BÀI ĐIỀU KIỆN
MÔN: TÂM LÝ HỌC LAO ĐỘNG
Bài tập tình huống:
1. Đánh giá một cá nhân thông qua đánh giá tâm lý đối với một công việc phù hợp
2. Viết một bản hướng nghiệp cho người lao động về chuyên ngành Quản trị nhân lực
3. Thiết kế màu sắc cho phòng làm việc của Giám đốc
4. Mức độ kích thích đối với tiền lương Việt Nam
1
MỤC LỤC
Tình huống 1: Đánh giá một cá nhân thông qua đánh giá tâm lý đối với một công việc phù hợp........3
I.Tính nhân đức - Con người mạnh mẽ hay yếu đuối........................................................................3
II. Tính thủ tục và hệ thống................................................................................................................4
III. Truyền thống và mỹ thuật............................................................................................................5
IV. Khoa học kỹ thuật........................................................................................................................6
Tình huống 2 : Một bản hướng nghiệp cho người lao động về chuyên ngành Quản trị nhân lực.......10
Tình huống 3: Thiết kế màu sắc cho phòng làm việc của Giám đốc...................................................13
Tình huống 4: Mức độ kích thích đối với tiền lương Việt Nam..........................................................16
1.Tác động của tiền lương trong khu vực doanh nghiệp nhà nước..................................................16
2.Tác động của chế độ tiền lương trong khu vực hành chính – sự nghiệp.......................................17
3.Tác động của chế độ tiền lương trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài...................................18
4.Tác động của tiền lương trong khu vực kinh tế tư nhân................................................................20
2
Tình huống 1: Đánh giá một cá nhân thông qua đánh giá tâm lý đối với một công việc
phù hợp.
bạn thích sự đổi mới, thách thức.
10. Tôi rẽ bị thuyết phục bởi ý thích của đa số
Chọn : Đúng C ⇒ Thể hiện bạn là người tôn trọng tập thể
3
11. Tôi luôn thích giành được thắng lợi khi tham gia một hoạt động nào đó
Chọn : Đúng C ⇒ Thể hiện con người luôn muốn thể hiện mình
12. Nếu đựơc phép lựa chọn tôi sẽ làm theo cách của mình trước
Chọn : Đúng C ⇒ Thể hiện bạn là người giám nghĩ và giám làm
13. Sự thành công trong công việc có ý nghĩa to lớn đối với tôi
Chọn : Đúng C ⇒ Thể hiện bạn là người có tham vọng
14. Tôi thích những công việc đòi hỏi về thể lực và tinh thần
Chọn : Sai C ⇒ Thể hiện bạn thích các công việc riêng biệt, đặc trưng riêng
15. Tôi thường tự hỏi về cảm xúc thực của mình
Chọn : Sai C ⇒ Thể hiện bạn là người có tư duy rõ ràng, thống nhất
16. Nếu ai đó làm tôi bực bội tôi sẽ nói cho họ biết điều đó
Chọn : Đúng A ⇒ Thể hiện bạn là một người thẳng thắn
Kết quả : 05 A = 30 điểm
03 B = 15 điểm
09 C = 45 điểm
Như vậy Điểm A nhiều hơn điểm B thể hiện bạn là người thích được chăm sóc cho
mọi người hơn là gây ảnh hưởng chi phối họ. Do đó thích hợp với công việc xã hội, bác sỹ,
giáo viên. Điều này đúng vì hiện tại tôi làm công tác giảng dạy.
II. Tính thủ tục và hệ thống
1. Tôi thường thích đồ đạ được giữ nguyên theo thứ tự
Chọn : Đúng A ⇒Thể hiện con người hay tư duy thống nhất, có tính hệ thống
2. Tôi kết luận hầu hết các vấn đề một cách nhanh gọn
Chọn : Sai A ⇒ Thể hiện con người có
3. Các giải pháp truyền thông là tốt nhất
16. Cảnh đẹp tự nhiên thường làm tôi kinh ngạc
Chọn : Đúng C
Kết quả : 03A = 18 điểm
05B = 20 điểm
08C = 40 điểm
Điểm C trội thể hiện bạn là một con người năng động hoạt bát thích những cái mới, thích
thử thách và chinh phục thử thách mới.
