MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa
kiệt xuất, đồng thời cũng là vị cha già kính yêu của dân tộc Việt Nam. Cả cuộc đời
người là tấm gương sáng ngời về đức hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng
dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Đặc biệt, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người, Chủ tịch Hồ Chí
Minh rất quan tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ. Người khẳng định: “Nói phụ nữ
là nói phân nửa xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một
nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một
nửa”1. Người đã nêu lên tư tưởng của mình về giải phóng phụ nữ và có những hành
động thiết thực cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng phụ nữ.
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ, kể từ
khi tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước (1986), Đảng ta đã không ngừng phát
1 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 300.
1
huy vai trò của mình trong việc lãnh đạo toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm
mục tiêu “giải phóng con người” mà trong đó có giải phóng phụ nữ. Từ năm 2001
đến nay, trong bối cảnh tình hình mới, nhiệm vụ đấu tranh giải phóng phụ nữ được
Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh hơn nữa, bằng nhiều chủ trương, đường lối, chính
sách cụ thể và thiết thực, nhằm góp phần thực hiện quyền bình đẳng và phát huy
vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Có thể thấy rằng, việc nghiên cứu quá trình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
về giải phóng phụ nữ của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn 2001 – 2015 là điều
hết sức cần thiết, nhằm rút ra những kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm cho
việc đấu tranh thực hiện bình đẳng giới, phát huy vai trò của phụ nữ trong
cơ sở vận dụng (tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ); bối cảnh vận dụng
(trong nước và thế giới);nội dung vận dụng (chủ trương, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước); kết quả, ý nghĩa và bài học kinh nghiệm.
- Phạm vi nghiên cứu là ở nước ta, giai đoạn 2001 – 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biệt chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Có phương pháp chủ yếu là phương pháp
lịch sử và phương pháp logic. Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp khác như
phân tích, so sánh, tổng hợp…
3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài góp phần bổ sung các giá trị luận trong quá trình vận
dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, đặc biệt
là các vấn đề về việc đấu tranh giải phóng phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
trong từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể.
- Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu khoa
học của sinh viên chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh và các ngành học khác có
liên quan.
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Nhìn chung, cho đến này số lượng công trình nghiên cứu việc vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ không nhiều.
Trước hết, là những công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh mà
trong đó có đề cập đến nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ. Tiêu
biểu cho các công trình này là tác phẩm Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con
người do nhà nghiên cứu Phạm Ngọc Anh chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2005. Tác giả dành khoảng 15 trang để trình bày những quan điểm độc đáo,
sáng tạo của Hồ Chí Minh về giải quyền phụ nữ, từ cách tiếp cận quyền phụ nữ cho
về phụ nữ và quản lý, thực trạng nữ lãnh đạo và quản lý trên thế giới và ở Việt
Nam hiện nay.
Sau cùng là những công trình nghiên cứu trực tiếp đến tư tưởng Hồ Chí
Minh về giải phóng phụ nữ và sự vận dụng tư tưởng đó và sự nghiệp Đổi mới đất
nước trong giai đoạn hiện nay.
5
Tiêu biểu là công trình Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ
nữ, do Nxb Thông tấn biên soạn và xuất bản, Hà Nội, 2005 và công trình Chủ tịch
Hồ Chí Minh với sự tiến bộ của phụ nữ của Phạm Hoàng Điệp với, Nxb Văn hoá
Thông tin, 2008, đã tập hợp những bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về chủ đề
giải phóng phụ nữ; những mẩu chuyện, hồi kí, bài viết thể hiện lòng kính trọng,
yêu quý và biết ơn sâu sắc của phụ nữ Việt Nam và phụ nữ quốc tế đối với Người.
Kế đến là công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ của Lê
Ngọc Dũng, Luận văn Thạc sĩ Triết học trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn – ĐHQG TP.HCM, 2010. Trong đó, tác giả trình bày những nội dung cơ bản
của tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và đề xuất một số giải pháp để
thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong hiện nay.
