; có những kĩ năng ban đầu về
công tác chủ nhiệm lớp; hiểu được các nội dung công việc chuyên môn của người
GV bộ môn, có những hình ảnh ban đầu về phương pháp dạy học.
Năm học 2014 – 2015, trường sư phạm đã tổ chức cho 50 đoàn TTSP1 gồm
2962 SV hệ đại học khóa 47, thực tập trong thời gian 03 tuần. Kết quả của đợt
%
SL
%
2012 - 2013
3234
3230
99,9
0
0
0
0
04
0,1
2013 - 2014
3067
0
03
0,1
Theo số liệu thống kê tại Bảng 1, có thể thấy kết quả TTSP1 trong ba năm
học gần đây không có sự thay đổi về tỉ lệ xếp loại, đều có trên 99% số SV đạt loại
giỏi, số SV không đạt chiếm tỉ lệ rất ít (chỉ 0,1%), trong đó năm học 2014 – 2015
không có SV đạt loại khá và trung bình. Như vậy, có thể nói kết quả này chưa đánh
giá đúng năng lực và chưa phân loại được SV. Đánh giá của GV hướng dẫn ở các
cơ sở TTSP vẫn còn mang nặng tính chất khuyến khích, động viên.
2.2. Về TTSP 2 (TTSP2)
Mục tiêu của TTSP2 là giúp SV hoàn thiện những kĩ năng về công tác chủ
nhiệm lớp, công tác giáo dục, nâng cao tình cảm, đạo đức nghề nghiệp; rèn luyện
cho SV có những kĩ năng cơ bản về soạn bài, lên lớp, tổ chức bài giảng, đánh giá
kết quả học tập của HS; qua đó có thể lên lớp giảng bài và làm chủ nhiệm lớp một
cách độc lập.
Tiếp thu những ý kiến phản hồi của GV hướng dẫn tại các cơ sở thực tập và
thực hiện kết luận của Hiệu trưởng tại Hội nghị tổng kết công tác TTSP năm học
2013 – 2014, nhằm giúp các trưởng đoàn TTSP2 thực hiện tốt nhiệm vụ của mình,
năm học 2014 – 2015, nhà trường đã tổ chức khóa tập huấn cho các trưởng đoàn với
mục tiêu phát triển các năng lực sau: Năng lực quản lý đoàn TTSP, xây dựng kế
hoạch hành động của trưởng đoàn, kĩ năng hoạt động nhóm, kĩ năng quản lý, điều
hành nhóm; Năng lực xây dựng kế hoạch và tổ chức các hoạt động tại cơ sở thực
tập nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn; Năng lực lập kế hoạch nhóm nhằm tư vấn
hoặc câu lạc bộ giúp đỡ HS như: Bồi dưỡng HS giỏi, giúp đỡ HS yếu kém, tư vấn
tâm lý học đường, tư vấn hướng nghiệp.
Năm học 2014 – 2015, nhà trường đã tổ chức cho 61 đoàn TTSP2 với 2661
99,25
08
0,25
0
0
16
0,5
99,74
03
0,11
0
0
4
0,15
Năm học
3
Theo số liệu thống kê ở Bảng 2, có thể thấy kết quả TTSP2 cũng tương đối
cao. Số SV đạt loại giỏi trong cả ba năm học gần đây đều chiếm trên 99%. Năm học
2014 – 2015, có 04 SV (chiếm 0,15%) không đạt yêu cầu. Trong số 04 SV không
đạt, có 01 SV bị tai nạn giao thông nên không thể hoàn thành đợt TTSP, 03 SV
không đạt yêu cầu về thực tập giảng dạy. Trong năm học 2014 – 2015, đánh giá kết
quả rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (tập giảng) của giảng viên cũng chặt chẽ hơn
những năm trước, nhiều SV không đủ năng lực giảng dạy đều không được cử đi
TTSP2 tại các trường phổ thông.
2.3. Tổng hợp ý kiến trao đổi của các cơ sở TTSP
Kết thúc các đợt TTSP, Trường Đại học Sư phạm đã nhận được các ý kiến
phản hồi từ các cơ sở TTSP, trong đó đợt TTSP2 được tổ chức tại 61 trường trên địa
bàn 06 tỉnh trung du miền núi phía Bắc. Các ý kiến trao đổi của ban chỉ đạo các cơ
sở TTSP được tổng hợp theo các vấn đề sau đây:
a) Về công tác phối hợp tổ chức TTSP:
- Trường Đại học Sư phạm cần có trao đổi kĩ lưỡng với các cơ sở TTSP về
số lượng GV hướng dẫn và số lượng SV thực tập nhằm tạo điều kiện cho SV được
làm việc với những GV giỏi, có kinh nghiệm và nhiệt tình trong công tác hướng dẫn
TTSP. Nhà trường có thể liên hệ thêm các cơ sở TTSP ở các tỉnh để giảm số SV
trên một đoàn xuống còn khoảng 40 – 50 SV.