III. Truyền thống và mỹ thuật
1. Tôi thích giới thiệu các chương trình truyền hình
Chọn : Đúng A ⇒Thể hiện bạn muốn chứng tỏ và thể hiện mình trước công chúng
2. Đôi khi tôi cảm thấy khó nói ra những suy nghĩ của mình
Chọn : Đúng C ⇒Thể hiện khả năng diễn đạt của bạn không phải là hoàn hảo
3. Tôi cho rằng mình có thể viết được những chuyện ngắn rất hay
Chọn : Sai B ⇒Thể hiện bạn không có khiếu về văn học
4. Tôi có thể vẽ được mẫu thiết kế mới
Chọn : Sai C ⇒Thể hiện bạn không có năng khiếu về vẽ
5. Kiến thức của tôi về mỹ thuật khá hạn chế
5
Chọn : Đúng C ⇒Thể hiện bạn không yêu mỹ thuật
6. Tôi thích làm công việc thực tế hơn là đọc sách hay sáng tác văn chương
Chọn : Đúng C ⇒Thể hiện bạn là con người thực tế, hiện thực
7. Chẳng mấy khi tôi để ý đến các mẫu quần áo
Chọn : Sai B ⇒Thể hiện bạn thích thời trang
8. Tôi thích bàn luận với người khác về ý kiến của họ
Chọn : Đúng A
9. Tôi có nhiều ý kiến, tư tưởng có chất sáng tạo
Chọn : Sai C ⇒Thể hiện khả năng sáng tạo của bạn có hạn chế, hay ở mức bình thường
10. Tôi thấy phần lớn các tiểu thuyết không có gì thú vị
4. Tôi không có tài thuyết phục người khác
Chọn : Sai C
5. Tôi thích lập kế hoạch trước khi làm việc
Chọn : Đúng C ⇒Thể hiện bạn là người làm việc khoa học
6. Suy nghĩ theo lý thuyêt giúp giải quyết vấn đề dễ dàng hơn
Chọn : Đúng C ⇒Thể hiện khả năng vận dụng lý thuyết vào thực tế của bạn là tốt
7. Sửa chữa đồ đạc không phải là điểm mạnh của tôi
Chọn : Đúng C ⇒Thể hiện bạn không có năng khiếu về kỹ thuật
8. Tôi thích thú khi bàn về những khả năng có thể không bao giờ xảy ra
Chọn : Đúng A
9. Những lời phê bình của người khác không làm tôi thương tổn
Chọn : Đúng C ⇒Thể hiện bạn là ngừơi giám đối diện với sự thật, không ngại học hỏi
10. Tôi luôn giải quyết vấn đề bằng trực giác và cảm tính
Chọn : Sai A
11. Tôi luôn kết thúc những việc mình làm đã bắt đầu làm
Chọn : Sai B
12. Tôi không cố gắng che giấu cảm xúc của mình
Chọn : Đúng C ⇒Thể hiện bạn là người thẳng thắng
13. Tôi cảm thấy dễ dàng để tìm ra cách giải quyết cho những vấn đề thực tế
Chọn : Sai C
14. Các phương pháp truyền thống luôn luôn là tốt nhất
Chọn : Sai C
15. Sự độc lập có ý nghĩa quan trọng đối với tôi
Chọn : Đúng A
16. Tôi thích đọc văn học cổ điển
Chọn : Sai B ⇒Thể hiện bạn không phải là người có khả năng cảm thụ văn học, không
thích văn học
Kết quả : 03A = 15 điểm
02B = 12 điểm
11C = 55 điểm
mức độ phù hợp ở mức độ nào :
Nghề giáo viên thì có lẽ đòi hỏi quan trọng nhất là luôn phải tự cập nhật thông
tin,không ngừng học hỏi, hòan thiện về chuyên môn và bản thân. Điều này
thích ứng với đặc tính tâm lý là thích thử thách, không ngại khó khăn.
Nghề này luôn cần phải gắn kết lý thuyết với thực tiễn. Thích ứng với đặc tính
tâm lý là nghiêng về lý thuyết hơn thực tế. Nhưng điều này không phải là phù
hợp hoàn toàn vì đặc tính cá nhân chỉ ra rằng tôi là một người thực tế, thích
làm các công việc thực tế ;
Công việc này đòi hỏi khả năng diễn đạt, kỹ năng giao tiếp đặc biệt là trước
đám đông. Điều này là phù hợp với đặc tính tâm lý ở phần trắc nghiệm trên là
cởi mở, có khả năng thuyết phục người khác.