Bên cạnh đó phải kể đến công trình Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng
phụ nữ và việc vận dụng vào sự nghiệp Đổi mới ở nước ta hiện nay của Đoàn Anh
Phượng, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Hồ Chí Minh học trường Đại học Khoa
học xã hội và Nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội, 2012.Trong công trình, tác giả
đã trình bày một cách khá đầy đủ những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí
Minh về giải phóng phụ nữ và trình thực trạng, giải pháp đẩy mạnh sự nghiệp giải
phóng phụ nữ ở nước ta trong thời kỳ Đổi mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, còn có bài viết Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và
xây dựng đội ngũ cán bộ nữ của Nguyễn Thị Trà Giang, Học viện Chính trị - Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh trình bày khái quát những nội dung cơ bản của tư
7
giúp vào, thì chắc không làm nổi” Người đã khẳng định: “An Nam cách mệnh
cũng phải có nữ giới tham gia mới thành công”3.
Theo Hồ Chí Minh, người phụ nữ Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp
đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như mọi lĩnh vực đời sống xã hội.
Trong gia đình, người phụ nữ vừa đóng vai trò là một người vợ, vừa làm
thiên chức của một người mẹ. Họ không chỉ làm công việc nội trợ, cơm nóng, canh
ngọt, mà phải lo chạy đủ gạo ăn cho gia đình, lo giỗ tết, cưới xin, ma chay, v.v..Họ
đã cần cù, tiết kiệm, giật gấu bá vai, sao cho vừa đủ ăn, làm tròn nghĩa vụ với tổ
tiên, với chồng con, với họ hàng làng xóm. Trong điều kiện hoàn cảnh sống còn
khó khăn, thiếu thốn, người phụ luôn lo lắng cho gia đình, cho con cái có cơm ăn,
áo mặc, được học hành và khỏe mạnh. Theo Hồ Chí Minh, phụ nữ cũng là người
có tiếng nói quan trọng trong gia đình, không chỉ xung phong sản xuất mà còn
“khuyên chồng con đi tòng quân mà mình thì xung phong giúp việc vận
tải”4. Những lúc chồng con ra đi bảo vệ đất nước, thì người mẹ, người vợ ở nhà
bám chặt lấy đồng ruộng, tiếp tục sản xuất, nuôi con cái, bố mẹ già và tiếp lương
cho quân đội. Chị em phụ nữ đã làm mọi công việc thay chồng con, vì việc
nước mà vắng nhà. Công lao to lớn của các bà, các mẹ, các chị được Hồ Chí Minh
kịp thời thay mặt cả nước ngợi khen và gửi lời cảm ơn: “Nhân dân ta rất biết ơn
các bà mẹ hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của
nước ta”5.
Trên mặt trận lao động sản xuất, Hồ Chí Minh luôn khẳng định phụ nữ luôn
có vai trò rất quan trọng, họ là hậu phương vững chắc cho tiền tuyến, chị em phụ
nữ đã góp phần công sức to lớn của mình trong việc nuôi quân và dân “ăn no đánh
giặc”. Người chỉ rõ: “chưa bao giờ có nhiều đoàn phụ nữ Kinh, Mán, Thổ, Nùng đi
3 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.2, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 315.
4 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 38.
7 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 339-340.
8 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 7.
9
ương đến cơ sở ngày càng nhiều, đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ và xây
dựng đất nước.
Trong các hoạt động văn hóa – xã hội, chị em phụ nữ cũng đã không
ngừng học tập, nâng cao trình độ. Theo Hồ Chí Minh, chính từ những cố gắng
trong học tập nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ mà hàng vạn phụ
nữ đã trở thành chuyên gia các ngành và là cán bộ lãnh đạo, làm giám đốc và phó
giám đốc các xí nghiệp, chủ nhiệm hợp tác xã nhà nước, chủ tịch ủy ban hành
chính, bí thư chi bộ Đảng, “có người gánh vác những trách nhiệm nặng như làm
thẩm phán, chánh án”9. Người nói: “Dưới chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
ngườ phụ nữ nước ta tham gia chính quyền ngày càng nhiều”10.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, phụ nữ Việt Nam có vai trò vô cùng to lớn
trong sự nghiệp cách mạng và mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đánh giá về vai trò và
công lao to lớn của phụ nữ Việt Nam, Người đã khái quát một cách ngắn gọn mà
vô cùng sâu sắc bằng 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.