- Đề nghị cử trưởng đoàn là cán bộ, giảng viên để phối hợp triển khai kế
hoạch của đoàn thực tập với cơ sở TTSP. Năm học 2014 – 2015, nhà trường đã cử
các giảng viên có kinh nghiệm trong giảng dạy làm cụm trưởng (từ 02 đến 04 cơ sở
thực tập) với nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; hướng dẫn tổ chức hoạt động, động viên
SV thực tập; trao đổi với cơ sở thực tập để giải quyết những vấn đề nảy sinh và tiếp
nhận thông tin phản hồi về tình hình của đoàn TTSP một cách kịp thời.
b) Về công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV trước TTSP:
động tình nguyện khác,...
- Tăng thời gian TTSP từ 7 tuần lên 10 tuần. Về vấn đề này, trường sư phạm
trao đổi thêm như sau: Hiện nay nhà trường thường xuyên tổ chức cho SV đi thực tế
môn học (các học phần phương pháp giảng dạy) nên SV có cơ hội xuống trường
phổ thông quan sát, dự giờ, làm quen với môi trường giáo dục ngay từ năm thứ
nhất. TTSP2 là một học phần trong chương trình đào tạo nên thời gian 7 tuần đã có
sự tính toán và cân nhắc kĩ lưỡng.
- Đề nghị bổ sung thêm phiếu đánh giá thực tập theo từng tuần (Trường
THPT Hiệp Hòa số 3). Trong danh sách gửi nhà trường nên có cột giới tính, dân tộc
và gửi kèm bảng điểm SV đã tích lũy để cơ sở TTSP có cơ sở đánh giá SV toàn
diện hơn (Trường THPT Định Hóa).
- Nghiên cứu đổi mới các biểu mẫu đánh giá cho phù hợp với cách đánh giá
giờ dạy ở trường mầm non.
- Tăng thêm số tiết dự giờ thăm lớp 14 tiết/đợt, số giáo án vẫn giữ nguyên
nhưng phải quy định rõ là soạn bài bằng viết tay (không được đánh máy).
- Xây dựng lại các biểu mẫu nhằm thay đổi phương thức đánh giá TTSP:
Nhiều GV hướng dẫn đánh giá một SV, hoặc kết hợp đánh giá của GV phổ thông và
giảng viên sư phạm.
- Tăng kinh phí TTSP, đặc biệt là kinh phí chi trả cho GV dạy giờ giảng
mẫu. Kinh phí TTSP cần được chuyển sớm hơn, giảm bớt những thủ tục hành chính
5
không cần thiết. Về vấn đề này, nhà trường đã có kiến nghị với Bộ GD&ĐT để tăng
kinh phí đầu tư cho SV sư phạm, giúp nhà trường có thêm ngân sách đầu tư cơ sở
vật chất cho các trường thực hành vệ tinh và tăng cường hoạt động thực tế của SV ở
cơ sở.
- Xây dựng lại cách xếp loại SV, nên bổ sung loại “xuất sắc” dành cho những
SV đăng kí giờ dạy mẫu. Khen thưởng những SV có thành tích xuất sắc trong công
tác thực tập. Nếu có thể, trường sư phạm có thể quy định về tỉ lệ SV đạt loại xuất
6
b) Một số khó khăn và tồn tại
- Số lượng SV ở một số cơ sở TTSP quá đông gây khó khăn trong việc phân
công GV hướng dẫn và bố trí giờ dạy cho giáo sinh. Một số cơ sở TTSP phân công
các GV trẻ, còn ít kinh nghiệm trong việc hướng dẫn SV thực tập.
- Một số trưởng đoàn TTSP không bao quát được các hoạt động của đoàn,
thiếu năng động, sáng tạo trong việc tổ chức các hoạt động phong trào. Đặc biệt,
nhiều trưởng đoàn còn thiếu chủ động trong việc tham gia vào các sự kiện của cơ sở
TTSP (đoàn TTSP2 tại Trường THCS Túc Duyên, TP. Thái Nguyên), nhiều SV
thiếu tinh thần ý thức trách nhiệm tập thể.
- Đánh giá, chấm điểm TTSP của đa số GV hướng dẫn ở các cơ sở thực tập
còn rộng, chưa bám sát đúng tiêu chí đánh giá ghi trong Quy chế, dẫn đến chưa có
sự phân loại kết quả của SV.
