PHƯƠNG THỨC VÀ LỘ TRÌNH TÁI CƠ CẤU TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM - Pdf 34

PHƯƠNG THỨC VÀ LỘ TRÌNH TÁI CƠ CẤU TẬP ĐOÀN
CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
TS. Trần Xuân Hòa
Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Vinacomin
PGS.TS. Nguyễn Cảnh Nam
Vinacomin

I. HIỆN TRẠNG TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
1. Đặc điểm của ngành than - khoáng sản
(1) Các mỏ khoáng sản do tạo hóa sinh ra tại những địa điểm nhất
định, đa phần ở vùng miền núi hoặc vùng sâu, vùng xa.
(2) Tài nguyên khoáng sản là hữu hạn và không tái tạo sẽ cạn kiệt
dần cùng quá trình khai thác, hơn nữa tài nguyên khoáng sản nước ta
tuy phong phú về chủng loại nhưng đa phần các loại khoáng sản có trữ
lượng rất hạn chế, trong khi khoáng sản có vai trò là nguyên, nhiên liệu
của sản xuất và đời sống, là “bánh mì của công nghiệp” tạo ra hiệu quả
kinh tế liên ngành.
(3) Các mỏ khoáng sản khác nhau, ở các vị trí khác nhau có chất
lượng khoáng sản và điều kiện khai thác thuận lợi, khó khăn khác nhau;
ngay trong một mỏ điều kiện khai thác cũng luôn luôn thay đổi theo
không gian và thời gian làm cho hiệu quả kinh doanh cũng khác nhau
và luôn thay đổi theo.
(4) Khai thác mỏ là loại công việc vất vả, nặng nhọc, nguy hiểm và
gây nhiều tác động xấu tới môi trường.
(5) Ngành than - khoáng sản của Tập đoàn Vinacomin có đặc điểm
là các mỏ than chủ yếu tập trung ở Quảng Ninh nằm trong dây chuyền
gồm các khâu: khai thác - vận tải - sàng tuyển - bốc rót tiêu thụ ở cảng
biển - cơ khí chế tạo và sửa chữa và các dịch vụ phụ trợ được tổ chức
449



450


- Tổng lợi nhuận trước thuế tăng từ 40 tỷ đồng năm 1995 lên 8.632
tỷ đồng năm 2011 và tương ứng nộp ngân sách nhà nước tăng từ 102 tỷ
đồng lên 16.605 tỷ đồng.
- Vốn chủ sở hữu tăng từ 751 tỷ đồng năm 1995 lên 31.040 tỷ đồng năm
2011; tương ứng tổng tài sản tăng từ 2.354 tỷ đồng lên 103.423 tỷ đồng.
Từ thực tiễn của Tập đoàn có thể khẳng định rằng chủ trương của
Đảng và Nhà nước về việc thành lập tổng công ty 91 trước đây và tập
đoàn kinh tế hiện nay là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với xu thế của
thời đại.
3. Hiện trạng các nguồn lực của Tập đoàn
3.1. Hiện trạng tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên, trữ lượng các loại khoáng sản chính Nhà nước giao
cho Tập đoàn gồm than, sắt, bô xít, đồng, chì, kẽm; trong đó:
A. Đối với khoáng sản than:
• Mức độ thăm dò còn rất thấp, trong khi việc cấp phép thăm dò,
khai thác cho Vinacomin còn rất nhiều vướng mắc.
• Nguyên nhân chính là do mô hình tổ chức của Tập đoàn có một
số yếu tố không phù hợp với quy định mới của Luật Khoáng sản năm
2010 và một số quy định của pháp luật về khoáng sản còn có sự bất cập,
không phù hợp với thực tế.
B. Đối với các khoáng sản khác:
- Trừ khoáng sản đồng (có trữ lượng chiếm 35,2% tổng trữ lượng
+ tài nguyên) còn lại các khoáng sản khác có mức độ thăm dò tương
đối cao; tuy nhiên việc cấp phép thăm dò, cấp phép khai thác còn gặp
nhiều vướng mắc nên làm chậm tiến độ thực hiện công tác thăm dò và
xây dựng mỏ so với yêu cầu.
3.2. Hiện trạng vốn và tài sản

bộ chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu, tư vấn, thiết kế và trong các
ngành, nghề kinh doanh mới.

