BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
----------------
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
RA NƯỚC NGOÀI
NGÀNH KINH TẾ
VŨ THỊ MINH NGỌC
Hà Nội – 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
----------------
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
RA NƯỚC NGOÀI
Ngành: Kinh tế
Chuyên ngành: KTQT
Mã số: 62.31.01.06
VŨ THỊ MINH NGỌC
trình nghiên cứu và hoàn thành luận án.
Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên,
tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, làm việc và hoàn thành
luận án.
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà nội, ngày 23 tháng 2 năm 2016
Tác giả Luận án
Vũ Thị Minh Ngọc
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN..........................................................................................................ii
DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT...............................................................vi
DANH MỤC VIẾT TẮT TIẾNG ANH...............................................................vii
DANH MỤC CÁC BẢNG...................................................................................viii
DANH MỤC CÁC HÌNH......................................................................................ix
LỜI MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài:..................................................................................1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài
nước....................................................................................................................... 3
3. Mục tiêu nghiên cứu.......................................................................................13
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu......................................................................13
5. Phương pháp nghiên cứu, khung lý thuyết, nguồn thông tin và phương
pháp xử lý thông tin............................................................................................14
6. Những đóng góp mới của Luận án.................................................................16
7. Kết cấu đề tài:.................................................................................................17
hữu của công ty mẹ ở VN......................................................................................67
2.2. Thực trạng đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI ở Việt
Nam...................................................................................................................... 68
2.2.1. Quan hệ Nhà nước song phương và đa phương về lĩnh vực đầu tư...........68
2.2.2. Định hướng phát triển đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam.........70
2.2.3. Thay đổi cơ chế, chính sách của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực
tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài..............................................74
2.2.4. Đổi mới trong thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến OFDI..............82
2.2.5. Công tác kiểm tra, giám sát sau cấp GCNĐT.............................................91
2.3. Đánh giá đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp
của DNVN ra nước ngoài...................................................................................92
2.3.1. Những điểm đạt được..................................................................................92
2.3.2. Hạn chế còn tồn tại......................................................................................97
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020...........................112
3.1. Quan điểm, định hướng của Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp của Việt
Nam ra nước ngoài đến năm 2020...................................................................112
v
3.1.1. Ảnh hưởng của bối cảnh quốc tế, trong nước và xu hướng OFDI của doanh
nghiệp Việt Nam đến việc đổi mới quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài của Việt Nam....................................................................................112
3.1.2. Định hướng của Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước
ngoài đến năm 2020.............................................................................................119
3.2. Giải pháp đổi mới quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài của DNVN................................................................................................119
3.2.1. Đổi mới tư duy và quan điểm quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI
GCNĐT
GCNĐKĐT
GTGT
KH&ĐT
NĐ
NĐT
NHNN
NK
UBND
XK
VN
Giải thích
Cộng hòa dân chủ nhân dân
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Chính phủ
Dự án
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp Việt Nam
Đầu tư
Đầu tư ra nước ngoài
Giấy chứng nhận đầu tư
Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư
Giá trị gia tăng
Kế hoạch và đầu tư
Nghị định
Nhà đầu tư
Ngân hàng Nhà nước
Nhập khẩu
Ủy ban nhân dân
Cộng đồng kinh tế ASEAN
Khu vực đầu tư ASEAN
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á
ASEAN
Cooperation
– Thái Bình Dương
Association of Southeast Asian Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
ASEM
AVIC
Nations
Á
The Asia-Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á - Âu
Association
of
Vietnamese Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam
AVIL
Investors in Cambodia
sang Campuchia
Association
of
Vietnamese Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam
AVIM
Tổ chức Thương mại Thế giới
sang Lào
Vietnamese Hiệp hội các nhà đầu tư Việt Nam
viii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Mô hình quản lý nhà nước đối với hoạt động OFDI.................................29
Bảng 1.2. Các biện pháp quản lý đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Hàn Quốc......53
Bảng 2.1. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo đối tác (Các dự án còn hiệu lực lũy kế
đến 31/12/2014)........................................................................................60
Bảng 2.2. Vốn OFDI của Việt Nam các giai đoạn từ 1989 - 2014...........................63
Bảng 2.3. Cơ cấu OFDI theo ngành...........................................................................66
Bảng 2.4. Hình thức đầu tư trong các DA OFDI của VN.........................................67
Bảng 2.5. Quá trình thay đổi trong quy định của Việt Nam về quản lý ngoại hối đối
với hoạt động OFDI..................................................................................77
Bảng 2.6. Thẩm quyền cấp GCNĐT đối với các DA OFDI theo Luật Đầu tư 2005
và Luật Đầu tư 2014.................................................................................85
Bảng 2.7. So sánh quy mô vốn OFDI của VN qua các giai đoạn giai đoạn 1989 2005 và giai đoạn 2006 - tháng 3/2013....................................................96
ix
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Cơ cấu OFDI theo số dự án........................................................................62
Hình 2.2. Cơ cấu OFDI theo tổng vốn.......................................................................62
Hình 2.3. Cơ cấu OFDI theo vốn của nhà đầu tư Việt Nam......................................62
chăn nuôi và sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu thuốc
chữa bệnh và dược liệu. Những doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực đầu tư ra
nước ngoài chủ yếu là những doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện đầu tư dưới hình
thức Liên doanh và hoạt động theo các chương trình hợp tác đầu tư giữa các nước.