- Một số cơ sở thực tập còn thiếu thốn về cơ sở vật chất, không có phòng đợi
và phòng tập giảng, sinh hoạt chuyên môn dành cho giáo sinh. Đặc biệt, có cơ sở
thực tập không có phòng máy tính, phòng thí nghiệm để SV có thể thực hiện những
giờ giảng có ứng dụng công nghệ thông tin hoặc hướng dẫn HS thực hành.
- Phương pháp giảng dạy của đa số SV thiếu linh hoạt, nhiều SV chưa biết sử
dụng các phương pháp dạy học hiện đại (chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình,
gợi mở - vấn đáp), giáo án chưa phù hợp, chưa nắm được trọng tâm bài dạy, ít liên
hệ thực tế và hạn chế về các kĩ năng như: trình bày bảng, thuyết trình, tổ chức dạy
học, quản lý lớp học, xử lý tình huống sư phạm,...
- Công tác chủ nhiệm của SV còn hạn chế, đặc biệt là trong công tác giáo
dục HS cá biệt và bồi dưỡng HS giỏi. Một số SV tổ chức sinh hoạt lớp chủ nhiệm
chưa đều đặn, hoạt động ngoài giờ còn tương đối sơ sài, thiếu kinh nghiệm trong
làm việc với phụ huynh HS.
- Trong quá trình tập giảng, giảng viên chưa đánh giá đúng năng lực thực sự
của SV. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều SV có năng lực sư phạm hạn chế không
- Tăng cường các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho
SV, đổi mới phương pháp giảng dạy của giảng viên giúp SV biết vận dụng những
phương pháp dạy học hiện đại trong dạy học ở trường phổ thông.
4. Kế hoạch tăng cƣờng công tác rèn luyện nghiệp vụ sƣ phạm
- Tổ chức hội thi nghiệp vụ sư phạm cấp trường lần thứ VIII vào dịp kỉ niệm
ngày thành lập Trường 31 – 10 hoặc Nhà giáo Việt Nam 20 – 11 nhằm thúc đẩy
phong trào rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ở tất cả các khoa.
- Hằng năm tổ chức “Tuần rèn luyện nghiệp vụ sư phạm” thông qua các cuộc
thi: thi giảng, thi thiết kế đồ dùng dạy học, thi thiết kế hoạt động giáo dục,... Mời
GV dạy giỏi ở các trường phổ thông tham gia giảng dạy, chia sẻ kinh nghiệm cũng
như đánh giá SV.
- Tiếp tục tăng cường cho SV đi thực tế môn học tại các trường phổ thông và
các trường mầm non ngay từ năm thứ nhất nhằm tăng cường tiếp xúc giữa giáo sinh
với HS, tìm hiểu môi trường giáo dục, quan sát sư phạm, tìm hiểu giờ học, giờ dạy
và tham gia các hoạt động giáo dục ở phổ thông.
- Tăng cường tổ chức các khóa tập huấn bồi dưỡng kĩ năng mềm, kĩ năng sử
dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, kĩ năng vận dụng các phương pháp dạy
học hiện đại và kĩ năng tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS ở trường
phổ thông.
8
- Tiếp tục phát triển chương trình của các học phần Thực hành sư phạm (1, 2,
3) nhằm hình thành và bồi dưỡng cho SV những năng lực cần thiết trước khi đi
TTSP ở trường phổ thông.
- Đổi mới cách đánh giá kết quả TTSP, bổ sung hồ sơ thực tập, tăng các tiêu
chí đánh giá SV thông qua sản phẩm và các hoạt động của SV ở trường phổ thông.
Đánh giá cần có sự phân loại SV rõ hơn, có thể đề xuất quy định tỉ lệ SV đạt loại
xuất sắc trên mỗi đoàn và có khen thưởng với những SV đạt loại xuất sắc.