1.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải giải phóng phụ nữ
Ngay từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã nhận thấy người phụ nữ luôn phải chịu
nhiều thiệt thòi bất công trong gia đình và xã hội. Trong xã hội cũ, phụ nữ thường
bị coi thường, bị coi khinh và bị ngược đãi. Thậm chí ngay cả khi cách mạng
Tháng Tám đã thành công, trong xã hội vẫn còn có tình trạng phụ nữ bị phân biệt
đối xử bất bình đẳng.
Trong xã hội cũ, xã hội phong kiến, phụ nữ nói chung không được tôn
trọng trong gia đình cũng như ở ngoài xã hội. Về điều này, Hồ Chí Minh viết:
“Dưới chế độ phong kiến và thực dân phụ nữ bị áp bức tàn tệ. Ngoài xã hội họ bị
xem khinh như nô lệ. Trong gia đình họ bị kìm hãm trong xiềng xích “tam
đối với phụ nữ như bắt họ đội đá trên đầu đứng cả ngày, bắt làm “vật thế chấp”,
thậm chí đổ cả nhựa cao su nóng bỏng vào bộ phận sinh dục. Chị em phụ
nữ, kể cả những cụ già 80 tuổi, những em bé 12, 13 tuổi, những phụ nữ đang có
thai hay đang cho con bú…đều bị xúc phạm một cách dã man và tàn bạo. Hồ Chí
11
Minh đã vạch trần và phê phán bản chất của chủ nghĩa thực dân. Người khẳng
định rằng chưa có bao giờ, ở một nước nào, một thời đại nào, người ta lại vi phạm
mọi quyền làm người một cách dã man độc ác đến thế cả.
Như vậy, trong xã hội Việt Nam dưới chế độ phong kiến cũng như dưới chế
độ thuộc địa, chị em phụ nữ về cơ bản là những người không có địa vị trong xã
hội, họ là những người bị áp bức bóc lột về kinh tế, chính trị, văn hóa, bị phân
biệt đối xử, bị nghèo đói, thiếu ăn, bị lạc hậu dốt nát. Vì vậy, để giải phóng được
phụ nữ thì trước hết phải đấu tranh giành được độc lập chủ quyền dân tộc, có
như vậy thì nhân dân ta, trong đó có chị em phụ nữ mới trở thành những người
làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình .
Gắn với việc giành được độc lập chủ quyền dân tộc, chị em phụ nữ
bước đầu đã được giải phóng. Để đảm bảo cho phụ nữ có thể được giải phóng hoàn
toàn, ngay sau cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc
xây dựng và ban hành Hiến pháp mới. Trong Hiến pháp đầu tiên đã ghi rõ trong
Điều 9: “Tất cả quyền bình đẳng trong cả nước là của nhân dân Việt Nam, không
phân biệt nòi giống, trai gái giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”, “đàn bà ngang quyền
với đàn ông về mọi phương diện”. Như vậy, trong Hiến pháp, quyền công dân,
quyền bình đẳng của phụ nữ đã được xác lập. Chị em phụ nữ đã chính thức trở
thành những người phụ nữ mới, có quyền bình đẳng với nam giới, biết sống và
biết cống hiến.
Song theo Hồ Chí Minh, mặc dù đã được pháp luật quy định, nhưng trên
thực tế chị em phụ nữ vẫn chưa thực sự có được tự do, bình đẳng, chưa thực sự
gia đình.
Theo Hồ Chí Minh, một gia đình tốt là một gia đình mà trong đó các thành
viên trong gia đình phải biết yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Song dotàn dư của
12 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 293.
13 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 122.
14 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 537.