Hoạt động đầu tư trong thời kỳ này vẫn mang tính sơ khai, nhỏ lẻ và cầm chừng.
Chỉ đến năm 1999, khi Nghị định 22/1999/NĐ-CP về đầu tư trực tiếp của doanh
nghiệp Việt Nam ra nước ngoài được ban hành, thể hiện sự công nhận về mặt luật
pháp đối với lợi ích của các dự án đầu tư ra nước ngoài, thì hoạt động này trở nên
sôi nổi hơn. Từ đó cho đến nay, các doanh nghiệp Việt Nam đã không ngừng tìm
kiếm cơ hội đầu tư trên thị trường nước ngoài.
Cho đến nay, các quan điểm và chính sách quản lý của nhà nước đối với hoạt
động OFDI đã có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, theo hướng khuyến khích các
nhà đầu tư Việt Nam thực hiện các chiến lược “đầu tư toàn cầu”. Cùng với việc ban
hành Nghị định 78/2006/NĐ-CP quy định về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (thay
thế cho Nghị định 22/1999), Thông tư số 10/2006/TT - NHNN về hướng dẫn việc
tổ chức tín dụng cho khách hàng vay để đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; hay gần đây
là Thông tư 11/2010/TT-BTC hướng dẫn thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà đầu tư
Việt Nam đầu tư ra nước ngoài; hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các
doanh nghiệp Việt Nam được hướng dẫn cụ thể, rõ ràng và tạo điều kiện thuận lợi
hơn. Điều đó được thể hiện thông qua việc các dự án và quy mô vốn đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài liên tục tăng từ năm 2005 đến nay.
2
Tính đến tháng 12 năm 2014, Việt Nam đã có 930 dự án đầu tư ra nước ngoài
với tổng vốn của các nhà đầu tư Việt Nam đạt 19,7 tỷ USD tại 67 quốc gia và vùng
lãnh thổ; vốn thực hiện luỹ kế ước đạt khoảng hơn 4 tỷ USD. Các dự án đầu tư của
doanh nghiệp Việt Nam đã đem lại một số kết quả bước đầu, đóng góp vào sự phát
triển chung của nền kinh tế như: chuyển lợi nhuận về nước khoảng 550 triệu USD,
tạo ra hàng nghìn việc làm cho người lao động Việt Nam tại nước ngoài thông qua
chung và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng ở Việt Nam hiện nay còn nhiều
vướng mắc. Vướng mắc ngay từ trong các văn bản pháp luật và trong thực thi các
chính sách pháp luật tại các bộ, ngành. Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế, hệ
thống chính sách của Việt Nam phải có sự thay đổi để phù hợp với các quy định
quốc tế, đồng thời phù hợp với các thực tiễn kinh doanh. Sự tác động và can thiệp
của Nhà nước vào các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp phải thực hiện theo
hướng giảm dần. Chính vì vậy, để quản lý tốt các hoạt động OFDI trong bối cảnh
nền kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay, đòi hỏi phải đổi mới các cơ chế,
phương pháp quản lý nhà nước. Các hoạt động quản lý của nhà nước phải được thực
hiện theo hướng tăng cường tính chủ động cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho
các doanh nghiệp Việt Nam khẳng định được vị thế ở nước ngoài, nhưng đồng thời
cũng đảm bảo nền kinh tế phát triển bền vững theo các mục tiêu kinh tế - xã hội đã
đặt ra trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước
đối với hoạt động đầu tư trực tiếp của doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài”
với hy vọng có thể phục vụ công tác xây dựng và hoạch định chính sách của nhà
nước, đồng thời góp phần giải quyết được một số vướng mắc của doanh nghiệp,
thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra nước ngoài,
qua đó, nâng cao hình ảnh và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của
đề tài ở trong và ngoài nước
2.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Việc khuyến khích các DN trong nước mang vốn, công nghệ đi đầu tư ra nước
ngoài không phải là mới lạ ở các nước khác trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia
có tỷ lệ đầu tư ra nước ngoài nhiều như Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc…
Đã có nhiều đề tài nghiên cứu chính sách, chiến lược của các quốc gia trên thế
giới đầu tư ra nước ngoài, song trên thế giới chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản
lý nhà nước của Việt Nam đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh
nghiệp Việt Nam.