phổ thông như thế nào và chất lượng ra sao? Qua công việc thực tập 7 tuần của SV
ở trường phổ thông mà chúng tôi được phân công làm cụm trưởng, có thể nhận thấy
một số vấn đề sau:
Trước hết, về chất lượng của các đợt thực tập qua điểm số mà nói thì rất cao
(hầu hết SV đều đạt loại giỏi và xuất sắc). Tình hình này có phản ánh đúng thực
trạng của công tác thực tập không? Khi trao đổi với Ban chỉ đạo thực tập ở trường
phổ thông, GV chuyên môn, GV hướng dẫn và trực tiếp tham gia dự giờ, rút kinh
nghiệm và trao đổi về chuyên môn với các thầy cô ở trường phổ thông và với các
giáo sinh, chúng tôi nhận thấy một thực trạng khác với kết quả này. Có thể thấy, kết
quả trên chỉ đúng với một số ít SV, còn phần lớn, các em vẫn khá hạn chế về các kĩ
năng nghiệp vụ thông thường như cách viết bảng, cách diễn đạt một vấn đề, cách sử
dụng âm lượng, nhịp độ nói nhanh chậm… Cụ thể, các em không biết cách bố cục
một tiết giảng cho hợp lý về dung lượng thời gian, kiến thức, mục đích của bài học;
chưa biết cách trình bày một vấn đề cho hấp dẫn, lôi cuốn người nghe; chưa biết
cách mở rộng kiến thức theo bề sâu hay chiều rộng; chưa biết xác định kiến thức
trọng tâm cơ bản và kiến thức bổ trợ trong mỗi tiết học hay mỗi bài giảng…. Chính
vì vậy, GV phổ thông thường đánh giá cao về tính tích cực, nhiệt tình trong việc
tham gia các hoạt động, sự sáng tạo, chăm chỉ trong việc chuẩn bị bài giảng, đồ
dùng dạy học nhưng về kĩ năng và phương pháp vẫn là khâu yếu nhất của SV mà họ
còn phàn nàn.
Thực tế này cho thấy, các em đã được trang bị khá tốt về kiến thức nhưng
dường như kĩ năng nghề nghiệp vẫn còn khá sơ sài hoặc bị động. GV phổ thông
10
thường đánh giá SV ở việc học nghề, tập sự nên vẫn dành cho những kết quả khá ưu
ái. Và đôi khi vì là học nghề nên cũng được “ưu ái” mọi việc, kể cả việc dạy thay
rất nhiều giờ hoặc làm công tác chủ nhiệm triền miên khiến các em khá vất vả trong
công tác thực tập và không xác định đúng mục đích của hoạt động thực tập nữa.
trường sư phạm đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện nay.
11
BÁO CÁO TỔNG KẾT THỰC TẬP SƢ PHẠM 2
TẠI CÁC TRƢỜNG THPT TỈNH TUYÊN QUANG
ThS. Đỗ Văn Hảo
Cụm trưởng, Giảng viên Khoa Địa lý
1. ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH
1.1. Về phía nhà trƣờng
a. Thuận lợi
Đội ngũ các thầy cô giáo ở các nhà trường có chuyên môn tay nghề cao, có
năng lực sư phạm vững vàng, yêu nghề và gắn bó với nhà trường, nhiệt tình trách
nhiệm hết lòng hướng dẫn và tạo điều kiện giúp đỡ giáo sinh về TTSP tại trường đạt
kết quả tốt nhất, xác định rõ trách nhiệm và mục tiêu trong công tác bồi dưỡng đội
ngũ GV trẻ mới vào nghề cũng như giáo sinh TTSP tại trường trong các năm học và
coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các nhà trường.
Về cơ sở vật chất, hầu hết các nhà trường đều được xây dựng các phòng học
khang trang, có phòng học bộ môn, phòng sử dụng công nghệ trong dạy học, phòng
chứa thiết bị các môn chung, phòng y tế học đường, phòng làm thư viện, phòng
truyền thống, phòng dành cho Ban Giám hiệu, phòng ban, các tổ chuyên môn và các
đoàn thể làm việc, nhà bảo vệ, hệ thống tường bao, khu vực vệ sinh đầy đủ.
b. Khó khăn
Trình độ đội ngũ GV chưa đều, một số GV chưa thật sự nhiệt tình hướng dẫn
SV thực tập giảng dạy và giáo dục.
Cơ sở vật chất của một số trường chưa đảm bảo như: Trường THPT Sơn
Dương còn có phòng học tạm, thiếu các phòng học công nghệ thông tin, phòng sinh
hoạt chuyên môn,…
1.2. Về phía giáo sinh thực tập
Đoàn SV thực tập đã phối kết hợp chặt chẽ với ban chỉ đạo, triển khai kế hoạch
đồng bộ và nhịp nhàng trong toàn đợt thực tập. SV thực tập luôn nhận thức rõ vai
trò trách nhiệm của mình, có tinh thần và ý thức chấp hành tốt mọi công việc đươc
giao. Tích cực tham gia các hoạt động giảng dạy, làm công tác chủ nhiệm và tham
gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp giáo dục đạo đức HS,...
Tuy nhiên, còn một bộ phận nhỏ SV ở tất cả các khoa vẫn chưa thực sự tự
giác: chuẩn bị bài giảng còn chưa tốt, lúng túng, thiếu tự tin, chữ viết bảng nhỏ,
xiêu vẹo, nguệch ngoạch, trình bày lộn xộn, thiếu khoa học, chưa bao quát tốt lớp
học trong giờ giảng. Kĩ năng giao tiếp và xử lí các tình huống sư phạm chưa tốt.