Từ phân tích trên có thể đưa ra rằng với đặc tính tâm lý của tôi như vậy tôi phù hợp
với nghề giáo viên tới 90%.
Tuy nhiên, với đặc tính tâm lý của người này, để thành công được cần chú ý :
8
− Cần phát huy tư duy lôgic lý thuyết – thực tế và thực tế - lý thuyết ;
− Cần phải tìm hiểu kỹ thực tế, không xa rời thực tế trong khi thực hiện công việc
9
Tình huống 2 : Một bản hướng nghiệp cho người lao động về chuyên ngành Quản trị
nhân lực.
Chào các bạn!
Mỗi chúng ta dù còn nhỏ hay đã lớn khôn thì đều mang trong mình những mơ ước,
những hoài bão của riêng mình. Tôi tin chắc rằng những ước mơ và hoài bão ấy sẽ mang
lại cho chúng ta hạnh phúc riêng của mỗi người trong cuộc sống. Chính những hoài bão
đó cho chúng ta lý do chúng ta tồn tại, cho chúng ta khẳng định mình là ai trên cõi đời
trường mở chuyên ngành này như Đại học tự nhiên – Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học
Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Lao động – Xã hội, Đại học Công Đoàn….
Vậy học quản tri nhân lực tức là học cái gì và mai sau sẽ làm gì. Tôi sẽ giải đáp cho
các bạn ngay sau đây. Khi học chuyên ngành Quản trị nhân lực các bạn sẽ được học bốn
môn học thuộc chuyên ngành này đó là:
1) Quản trị nhân lực
2) Tâm lý học trong lao động
3) Tổ chức lao động khoa học
4) Hành vi tổ chức
Với mỗi môn sẽ cung cấp cho chúng ta những kiến thức, kỹ năng và nhìn nhận vấn đề
về con người và tổ chức ở các khía cạnh khác nhau:
− Quản trị nhân lực nhìn nhận và kiểm soát con người thông qua các hoạt động nhân sự
trong tổ chức như tuyển dụng, đào tạo, phát triển và phúc lợi … với mục đích là thu
hút và gìn giữ được nhân tài ở lại với doanh nghiệp;
− Tâm lý học trong lao động nhìn nhận và kiểm soát con người thông qua tìm hiểu tâm
sinh lý người lao động, nghiên cứu hành vi của người lao động để có thể hiểu và biết
cách tác động vào tâm lý hành vi đó để đem lại hiệu quả cao và tạo động lực làm việc
cho người lao động;
− Với tổ chức lao động khoa học thì lại rộng hơn đó là nghiên cứu từng hoạt động riêng
rẽ của con người trong hoạt động sản xuất để có thể tính toán thời gian làm việc tối ưu
cho người lao động. Đồng thời, xem xét và bố trí nơi làm việc cho người lao động một
cách tối ưu nhất để tiết kiệm thời gian, thuận lợi cho người lao động một cách khoa
học;
− Còn riêng với hành vi tổ chức thì lại nhìn nhận con người như một nhóm một tổng thể
trong tổ chức thể hiện cách thức làm việc nhóm, xây dựng văn hóa doanh nghiệp cũng
như cơ cấu, kết cấu của tổ chức một cách phù hợp nhất.
Vậy khi ra trường các bạn là ai, làm những công việc gì ? Ở đâu? Tôi sẽ giải đáp cho
các bạn ngay sau đây:
nhân lực, còn những bạn nào đang chán nản với công việc của mình, thì hãy thử thử sức vào
lĩnh vực này đi. Tôi chắc chắn là rất thú vị đó.
Chào thân ái!