Tuy nhiên, có nhiều công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và
quản lý đầu tư ra nước ngoài của các quốc gia trên thế giới, về cả lý luận lẫn thực tiễn
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đặc biệt là của các nước đang và kém phát triển.
Tác giả Khanindra Ch. Das, 2012, khi nghiên cứu một mẫu lớn các nước phát
triển từ năm 1996 đến năm 2010 đã cho thấy các nước đang phát triển đã tích cực
đầu tư ra nước ngoài, và trở thành một phần của chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời
tạo ra và duy trì yếu tố cạnh tranh với các nước phát triển. Phát hiện thực nghiệm
của tác giả này cũng cho thấy sự phát triển hợp lý của nền kinh tế vĩ mô (thể hiện
qua sự tăng trưởng cao hơn nhờ chuyển dịch cơ cấu kinh tế), xu hướng toàn cầu
hóa, các rủi ro về chính trị và những nỗ lực phát triển công nghệ của nước chủ đầu
5
tư thông qua hoạt động R&D là những yếu tố quan trọng quyết định đến đầu tư ra
nước ngoài từ các nước đang phát triển. Các phân tích này có ý nghĩa quan trọng,
gợi ý cho chính sách quản lý của các nước đang phát triển. Các nước cũng cần đảm
bảo thực hiện công tác quản lý phù hợp, thực hiện thay đổi chính sách trong một số
lĩnh vực cụ thể để hoạt động OFDI không làm gia tăng các chi phí đầu tư trong
nước.
Các tác giả Dimitrios Kyrkilis và Pantelis Pantelidis, 2003, đã chứng minh các
yếu tố vĩ mô như thu nhập, tỷ giá, công nghệ, nguồn nhân lực và sự cởi mở của nền
kinh tế có thể tạo nên đặc tính riêng trong hoạt động OFDI của mỗi quốc gia. Thông
qua việc sử dụng mô hình phát triển xác định dữ liệu chuỗi thời gian cho năm thành
viên Liên minh châu Âu và bốn quốc gia không thuộc Liên minh châu Âu. Mô hình
này cho thấy tổng sản phẩm quốc gia được chứng minh là yếu tố quyết định quan
trọng nhất đến đầu tư ra nước ngoài. Các nước phát triển thuộc Liên minh châu Âu
chuyên đầu tư trong lĩnh vực sử dụng nhiều lao động, trong khi các nước không
thuộc Liên minh châu Âu lại ưa chuộng đầu tư có sử dụng công nghệ chuyên sâu.
Nhìn chung, các tác giả đã chứng minh rằng lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
của các quốc gia chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm quốc gia đó, và cùng một loại nguồn
lực thì sẽ có ý nghĩa khác nhau cho các quốc gia khác nhau.
Các mô hình về lý thuyết và thực tiễn của các học giả quốc tế đã chứng minh
2012, đã giải thích các cơ chế mà qua đó chính phủ tác động đến quá trình quốc tế
hóa của các công ty trong các thị trường mới nổi. Trong đó, chính phủ liên kết với
các doanh nghiệp. Hiệu quả của việc mở rộng thị trường phụ thuộc vào mức độ liên
kết giữa doanh nghiệp và chính phủ; và phụ thuộc vào mức độ sở hữu nhà nước
trong doanh nghiệp.