13
chế độ phong kiến, người phụ nữ trong gia đình ngay cả ở thời điểm đất nước hòa
bình nhiều khi vẫn bị coi thường. Không ít cảnh bất bình đẳng khi người phụ nữ
vừa gánh vác công việc xã hội, vừa phải lo toan việc gia đình. Đã thế chị em
còn phải chịu cảnh bạo hành do có những người chồng vũ phu, cư xử thiếu
văn hóa. Hồ Chí Minh đã phê phán rất nhiều về tình trạng này. Năm 1960, trong
bài Phải thật sự tôn trọng quyền lợi của phụ nữ, Người viết: “Hiện nay vẫn còn có
những người chồng đối xử rất tệ với vợ, ngay ở Hà Nội “nghìn năm văn vật” cũng
vậy…Ở Lương Yên (Hà Nội) trong 196 gia đình, thì có 26 người chồng thường
đánh mắng vợ, có người đánh vợ bị thương. Ở khu Hai Bà Trưng, có người chỉ vì
thức ăn không vừa ý, đã hất cả mâm cơm vào mặt vợ. Có người vợ ốm, chồng để
mặc, không săn sóc trông nom. Ở xã Quảng Lưu (Thanh Hóa), có người nhét tro
vào miệng vợ và đánh vợ què tay, có người cạo trọc đầu và lột hết quần áo vợ, rồi
giong vợ đi bêu khắp thôn xóm...Những cử chỉ tàn nhẫn dã man như vậy vừa là
phạm luật, vừa trái với tình nghĩa vợ chồng”15.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh ngay cả sau khi đã giành được độc lập
chủ quyền dân tộc, trong thời kỳ xây dựng chế độ mới, ở trong gia đình cũng như
ở ngoài xã hội, người phụ nữ vẫn chưa được hoàn toàn giải phóng.
Đồng thời, Người cũng sớm nhận thấy một trong những khó khăn ảnh hưởng
đến sự nghiệp giải phóng phụ nữ chính là bản thân chị em chưa ý thức được đầy
đủ vai trò của mình cũng như chưa có đủ năng lực để thể hiện vai trò của
không ít phụ nữ, sự mặc cảm, tự ty là bạn đồng hành của sự an phận. Sự an
phận này cũng có thể xuất phát từ nhận thức không đúng về vai trò giới trong gia
đình và xã hội. Người phụ nữ an phận chấp nhận lùi về làm “hậu phương” cho
chồng, cho con. Họ bằng lòng với những lý do và mức độ khác nhau, với những
gì đang có, cho dù đó là một thực tế rất đáng buồn. Mặc cảm, tự ty cũng dẫn đến
sự ỷ lại, buông xuôi, dựa dẫm và phụ thuộc vào người khác. Vì vậy nên một bộ
16 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 640.
15
phận không nhỏ phụ nữ không chủ động vươn lên, vượt qua những trở ngại để
sánh vai cùng nam giới trên con đường phát triển. Có thể xem đây là một căn bệnh
do ảnh hưởng của tư tưởng “trọng nam, khinh nữ”, “tam tòng” của xã hội cũ
để lại, làm cho người phụ nữ luôn cảm thấy “lép vế” trước nam giới trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội, làm cho họ thường nhường nhịn và chấp nhận hy
sinh. Điều đó chứng tỏ trong xã hội còn có nhiều phụ nữ chưa ý thức được đầy đủ
vai trò của mình trong việc quyết định các vấn đề trong gia đình và ngoài xã hội.
Hồ Chí Minh khẳng định địa vị xã hội, trình độ văn hóa, điều kiện sống
của phụ nữ là phản ánh trình độ văn minh của dân tộc. Những yếu kém, thiệt
thòi của phụ nữ là phản ánh sự lạc hậu, chậm tiến của đất nước. Vì vậy, toàn
thể xã hội, Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội phải giúp chị em
phụ nữ đấu tranh khắc phục những tư tưởng, tâm lý lỗi thời lạc hậu. Sự giác
ngộ cách mạng, sự tự ý thức được về vai trò của người phụ nữ là những điều
kiện cần thiết, cơ bản để chị em có thể vươn lên làm chủ vận mệnh của mình,
tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước không thua kém
nam giới.
1.3. Theo Hồ Chí Minh, thực chất của vấn đề giải phóng phụ nữ là xóa bỏ bất
bình đẳng đối với phụ nữ
Theo Hồ Chi Minh, nguồn gốc đem đến sự đau khổ của phụ nữ chính là sự
quan hệ mật thiết đến mọi người dân trong nước, đến cả nòi giống Việt Nam ta.
Đạo luật ấy làm cho gái trai thật sự bình đẳng, gia đình thật sự hạnh phúc”19.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, như ta biết, Nho giáo đã ảnh hưởng rất
lớn, tư tưởng trọng nam khinh nữ là một thói quen ăn sâu trong tiềm thức của
người Việt. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh, để thực sự giải phóng phụ nữ, cần có sự
17 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 342.
18 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 342.
19 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 427.