Một số SV ít tham gia các buổi sinh hoạt đoàn, các hoạt động đoàn, Đoàn trường và
địa phương tổ chức, chưa chủ động gặp GV hướng dẫn, còn để GV hướng dẫn tìm
gặp, do đoàn đông nên một số còn ỷ lại trong các công việc chung của đoàn. Một số
giáo sinh chưa nghiêm túc với HS HS còn để HS trêu ghẹo, chưa hợp tác và chưa
tôn trọng giáo sinh: cười đùa, nói chuyện, không chép bài, làm việc riêng trong lớp,
ra ngoài tự do, có thái độ chống đối giáo sinh.
3. ĐÁNH GIÁ CHUNG
3.1. Về thực tập giảng dạy
- Lập kế hoạch và thực hiện các công việc giảng dạy của người GV.
- Mỗi SV thực tập giảng dạy 7 tiết, soạn 7 giáo án và được GV hướng dẫn
đánh giá, cho điểm.
13
- Các SV đã tiếp cận phương pháp giảng dạy mới trong các môn trường
THPT, đặc biệt là thực hiện công tác soạn giáo án, tập giảng và các tiết dạy đều
được GV hướng dẫn và nhóm dự giờ, góp ý rút kinh nghiệm, đánh giá, kết quả toàn
đoàn xếp loại giảng dạy.
3.2. Về thực tập giáo dục
- Lập kế hoạch và thực hiện các công việc của GV chủ nhiệm lớp, thường
xuyên lên quản lý lớp vào đầu giờ học, làm việc nghiêm túc, đúng giờ.
14
- Nên lựa chọn trưởng đoàn TTSP là những SV là lớp trưởng hoặc Bí thư chi
đoàn, không nên chỉ định những SV chưa từng làm cán bộ lớp, đoàn, hội. Việc chỉ
định như đợt thực tập vừa qua tại Tuyên Quang đã làm ảnh hưởng nhiều đến công
tác thực tập tại các nhà trường vì các em còn nhút nhát, chưa chủ động trong công
tác.
- Giảm bớt số lượng giáo sinh thực tập trung bình từ 40 - 45 SV/1 đoàn để
đảm bảo chất lượng. Hầu hết các trường THPT tại Tuyên Quang đều nhận tới 3
đoàn về thực tập nên sĩ số quá đông ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giảng dạy
của SV.
- Tổ chức hội thi nghiệp vụ sư phạm hàng năm ở cấp khoa, cấp trường nhằm
thúc đẩy SV tích cực học tập, tích lũy kinh nghiệm, kĩ năng nghiệp vụ; tự tin khi
đứng trên bục giảng, đó là cơ hội giúp SV trau dồi kiến thức sư phạm.
- Nên tăng thời gian thực tập thành 8 tuần: thời gian 7 tuần là tương đối ngắn
vì SV mất tuần đầu họp, gặp mặt lập kế hoạch và tuần cuối SV đã phải hoàn thành hồ
sơ thực tập (thực tế hầu hết các trường THPT ở Tuyên Quang đã kết thúc thực tập và
tổng kết ngày giữa tuần 7) còn lại chỉ còn 5 tuần thực dạy.
4.2. Đối với SV thực tập
- Điều quan trọng và không thể thiếu đối với mỗi SV thực tập phải xây dựng
kế hoạch và duyệt kế hoạch thực tập và giảng dạy cụ thể trước khi thực hiện.
- Phải tìm đọc những tài liệu có liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp và lập
kế hoạch chủ nhiệm lớp rõ ràng, cần phải dự đoán một số tình huống sư phạm có
thể xảy ra. Đồng thời phải có sổ nhật ký sư phạm và sổ công tác chủ nhiệm để ghi
chép lại hoạt động thực tập và chủ nhiệm của mình.
- Đặc biệt giáo sinh phải có thái độ cầu tiến, luôn học hỏi, lắng nghe những
góp ý chân tình, tích cực của GV hướng dẫn để ngày càng tiến bộ.
4.3. Với trƣờng THPT
- Đầu tư thêm một số trang thiết bị phòng bộ môn, phòng công nghệ để đáp
quan công tác thực tập, từ đó có giải pháp trong chiến lược đào tạo GV, đáp ứng
yêu cầu đổi mới mạnh mẽ của ngành.