12
Tình huống 3: Thiết kế màu sắc cho phòng làm việc của Giám đốc
Sự thành công của một không gian nội thất phụ thuộc rất nhiều vào những yếu tố như:
màu sắc, ánh sáng, hình dáng của không gian, đồ vật… và sự kết hợp hài hoà, bổ túc lẫn
nhau giữa chúng. Sự kết hợp hài hoà giữa chức năng của căn phòng với màu sắc, hình dáng,
chất liệu, tỉ lệ… sẽ đảm bảo cho một thiết kế đẹp và tạo nên tâm lý thoải mái cho người sử
dụng. Trong số những màu sắc hiện diện xung quanh con người thì màu sắc trong nội thất có
ảnh hưởng rất lớn và thường xuyên đến con người. Bởi vì màu sắc trong nội thất là những cái
mà chúng ta tiếp xúc thường xuyên từ lúc tỉnh dậy, làm việc cho đến khi đi ngủ. Như vậy,
một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu và có ảnh hưởng rất lớn đối với nội thất chính là
màu sắc. Nhưng để hiểu và phối hợp màu sắc trong nội thất sao cho đẹp mắt và phù hợp với
tâm lý của con người, đặt biệt là phòng làm việc của Giám đốc. Chính vì vậy tôi có đưa ra
đây một cách thiết kế màu sắc cho phòng làm việc của Giám đốc.
Giám đốc là một người có vị trí và vị thế cao nhất trong tổ chức, doanh nghiệp. Hình ảnh
về phòng giám đốc được thể hiện rõ nhất về hình ảnh của công ty, văn hóa công ty và thể
hiện bản sắc, sự hùng mạnh của công ty. Do đó việc thiết kế cho phòng giám đốc cần phải
đảm bảo các tiêu chuẩn đó là:
1) Phải thể hiện được sự sang trọng, lịch sự, uy thế, uy quyền của lãnh đạo;
2) Bố trí phải thỏa mãn về thẩm mỹ tức là việc bố trí nội thất phải hài hòa, không nên
nhiều quá, tốt nhất là tạo không gian rộng thể hiện sự phóng khoáng và uy quyền.
Màu sắc trang trí phải đẹp, lịch sự.
3) Thiết kế phòng giám đốc phải thỏa mãn về tâm lý và phong thủy.Mỗi màu sắc, ánh
sáng trong phòng phải phù hợp với tâm lý của giám đốc khi ngỉ ngơi thì màu sắc phải
thư thái, dễ chịu,
Màu trắng đối với nền nhà và rèm cửa và ghế sofa tạo nên sự sạch sẽ, đĩnh đạc và sự
tự tin;
Màu hơi vàng của sàn gỗ có vân tạo nên sự sang trọng, ấm áp vui tương, than thiện
và năng động. Riêng bàn uống uống thì rải thảm có màu sang hơn tạo sự vui vẻ và
thoải mái;
Màu xanh lá cây của cây tươi đặt cạnh cửa sổ và lọ hoa có lá màu xanh đặt trên bàn
uống nước tạo nên cảm giác bình tâm, dễ chịu, tin cậy và màu này được coi là màu
sắc của “trí tuệ” và “sự thông thái”
Như vậy từ việc kết hợp,bố trí nội thất và màu sắc của chúng đã tạo được các cảm giác
tự tin, đĩnh đạc, quyền uy và thông thái khi làm việc và sự thoải mái, năng động tươi vui và
thân thiện khi nghỉ ngơi hay khi tiếp khách.
Ngoài những cái đã đạt được về mặt tâm lý như vậy thì theo quan điểm của Phong thuỷ
thì việc bố trí phòng làm việc của Giám đốc như trên còn đảm bảo được sự hài hoà cân bằng
của âm dương. Những màu sắc âm mang lại sự thư thái và sự hồi phục là màu trắng, màu
xanh lá cây, …những màu sắc dương mang lại sự nhiệt huyết động lực và sang tạo trong
công việc đó là màu vàng, màu nâu, màu be, màu hạt dẻ…
Tóm lại việc bố trí màu sắc và nội thất trong phòng Giám đốc đã đạt cả về mặt hiệu ứng
tâm lý và đạt được sự cân bằng âm – dương trong màu sắc.
15
Tình huống 4: Mức độ kích thích đối với tiền lương Việt Nam
Theo K.Marx định nghĩa tiền lương là giá trị sức lao động và tiền lương sẽ luôn luôn vận
động cùng chiều với giá trị sức lao động; giá trị sức lao động được đo lường thông qua giá trị
những tư liệu tiêu dùng vật chất và tinh thần cần thiết tối thiểu để nuôi sống người lao động
và gia đình người lao động, cộng với chi phí đào tạo. Nghĩa là tiền lương phải đủ để nuôi
sống được người lao động và gia đình họ trên hai phương diện: vật chất và tinh thần. Vậy
tiền lương củaViệt Nam có thể thoả mãn được yêu cầu cung cấp đủ vật chất và tinh thần cho
người lao động, kích thích người lao động làm việc không?