17
chuyển biến sâu sắc về nhận thức trong xã hội để thay đổi tư tưởng thành kiến đối
với phụ nữ. Cuộc cách mạng giải phóng phụ nữ trước hết là cuộc cách mạng về tư
tưởng, nhận thức, đấu tranh chống lại các thói quen lâu đời. Cần phải có sự thay
đổi về nhận thức của toàn xã hội để có sự nhìn nhận, đánh giá khách quan, đúng
đắn đối với vai trò, vị trí của phụ nữ và nam giới. “Phải cách mạng từng người,
từng gia đình đến toàn dân”20, sau đó, phải thực hiện những hành động, giải pháp
đồng bộ, toàn diện “về chính trị, kinh tế, văn hóa và pháp luật”, đảm bảo quyền
bình đẳng nam nữ trong thực tiễn.Đồng thời, thực hiện bình đẳng nam nữ không
chỉ là việc phân công lao động một cách giản đơn trong gia đình mà còn phải gắn
liền với sự sắp xếp, phân công lao động trong toàn xã hội. Nhà nước cần tổ chức
những nhà giữ trẻ, vận động nam giới tham gia công việc gia đình, tạo điều kiện
cho phụ nữ vừa hoàn thành vai trò của người mẹ, người vợ vừa thực hiện tốt các
nhiệm vụ xã hội. Ngoài ra, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phù hợp,
hỗ trợ cho phụ nữ học tập, nâng cao trình độ về mọi mặt để tham gia vào hoạt động
chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân:
“Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng
đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch
xem giải phóng dân tộc là điều kiện tiên quyết để tiến tới giải phóng phụ nữ. Chị
em phụ nữ chỉ được giải phóng chừng nào nhân dân ta thoát khỏi ách thống trị của
bọn đế quốc và bè lũ phong kiến tay sai, giành độc lập chủ quyền dân tộc, thiết
lập chính quyền dân chủ nhân dân. Người khẳng định đàn bà con gái cũng nằm
trong nhân dân, cả dân tộc được tự do, thì đương nhiên họ cũng là những người
được tự do. Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng
sẽ sống trong cảnh nô lệ.
Nét đặc biệt trong tư tưởng giải phóng phụ nữ ở Hồ Chí Minh là đặt sự
nghiệp giải phóng phụ nữ trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng, đặt quyền của chị
em phụ nữ gắn liền quyền dân tộc độc lập, quyền dân tộc tự quyết. Theo Hồ Chí
19
Minh, có giành được độc lập dân tộc thì mới thực hiện được quyền bình đẳng của
phụ nữ. Trong đấu tranh giải phóng dân tộc phải đem toàn bộ sức mạnh dân tộc
để tranh đấu, phải “đem sức ta mà giải phóng cho ta”.
Trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ cũng là đem sức mạnh của đoàn kết dân
tộc, đoàn kết phụ nữ mà giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ trong
xã hội. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ
nghĩa đều là hướng tới để giải phóng con người, giải phóng phụ nữ. Theo Hồ Chí
Minh, nếu chưa giải phóng được phụ nữ, một “phần nửa” xã hội thì cũng có nghĩa
là chưa xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới thật sự
đem lại lợi ích cho con người, trong đó có người phụ nữ. Người khẳng định quá
trình xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng chính là quá trình thực hiện giải phóng phụ
nữ và ngược lại. Để được giải phóng, có quyền bình đẳng với nam giới thì chị em
phụ nữ phải tích cực tham gia góp phần vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh, làm cách mạng xét đến cùng là để giành
lấy độc lập, tự do, dân chủ, nam nữ đều có quyền như nhau. Nếu cách mạng mà
chưa giải phóng được phụ nữ thì cũng có nghĩa là nó mới giải phóng được một
nửa thế giới. Người khẳng định chỉ có giải phóng được dân tộc và phát triển đất
quan tâm của Đảng và của Hồ Chí Minh đã động viên chị em phụ nữ tích cực
tham gia cách mạng, gắn bó chặt chẽ với phong trào đấu tranh chung của toàn dân
tộc. Người luôn nhắc nhở Đảng ta phải có vai trò đối với phụ nữ, trước lúc đi xa
Người còn căn dặn: “Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi
dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể
cả công việc lãnh đạo.”23.