Tác giả Seong –Bong Lee, 2007, đã mô tả về kinh nghiệm của Hàn Quốc trong
việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện đầu tư ra nước ngoài và xuất khẩu
hàng hóa, nhằm tăng sự hiện diện của các doanh nghiệp này trên thị trường khu vực và
toàn cầu. Cũng mô tả kinh nghiệm của chính phủ Hàn Quốc trong hoạt động quản lý
OFDI, hai tác giả Jung Min Kim, Dong Kee Rhe (2009) đã nêu khá chi tiết về các giai
đoạn phát triển trong chính sách OFDI của Chính phủ Hàn Quốc và các công cụ hỗ trợ
cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Hàn Quốc. Đây cũng là
những kinh nghiệm mà Chính phủ Việt Nam có thể học hỏi trong quá trình quản lý
hoạt động OFDI của các doanh nghiệp Việt Nam.
2.1.3. Các nghiên cứu về đổi mới quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp ra
nước ngoài
Hầu hết các nghiên cứu mới chỉ tập trung giải thích về nội dung đổi mới, có
thể kể đến các quan điểm về đổi mới như: Đổi mới là những nỗ lực để mang lại sự
thay đổi có lợi (West & Farr 1990: 9); Kennedy (1988: 336), dựa trên nghiên cứu
7
của Kelly (1980), chỉ ra rằng một động lực chính để đổi mới thành công là sự không
hài lòng với hiện trạng.
Đổi mới được thừa nhận rộng rãi là một động lực tăng trưởng kinh tế
(Abernathy & Utterback, 1978; Abernathy & Clark, 1985; Damanpour, Szabat &
Evan, 1989; Drucker, 1985; Nonaka & Takeuchi, 1995; Schumpeter, 1934). Những
nỗ lực tiên phong trong việc thiết lập đổi mới quản lý như là một lĩnh vực nghiên
cứu riêng biệt đã được thực hiện bởi Julian Birkinshaw, Gary Hamel và Michael J.
Mol (ví dụ như Birkinshaw, Hamel & Mol, 2008; Hamel, 2006; Mol & Birkinshaw,
trình, sách báo viết về quản lý nhà nước, cũng như vai trò của nhà nước thông qua
hoạt động định hướng, điều tiết khi hoạt động đầu tư – kinh doanh của doanh
nghiệp đã phát triển hay hỗ trợ khi hoạt động đó gặp khó khăn, vướng mắc hoặc
trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Tuy nhiên, các công trình trên chưa đề cập
đến quản lý cũng như đổi mới công tác quản lý của nhà nước trong lĩnh vực đầu tư
ra nước ngoài nói chung, cũng như lĩnh vực OFDI nói riêng.
Về quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư: Các nghiên cứu về vấn đề này
được đề cập đến trong một số công trình của các tác giả như Nguyễn Thị Mão,
2001; Ngô Hoài Anh, 2006; Ngô Văn Hiền, 2008; Trần Văn Nam, 2000. Các nghiên
cứu trên đã đề cập về mặt lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý của nhà nước trong
lĩnh vực đầu tư nước ngoài, đặc biệt là đối với hoạt động đầu tư trực tiếp. Song, hạn
chế của các công trình trên là số liệu cũ, một số quan điểm, lý luận về đầu tư không còn
phù hợp với tình hình thực tế hiện tại. Bên cạnh đó, các công trình này không hề đề cập
đến quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài, mới chỉ đề cập đến góc
độ đầu tư trong nước. Dù vậy, các quan điểm và lý luận trong các nghiên cứu trên cũng
sẽ được NCS tiếp thu có chọn lọc trong Luận án của mình.