sách phụ cấp có tính chất cục bộ ở một số ngành, các chế độ học phí, viện phí cho phép để lại
một số phần để tăng thu nhập cho cán bộ, tình trạng thu tiền học, tiền khám chữa bệnh tràn
lan và thái quá… đã làm cho hệ thống lương mang tính chắp vá, có nguy cơ phá vỡ quan hệ
tiền lương, phá vỡ những nguyên tắc thiết kế của chế độ tiền lương mới, tạo nên sự chênh
lệch về thu nhập, những vấn đề xã hội phức tạp và không tạo được động lực làm việc có
trách nhiệm hết mình của cán bộ.
2.Tác động của chế độ tiền lương trong khu vực hành chính – sự nghiệp
Trong khu vực hành chính, sự nghiệp, chế độ tiền lương mới khi ban hành do khả
năng của nền kinh tế và cân đối ngân sách nên mức lương tối thiểu đưa ra thấp, mức sống
chưa được cải thiện.
Theo Bộ LĐ-TB&XH, chế độ tiền lương VN chia làm hai dạng: thang lương và bảng
lương Thang lương áp dụng với công nhân kỹ thuật trực tiếp sản xuất. Bảng lương áp dụng
với các nghề công nhân không xác định được tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật và tất cả các viên
chức (Đảng, đoàn thể, hành chính, sự nghiệp, lực lượng vũ trang và viên chức trong doanh
nghiệp). Nhà nước ban hành một mức lương tối thiểu áp dụng chung cho các khu vực (trừ
khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài). Mức này được tính toán trên một số yếu tố
khoa học với mục đích chính là đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động. Cán bộ
công chức được hưởng lương theo mức lương tối thiểu nhân với một hệ số nhất định.Hệ số
này được tính theo hai chỉ số là độ phức tạp lao động và điều kiện lao động
Theo mức lương tối thiểu năm 2008 là 540.000/1 tháng thì cách tính và trả lương
như vậy thì hầu hết người lao động nhận lương rất thấp, trung bình nằm trong khoảng dưới
1.000 000 – 2.000 000 đồng/tháng.Với thời buổi kinh tế như hiện, giá cả thì có xu hướng
tăng cao, thì tiền lương mà cán bộ công nhân viên chức nhận được là rất thấp, lương ba cọc
ba đồng, khó có thể đảm bảo cuộc sống thực tế cho người dân.
Chẳng hạn như trường hợp của một bác sĩ, làm việc ở một cơ quan của Nhà nước đến
nay là 11 năm nhưng hiện tại lương cơ bản hằng tháng chỉ có 1.498.500 đồng. Nếu tính nay
cả phụ cấp thì xấp xỉ 2 triệu đồng/tháng. Trong khi đó vị bác sĩ đó phải gánh các khoản chiết
trừ và chi phí cố định (ở mức chi dè sẻn) như sau:
Tiền ăn:
750.000 đồng
BHXH, BHYT, công đoàn phí, đảng phí:
120.000 đồng
Các khoản phí: vệ sinh, đổ rác, an ninh trật tự khu phố: 20.000 đồng.
Như vậy, chỉ tính phần “cứng”, mỗi tháng bác sĩ đó tiêu tốn mất 1.740.000 đồng, chưa kể
các khoản đóng góp đột xuất nhưng lại rất thường xuyên ở cơ quan và ở khu phố.Tính ra mỗi
tháng chỉ còn nhiều nhất là 260.000 đồng để phòng khi phải sửa chữa xe cộ hoặc các sự cố
đột xuất khác và phục vụ cho việc giao tế như thăm người ốm, cưới hỏi, sinh nhật, tang ma.
Cuối cùng, chẳng để được đồng nào để dự phòng cho những lúc ốm đau, bệnh tật!
Hiện nay, nguồn thu từ tiền lương của CCHC chỉ chiếm 28,66% tổng thu nhập
còn ở CCSN thì nguồn thu từ tiền lương chiếm khoảng 46% - 47% tổng thu nhập. Từ đó có
thể thấy rằng thu nhập và mức sông của CCHC và CCSN ở nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào
các nguồn thu nhập khác như làm thêm, kinh tế phụ gia đình, sản xuất kinh doanh, bán tài
sản… Điều đó dẫn đến tiền lương không tạo được động lực cho cán bộ công chức dẫn đến
tình trạng đi muộn về sớm để làm kinh tế gia đình tạo nguồn thu nhập thêm để đảm bảo cho
sự đòi hỏi của cuộc sống ngày càng cao.