Đối với trường phổ thông cần xác định công tác hướng dẫn TTSP là nhiệm
vụ trong quy trình đào tạo GV. Ngay từ bước đầu chúng tôi đã thành lập ban chỉ đạo
TTSP, chọn cử GV có uy tín, trách nhiệm, kinh nghiệm hướng dẫn SV làm công tác
chủ nhiệm, chuyên môn, dạy mẫu cho giáo sinh. Tổ chức cho GV và SV học nội
quy, quy định về công tác thực tập, hướng dẫn SV làm kế hoạch, tìm hiểu nhà
trường, công tác chủ nhiệm lớp ở trường nội trú, soạn bài và tập giảng trước khi lên
lớp, chú trọng hướng dẫn đổi mới phương pháp giảng dạy cho SV theo hướng phát
triển năng lực HS. Hiện nay, đổi mới phương pháp giảng dạy đang diễn ra mạnh mẽ
ở các trường phổ thông. Thực hiện Nghị quyết Trung ương VIII khóa XI về đổi mới
căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, thực hiện sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông,
trường phổ thông Vùng Cao Việt Bắc đã chủ động về chương trình, điểu chỉnh kế
hoạch giảng dạy và sách giáo khoa hiện hành, bổ sung các kiến thức cần thiết,
nghiên cứu cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học của từng môn học trong chương
16
trình hiện hành, xây dựng các chủ đề liên môn, lồng ghép, tích hợp, bổ sung vào kế
hoạch giảng dạy theo hướng coi trọng thực hành, vận dụng thực tiễn, phát triển
năng lực HS. Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học: Triển khai các
phương pháp, hình thức dạy học tích cực, phát huy tính tích cực, chủ động, tự học,
sáng tạo của HS, áp dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, nhằm phát triển
năng lực vốn có của HS, mang lại hiệu quả cao trong giảng dạy và học tập. Nội
dung và tinh thần đổi mới phương pháp giảng dạy được GV hướng dẫn chỉ bảo tận
tình chu đáo cho SV. Với đặc thù trường phổ thông dân tộc nội trú, ngoài việc giảng
dạy, học tập, nhà trường tổ chức các hoạt động ngoài giờ: Văn nghệ, thể thao, rèn kĩ
năng sống, các câu lạc bộ bổ trợ cho học tập và thu hút các em vào các hoạt động
Sự nghiệp giáo dục đang trên đà đổi mới căn bản và toàn diện ở các cấp, các
bậc, các ngành học. Đổi mới từ mục tiêu, chương trình, sách giáo khoa, phương
pháp giảng dạy và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực người học,
đòi hỏi cần có đội ngũ GV giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm. Sự phối hợp
giữa Trường Đại học Sư phạm với các trường phổ thông để làm tốt hơn công tác
TTSP là giải pháp tích cực trong chiến lược đào tạo GV, tạo ra sự chuyển biến tích
cực của cả hệ thống giáo dục, đào tạo ra thế hệ GV có chất lượng, đáp ứng yêu cầu
thực tiễn, đảm đương được sự nghiệp đổi mới căn bản toàn diện của ngành giáo
dục.
18
THAM LUẬN CÔNG TÁC THỰC TẬP SƢ PHẠM
NGÀNH GIÁO DỤC TIỂU HỌC
TS. Trần Ngọc Bích
Cụm trưởng, Giảng viên Khoa Giáo dục Tiểu học
1. Đặc điểm tình hình
Khóa 46 ngành Giáo dục tiểu học với 158 SV (trong đó có 01 SV nam, còn
lại là nữ) đi thực tập tại 6 trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, trong đó
có 5 trường tại thành phố Thái Nguyên và 01 trường tại huyện Phú Lương.
Khác với SV của các ngành khác, SV ngành Giáo dục tiểu học khi đi thực
tập không chỉ thực tập chủ nhiệm, giảng dạy, tham gia tổ chức các hoạt động giáo
dục mà các em còn học được cách tổ chức một bữa ăn bán trú hay trông trưa cùng
các cô giáo ở trường tiểu học.
2. Thuận lợi và khó khăn
2.1. Thuận lợi
Về phía nhà Trường Sư phạm: Nhà trường đã liên hệ với các trường tiểu học
có uy tín, chất lượng và là đối tác của nhà trường trong những năm qua. Trong quá
trình TTSP, chúng tôi luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và chỉ đạo của Nhà
trường: SV có ý thức thâm nhập thực tế tốt. Tích cực tìm hiểu nội dung công việc
của GV phổ thông và các hoạt động của nhà trường.
- Về thực tập chuyên môn: Ý thức dự giờ GV phổ thông của SV tốt, ghi chép,
học hỏi, trao đổi thẳng thắn, cởi mở. Lập được kế hoạch giảng dạy toàn đợt và từng
tuần. Soạn bài, chuẩn bị đồ dùng, duyệt giáo án đúng qui định. Tích cực, tự giác tập
giảng. Tham gia rút kinh nghiệm, ý kiến nhận xét, đề xuất trong nhóm tốt. Nắm
được phương pháp giảng dạy, phối hợp được hoạt động của GV và HS, nhiều tiết
dạy hiệu quả tốt.