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu thực chứng về quản lý nhà nước
trong một số lĩnh vực và địa bàn cũng được NCS tham khảo, như: Nguyễn Duyên
Cường, 2012. Đây là công trình nghiên cứu gần với đề tài Luận án tiến sỹ của tác
giả. Trong đó có hệ thống hóa về cơ sở lý luận đối với quản lý nhà nước, các công
cụ thực hiện quản lý nhà nước. Những điểm lý luận của tác giả Nguyễn Duyên
Cường cũng được tác giả Luận án tham khảo và sử dụng chọn lọc trong Luận án
của mình. Tuy nhiên, công trình này lại thực hiện ở một lĩnh vực hoàn toàn khác với
lĩnh vực nghiên cứu của Luận án. Vì vậy, sẽ không có sự trùng lặp về nội dung
nghiên cứu giữa Luận án và công trình của TS. Nguyễn Duyên Cường.
Nghiên cứu của tác giả Đỗ Đức Bình, 2007, cũng đã nêu lên các khía cạnh
quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, song chỉ giới hạn ở phạm vi
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Mục đích
của công trình này là nhằm tăng cường hiệu quả thu hút vốn FDI vào trong nước. Vì
vậy, giữa nội dung quản lý nhà nước trong công trình của tác giả Đỗ Đức Bình và
đổi các quan điểm hoặc phương pháp quản lý như thế nào để có thể tạo điều kiện
thúc đẩy hoạt động OFDI, nhưng đồng thời vẫn đảm bảo sự phát triển bền vững của
nền kinh tế trong nước.
Tác giả Nguyễn Hải Đăng, 2013, lại tiếp cận lĩnh vực này dưới góc độ Kinh tế
chính trị. Tác giả phân tích chi tiết hơn tình hình đầu tư ra nước ngoài của một số
doanh nghiệp cụ thể để thấy được xu hướng đầu tư hiện nay của các doanh nghiệp
10
Việt Nam. Công trình cũng phân tích hoạt động OFDI gắn với bối cảnh hội nhập
kinh tế quốc tế. Phần giải pháp đã đưa ra định hướng đầu tư trọng điểm, trong đó,
tác giả chú trọng đến hai thị trường Lào và Campuchia. Tuy nhiên, trong công trình
này, hầu như tác giả cũng chỉ đề cập đến hoạt động đầu tư trực tiếp dưới góc độ của
doanh nghiệp, chưa đứng dưới góc độ quản lý nhà nước để tiếp cận với lĩnh vực
OFDI. Bên cạnh đó, trong phần đánh giá về kết quả và hạn chế, tác giả chưa đánh
giá được hiệu quả của các dự án đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt
Nam (kể cả về các chỉ tiêu lợi nhuận, cũng như các chỉ tiêu về lợi ích kinh tế xã hội
khác). Ngoài ra, tác giả cũng không thực hiện khảo sát, đánh giá để tạo ra sức mạnh
cho các luận điểm, cũng như giải pháp đã đưa ra.
Ngoài ra, có nhiều công trình được thể hiện dưới hình thức sách tham khảo,
các bài báo, đề cập đến tình hình đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam ra
nước ngoài nói chung (Đinh Trọng Thịnh, 2006; Võ Thanh Thu, Ngô Thị Ngọc
Huyền, 2009; Phạm Tiến, 2011) hoặc sang một thị trường (Anh Vũ - Mai Hà N.Trần Tâm, 2011; Nguyễn Văn An, 2011; Nguyễn Hòa, 2014) hoặc một khu vực
thị trường cụ thể. Bản thân NCS cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề
đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam.
Các bài viết trên chỉ là những lát cắt, với phạm vi thu hẹp tại một thị trường
hoặc khu vực, đồng thời cũng mới chỉ dừng lại ở việc mô tả tình hình đầu tư, kết quả
của hoạt động đầu tư, đồng thời đánh giá những thành công, hạn chế và đưa ra một số
giải pháp mang tính chất định hướng chung nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư của các
doanh nghiệp Việt Nam sang các thị trường nhất định. Các bài viết trên không đi sâu
kiểm.
- Ngân hàng Nhà nước, trong “Báo cáo tổng kết năm thi hành Pháp lệnh
Ngoại hối” thực hiện năm 2011 đã đưa ra quan điểm về công tác quản lý ngoại hối
theo hướng quản lý chặt chẽ đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Tất cả các quan điểm, giải pháp mà các Bộ, cơ quan ngang Bộ đưa ra để quản lý
hoạt động đầu tư ra nước ngoài nói chung và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài nói riêng
đều chỉ đứng dưới góc độ của Nhà nước, cụ thể là dưới góc độ quản lý của chính Bộ,
cơ quan ngang Bộ đó. Chính vì vậy, trong nhiều trường hợp, quan điểm quản lý của
các Bộ, ban, ngành không được sự đồng tình ủng hộ của các doanh nghiệp.