Không những thế,với việc ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm
2008 -2009, khiến lạm phát tăng cao, Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ, tỷ lệ lạm phát của
Việt Nam quý I/2009 là 14,5%, do đó giá cả sinh hoạt trở nên đắt đỏ. Trước tình hình đó,
Nhà nước đã tăng tiền lương tối thiểu từ 540.000 lên 650.000 đồng/1 tháng, tức tăng 20,3%.
Như vậy tỷ lệ tăng lương nhưng không đáng kể so với tỷ lệ gia tăng lạm phát. Điều này khiến
đời sống CBCC không cải thiện được mấy, thậm chí khi Nhà nước mới có dự án tăng tiền
lương tối thiểu thì giá cả của các mặt hàng thiết yếu cho sinh hoạt đã tăng giá. Vì vậy cuộc
sống của họ đã khó khăn thì ngày càng khó khăn hơn
3.Tác động của chế độ tiền lương trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài
Hiện nay, tiền lương bình quân của lao động Việt Nam làm việc trong các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 74,02USD/tháng tương đương1.029.000đồng/tháng, cao
nhất là trên 1000USD/tháng tương đương 14.000.000đồng/tháng và thấp nhất là
37USD/tháng tương đương 450.000đồng/tháng. Với mức tiền lương như vậy thì các doanh
nươc ngoài có cao hơn tiền ở các doanh nghiệp nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp
nhưng người lao động phải làm việc ở mức lao động mà doanh nghiệp đầu tư nước ngoài qui
định. Mức lao động đó qui ra sức lao động mà người lao động bỏ ra để hoàn thành công việc
thì nó cao hơn mức tiền lương mà họ nhận được, công việc họ làm thì mang tính dập khuôn
19
không cần tính sáng tạo, nó gây cho người lao động cảm giác nhàm chán và mệt mỏi. Đối với
người quản lý thì tiền lương nhận được khá cao so với những người quản lý cùng cấp ở các
khu vực khác, một số người cảm thấy mãn nguyện và làm việc công hiến hết mình. ĐIều
đáng nói ở đây là một số doanh nghiệp đầu tư nước ngoàI trả lương cao nhưng giao định mức
lao đông cũng không thấp hơn tiền lương mà họ phảI trả. Nó làm cho người lao động phải
phụ thuộc vào doanh nghiệp vì vấn đề việc làm mà họ phải cam chịu, chứ không có cảm giác
thích thú khi làm việc. Do đó tiền lương trong doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài chỉ một
phần nào đó khuyến khích được lao động làm việc tốt, còn một phần nào đó chỉ làm việc
theo trách nhiệm chứ hoàn toàn tiền lườn chưa tạo được động lực cho họ.
4.Tác động của tiền lương trong khu vực kinh tế tư nhân.
Hiện nay có nhiều doanh nghiệp ký hợp đông không đúng làm ảnh hưởng đến quyền
lợi của người lao động. Phần lớn các lao động làm công việc có tính chất thường xuyên
nhưng chỉ dược ký hợp dồng theo thời vụ. Có một số lượng lớn các bản hợp đồng lao động
thường ghi thiếu, ghi sai hoặc ghi chung chung thời gian làm việc, nghỉ ngơi, bảo hiểm xã
hội… do mẫu ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ quyền lợi của ngưòi lao động.
Việc trả lương, nâng lương mặc dù có những thoả thuận nhưng thực tế vẫn còn phụ
thuộc vào chủ doanh nghiệp. Hơn 15% doanh nghiệp khi kiểm tra bảng lương đều không có
ký nhận của người lao động. Có nhiều lao động sử dụng lao động nặng nhọc, độc hại nhưng
không có phụ cấp. Bởi vậy sẽ rất khó khăn cho các ngành chức năng khi giải quyết tranh
chấp và những tranh chấp khác.
Một số doanh nghiệp thực hiện công tác định mức không khoa học do vậy mà định
mức không hợp lý, phần lớn là cao hơn thấp. Do vậy mà đơn giá sản phẩm còn thấp dẫn đến
tiền lương của ngưòi lao động thấp không trả đúng phần sức lao động đã hao phí mà người