Sự nghiệp giải phóng phụ nữ muốn thành công là nhờ có sự lãnh đạo của
Đảng, song phải thông qua tổ chức hội của phụ nữ, vì tổ chức hội là nơi trực tiếp
đứng ra tập hợp và bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chị em. Sớm nhận thức
23 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.15, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 617.
21
được điều đó, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo Đảng ta phải làm sao để phụ nữ tham gia
các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ
nhằm tập các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng. chính vì vậy mà vào ngày 2010-1930, Hội phụ nữ chính thức được thành lập (mà sau này có tên là Hội Liên
hiệp Phụ nữ Việt Nam). Sự kiện lịch sử này nói lên quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí
Minh và Đảng ta đối với vai trò của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ
nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
Theo Hồ Chí Minh, để phát huy vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp giải
phóng phụ nữ, Hội phụ nữ cần phải ra sức tập hợp, đoàn kết chị em phụ nữ trong
nước với nhau, đồng thời phải đoàn kết với “phụ nữ các nước phe ta và phụ nữ tiến
bộ trên thế giới”; phải giúp chị em phát huy vai trò làm chủ của mình, “tức là phải
ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây
dựng chủ nghĩa xã hội”. Trong bài phát biểu tại Đại hội toàn quốc lần thứ III của
Hội Phụ nữ, Người căn dặn: “Muốn người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức những
nơi gửi trẻ và những lớp mẫu giáo. Hiện nay có một số cơ quan, xí nghiệp và địa
phương đã làm được khá tốt. Hội phụ nữ cần phải phổ biến những kinh nghiệm đó
và giúp đỡ chị em các nơi khác tổ chức tốt” 24. Trong công tác tuyên truyền của
tâm giúp đỡ phụ nữ. Vậy chị em phụ nữ ta phải nhận rõ địa vị làm người chủ và
nhiệm vụ người làm chủ nước nhà; phải có quyết tâm mới, đạo đức mới, tác phong
mới để làm trọn nghĩa vụ mới của mình là góp phần xứng đáng vào công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, trước mắt là thi
đua hoàn thành tốt kế hoạch năm nay, để làm đà tốt cho cả kế hoạch 5 năm, để xây
dựng đời sống tươi vui hạnh phúc cho nhân dân ta, cho con cháu ta”29
Nói tóm lại, Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ là những quan
điểm của Người về vai trò của phụ nữ, bản chất và con đường giải phóng họ. Tư
tưởng đó bắt nguồn từ truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam là tôn trọng phụ
nữ, từ những quan điểm về giải phóng phụ nữ của chủ nghĩa Mác-Lênin và từ bối
27 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.15, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 617.
28 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 60.
29 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, t.13, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 60.
23
cảnh thực tiễn quyền phụ nữ ở nước ta và trên thế giới đầu thế kỷ XX mà Hồ Chí
Minh đã nhận thức được và vận dụng sáng tạo và sự nghiệp đấu tranh giải phóng
phụ nữ Việt Nam.
Theo Hồ Chí Minh, phụ nữ không chỉ có vai trò trong đời sống gia đình,
mà họ còn có vai trò rất lớn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, họ có
khả năng trực tiếp tham gia và có nhiều đóng góp to lớn trong đấu tranh chống
giặc ngoại xâm, trong lao động sản xuất ra của cải vật chất và sáng tạo ra các giá
trị văn hóa tinh thần, cũng như trong các công việc lãnh đạo quản lý xã hội.
Tuy nhiên, trong xã hội thuộc địa nửa phong kiến, dưới sự thống trị của chủ
nghịa thực dân, quyền lợi của người phụ nữ bị chà đạp thô bạo. Đồng thời, ngay cả
khi đất nước giành được độc lập và đang xây dựng xã hội mới thì tình trang xâm
phạm, phân biệt đối với phụ nữ vẫn còn tồn tại trong khi bản thân những người phụ
nữ chưa thể tự đấu tranh giải phóng cho mình. Từ đó, Hồ Chí Minh xác định, giải
Việt Nam. Những vấn đề liên quan phụ nữ cũng đã được thể chế hóa thành Hiến
pháp và các văn bản pháp luật.
Bản Hiến pháp năm 1992 của nước ta quy định: “Công dân nữ và nam có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình;
Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ
nữ; Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau. Lao động
nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà nước và người làm
công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương, phụ
25