- Về thực tập giáo dục: Tích cực tìm hiểu tình hình giáo dục của nhà trường,
địa phương, các hoạt động của tổ chuyên môn, chức năng nhiệm vụ của GV,…
Nắm được đặc điểm tình hình HS, đã biết đánh giá, nhận xét hoạt động của HS. Tổ
chức sinh hoạt lớp, đội theo hướng dẫn, có tinh thần trách nhiệm với lớp thực tập
chủ nhiệm.
4. Kiến nghị
Hiện nay ở tiểu học đã và đang thực hiện mô hình trường học mới. Do đó,
kinh đề nghị phòng Đào tạo liên hệ để SV có cơ hội được thực tập, thực tế môn học
tại các trường thực hiện mô hình VNEN.
20
BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC THỰC TẬP SƢ PHẠM 2
NĂM HỌC 2014 – 2015 CỦA KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
ThS. Dương Thị Thúy Vinh
Cụm trưởng, Giảng viên Khoa Giáo dục Mầm non
1. Đặc điểm tình hình chung
Năm học 2014 – 2015, Khoa Giáo dục Mầm non có 142 SV được tham gia
đợt TTSP2 tại 8 trường mầm non trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
Kết quả thực tập cho thấy: 100% SV được điểm A (đạt loại giỏi). Trên cơ sở
tập hợp các ý kiến của SV, các cụm trưởng, chúng tôi có một số tổng kết về thuận
- Một số điều trong Quy chế TTSP chưa cụ thể đối với ngành giáo dục mầm
non nên còn gây ra hiểu nhầm, gây khó khăn cho Ban chỉ đạo và GV trong việc
hoàn thiện hồ sơ theo hợp đồng.
- Kinh phí chi trả cho trường mầm non chưa tính đến tiền khấu hao tài sản,
tiền chi cho đồ dùng, đồ chơi nên SV phải tự bỏ tiền ra mua, rất tốn kém.
- SV chưa thực sự được chuẩn bị đầy đủ về tâm thế nên khi xuống trường
mầm non còn mất nhiều thời gian để thích ứng. SV cũng chưa được trang bị đầy đủ
những kĩ năng cơ bản như kĩ năng sử dụng máy chiếu, phông chiếu, kĩ năng làm đồ
dùng, đồ chơi, trang trí lớp, kĩ năng xử lý tình huống sư phạm,... nên cũng gặp
nhiều khó khăn, chưa đáp ứng tốt yêu cầu của hoạt động TTSP.
- Thời gian 7 tuần chưa đủ để SV được thực tập ở tất cả các độ tuổi của trẻ
và được tổ chức tất cả các dạng tiết học và hoạt động giáo dục ở trường mầm non.
b. Về phía Trường Mầm non
- Điều kiện cơ sở vật chất, số lượng nhóm lớp (nhất là lớp ở độ tuổi nhà trẻ)
còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch và hiệu quả giảng dạy của
SV (phần lớn các trường mầm non đợt TTSP2 đều chỉ có một lớp nhà trẻ nên khi
phân công, SV phải dồn nhóm, dạy liên tục mới đủ mỗi SV 2 tiết nhà trẻ).
- Một số trường mầm non có địa điểm cách xa Trường Đại học Sư phạm nên
SV cũng gặp khó khăn khi đi lại.
- Việc ăn uống của SV cũng gặp khó khăn khi trường mầm non không nấu ăn
cho SV ngay cả khi SV phải ở lại trông trẻ ngủ buổi trưa.
3. Đề xuất – Kiến nghị
- Tăng thời gian TTSP cho SV từ 7 tuần lên 10 tuần.
- Cho phép SV lấy giấy giới thiệu và đi TTSP ở các tỉnh khác nhau. Có thể
mở rộng phạm vi các trường mầm non ngoài địa bàn thành phố (ví dụ các trường
mầm non thuộc huyện Đồng Hỷ). Trong quá trình cho SV đăng ký về các trường,
chú ý số lượng lớp nhà trẻ để phân bổ cho phù hợp (những trường có từ 1 lớp nhà
trẻ chỉ có thể phân 10 - 15 SV/đoàn).
- Điều chỉnh, bổ sung các điều 17, 18 trong quy chế TTSP, mẫu phiếu số 11,
12, 13, 14 cho phù hợp với đặc thù mầm non và phù hợp với từng đợt TTSP.
đa ̣t đươ ̣c danh hiệu giáo viên giỏi cấ p trường , huyê ̣n, tỉnh trong công tác dạy học và
chủ nhiệm để nhằm chia sẻ những kinh nghiệm cần thiết cho các giáo sinh về công
tác chủ nhiệm lớp , công tác đoàn , các phương pháp và kiến thức giảng dạy chuyên
môn, cách xử lí tình huống sư pha ̣m.