Luận án tiếp thu và có nhận xét quan điểm của các Bộ, ngành trong quản lý đối
với hoạt động OFDI, song có tính đến quan điểm và lợi ích của các doanh nghiệp để
đưa ra giải pháp hài hòa và hợp lý nhất dưới giác độ khoa học.
Bên cạnh những báo cáo chính thức của các cơ quan quản lý nhà nước, nhiều
công trình của các tác giả, là những nhà nghiên cứu, những cán bộ đã và đang làm
công tác quản lý trực tiếp đối với hoạt động OFDI. Những bài viết là tổng kết kinh
nghiệm quản lý OFDI của các nước khác và gợi ý áp dụng cho Việt Nam; hoặc là
những đúc kết kinh nghiệm quản lý của bản thân.
12
Ngoài ra, có nhiều công trình chỉ mang tính chất tổng kết kinh nghiệm quản lý
đối với OFDI trên thế giới. Với bài viết của tác giả Lê Xuân Sang, 2011, chủ yếu
chỉ tập trung vào các giải pháp quản lý mang tính chất hỗ trợ cho hoạt động OFDI
chứ chưa đề cập đến các giải pháp mang tính chất tổng thể. Còn tác giả Vũ Văn
Chung, 2012, lại mới chỉ tiếp cận ở phạm vi của Nhật Bản và Hàn Quốc, đồng thời
cũng chưa nêu kinh nghiệm tổng kết rút ra từ bài học của Nhật và Hàn Quốc và giải
pháp cụ thể nên áp dụng đối với Việt Nam là như thế nào.
Tác giả Phan Hữu Thắng, 2013, lại tổng kết công tác quản lý dưới góc nhìn
đầy kinh nghiệm của nhà quản lý. Tác giả cũng đưa ra một vài góc nhìn giúp công
tác quản lý hoạt động ĐTRNN có hiệu quả hơn. Mặc dù chưa đề cập đầy đủ mọi
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ nội dung quản lý nhà nước và đổi mới quản lý nhà nước đối với hoạt
động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam.
- Trên cơ sở đó đưa ra định hướng và giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà
nước đối với hoạt động OFDI theo hướng khuyến khích, phù hợp với quá trình hội
nhập của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là quản lý nhà nước đối với hoạt động
OFDI. Luận án phân tích các cơ chế và chính sách quản lý nhà nước đối với hoạt
động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các DN VN để thấy sự cần thiết phải đổi
mới quản lý nhà nước đối với hoạt động này trong tương lai. Bên cạnh đó, Luận án
cũng nghiên cứu hoạt động đầu tư trực tiếp của các DN VN ra nước ngoài theo sự
thay đổi của hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước, để thấy được tác động và
mối tương quan giữa quản lý nhà nước và hoạt động OFDI của doanh nghiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Luận án nghiên cứu hoạt động quản lý tại các cơ quan nhà
nước như: Chính phủ, Bộ KH&ĐT, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, NHNN. Đồng
thời Luận án cũng nghiên cứu hoạt động đầu tư của một số DN VN, điển hình như:
Viettel, BIDV, Hoàng Anh Gia Lai, Tập đoàn dầu khí Việt Nam, và một số doanh
nghiệp khác; các quan điểm, định hướng, quy định, chính sách quản lý của Nhà
nước điều tiết trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
- Thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu hoạt động đầu tư ra nước ngoài
của các doanh nghiệp từ năm 1989 đến năm 2014, đồng thời nghiên cứu hệ thống
quản lý nhà nước về lĩnh vực OFDI từ năm 1999 cho đến nay. Năm 1999 là mốc
thời gian bắt đầu ban hành Nghị định 22/1999, là văn bản được coi là đặt nền móng
cho hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
14
(IMF, 2005b; Helleiner 1997, p.9; UNCTAD 2005d), mô hình quản lý nhà nước đối
với OFDI dựa vào môi trường kinh tế và tính liên tục/gián đoạn trong các thể chế