- HS ngoan, thân thiê ̣n , chăm chỉ ho ̣c tâ ̣p và năng nổ trong các hoa ̣t đô ̣ng ,
đoàn kế t gắ n bó , giúp đỡ nhau trong học tập và rèn luyện . Nhiề u HS đa ̣t giải cao
trong các cuô ̣c thi HS giỏi, các cuộc thi tuyên truyền . Chấ t lươ ṇ g giáo du ̣c của nhà
trường luôn đươ ̣c đánh giá cao . Là một trong những đơn vị dẫn đầu về thành tích
học sinh giỏi các cấp.
- Cơ sở vâ ̣t chấ t da ̣y ho ̣c của trường khang trang và tương đố i đầ y đủ phu ̣c vu ̣
cho viê ̣c giảng da ̣y tốt.
* Về phía đoàn thực tập: Các giáo sinh trong đoàn có ý thức trách nhiệm
cao, nhanh chóng thić h nghi và làm quen với công viê ̣c thực tâ ̣p của min
̀ h , có tinh
thầ n tim
̀ tòi ho ̣c hỏi để nâng cao nghiê ̣p vu ̣ , thường xuyên tâ ̣p giảng n ên đã vâ ̣n
dụng được những kiến thức , phương pháp hay vào giờ da ̣y . Đoàn kết, chia sẻ, giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ.
23
2. Khó khăn
- Nhìn chung các giáo sinh còn thiếu kinh nghiệm trong công tác giảng dạy
và chủ nhiệm.
- Mô ̣t số giáo sinh chưa thực sự nhiê ̣t tin
̀ h trong công tác chủ nhiê ̣m lớp.
- Vẫn còn giáo sinh thiế u tự tin , chưa biế t vâ ̣n du ̣ng các phương pháp da ̣y
học linh hoạt trong giờ giảng.
- Khuôn viên nhà trường còn he ̣p , không thuâ ̣n lơ ̣i cho viê ̣c tổ chứ c các hoa ̣t
như GV chủ nhiệm lớp.
- Ngoài nhiệm vụ thực tập của cá nhân , với cương vi ̣là trưởng đoàn thực tâ ̣p
em luôn theo dõi , nắ m bắ t tiǹ h hin
̀ h thực tâ ̣p củ a cả đoàn , hỗ trơ ̣ các giáo sinh trong
đoàn tìm hiể u thông tin cơ bản về trường THPT Hiê ̣p Hòa 2.
24
3.2. Thực tập giảng dạy
- Các bạn giáo sinh đã tham dự các tiết dự giờ mẫu của các thầy cô trong tổ
vào thứ 2 hàng tuần, các giờ dạy giỏi của các thầy cô bộ môn . Thông qua các tiết dự
giờ đó chúng em đã rút ra được một số kinh nghiệm về cách thức tổ chức dạy học
,
thiết kế bài giảng sao cho phù hợp với đă ̣c điể m , trình độ của các nhóm HS khác
nhau. Trước khi tham dự một tiết dạy nào chúng em cũng đều chuẩ n bi ̣giáo án thâ ̣t
kỹ. Khi lên dự giờ chúng em luôn cố gắng quan sát các hoạt động của thầy và trò và
so sánh với những gì mình đã dự kiến trong bài soạn. Đặc biệt, chúng em luôn để ý
đến các phương pháp dạy học mà các GV sử dụng trong từng bài dạy cụ thể . Và
thực sự chúng em đã học hỏi được rất nhiều điều để có thể giúp cho bản thân hoàn
thiện tốt các tiết dạy đánh giá . Trước khi lên lớp giảng dạy chúng em luôn xem kĩ
bài, soạn giáo án và chuẩn bị các dụng cụ dạy học như: bảng phụ, hình vẽ sách giáo
khoa phóng to nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy, tạo cho HS hứng thú trong học
tập.
- Mô ̣t số ba ̣n giáo sinh đã áp du ̣ng đươ ̣c phương pháp giảng hay và sử dụng
đồ dùng da ̣y ho ̣c sáng ta ̣o đươ ̣c các thầ y cô bô ̣ mô n ho ̣c tâ ̣p (như cách dùng compa
từ phấ n và nam châm của các ba ̣n khoa điạ lý ).
- Mặc dù bước đầu có số it́ giáo sinh còn có một số thiếu sót nhỏ như đôi lúc
chữ viết chưa được đẹp , viế t tắ t nhiề u , nói hơi nhanh , đôi lúc còn dùng tiếng địa