Thiếu đội ngũ giảng viên chất lượng cao.
(b) Đội ngũ công nhân kỹ thuật còn có những tồn tại, bất cập sau:
- Thiếu đội ngũ công nhân lành nghề chất lượng cao, nhất là trong
các ngành luyện kim, cơ khí, chế biến khoáng sản.
- Nhìn chung, có tác phong công nghiệp, ý thức tự bảo vệ mình và
đồng nghiệp còn hạn chế.
- Số lượng công nhân than hầm lò có sự biến động mạnh và thiếu
hụt lớn.
452


- Nguyên nhân chính của hiện trạng nguồn nhân lực nêu trên là do
chính sách lao động còn có nhiều bất hợp lý.
4. Hiện trạng cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý điều hành của
Tập đoàn
4.1. Hiện trạng cơ cấu tổ chức và thực hiện chức năng CSH
A. Cơ cấu thực hiện chức năng CSH nhà nước tại Vinacomin
Trong thời gian qua Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ,
ngành về cơ bản đã thực hiện đúng và có hiệu quả vai trò của đại diện
CSH nhà nước đối với Tập đoàn theo quy định. Tuy nhiên, vẫn còn một
số bất cập, vướng mắc sau đây:
(a) Việc thẩm định của một số Bộ về một số vấn đề trong hoạt động
kinh doanh của Tập đoàn đã có báo cáo trình, nhất là trong lĩnh vực
khoáng sản còn chậm, thậm chí kéo dài, dẫn tới làm mất cơ hội hoặc
giảm hiệu quả kinh doanh.
(b) Hiện tại đối với phần vốn của Nhà nước tại Tập đoàn do Bộ
Tài chính quản lý, giám sát; nhưng phần tài nguyên khoáng sản có tầm

A. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, điều hành của Vinacomin gồm:
- Hội đồng thành viên;
- Tổng giám đốc và bộ máy quản lý, điều hành công ty mẹ;
Cơ cấu tổ chức bộ máy này hiện còn có những tồn tại sau:
• Tổ chức bộ máy quản lý, điều hành cồng kềnh, nhiều ban, thiếu
sự kết hợp hợp lý giữa tập trung hóa và chuyên môn hóa.
• Số lượng cán bộ quá đông nhưng chất lượng còn hạn chế.
• Hậu quả là sự phối hợp giữa các khối và giữa các ban, bộ phận
còn có những hạn chế, bất cập, chưa chặt chẽ, hài hòa, thậm chí còn
hiện tượng né tránh, đùn đẩy, dây dưa kéo dài; chất lượng công tác tham
mưu, tư vấn, thẩm định, soạn thảo văn bản chưa cao, còn những tồn tại,
sai sót, chưa kịp thời.
B. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, điều hành của các công ty con
Tại các công ty con của Tập đoàn tuỳ theo loại hình pháp lý của
doanh nghiệp mà có cơ cấu tổ chức quản lý phù hợp với từng loại hình
theo quy định. Tuy nhiên, cơ cấu quản lý của một số công ty còn cồng
kềnh, nhiều phòng, ban, bộ phận và tầng nấc quản lý, bố trí quá nhiều
454


cán bộ cấp phó; số lao động gián tiếp và phục vụ, phụ trợ quá nhiều;
một số đơn vị bố trí cán bộ chưa đúng ngành, nghề theo yêu cầu.
4.3. Hiện trạng cơ cấu tổ chức kinh doanh của Vinacomin
(a) Cơ cấu tổ chức công ty mẹ gồm có 22 đơn vị trực thuộc.
(b) Nói chung, cơ cấu tổ chức của Vinacomin qua nhiều lần sắp
xếp, hoàn thiện đến nay về cơ bản đã phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
của Công ty mẹ quy định trong Điều lệ, đảm bảo cho công ty mẹ thực
hiện được quyền chi phối, quản lý, chỉ huy, điều hành tập trung thống
nhất trong toàn Tập đoàn.
(c) Tuy nhiên, theo quy định của Luật Khoáng sản năm 2010 và

quan hệ chủ mỏ - nhà thầu.
(b)Trong sản xuất kinh doanh than, để giảm đầu mối cho Công ty
mẹ Vinacomin đã thành lập: (1) Các công ty con sản xuất than là các mỏ
than lớn; (2) Các công ty sản xuất than theo vùng để quản lý các mỏ nhỏ
(Công ty Than Uông Bí, Công ty than Hòn Gai, Công ty than Hạ Long
và hai tổng công ty nêu dưới đây); (3) Các công ty cổ phần kinh doanh
than theo vùng (Miền Bắc, Miền Trung, Miền Nam).
(c)Có ba tổng công ty tổ chức theo ngành gồm Tổng công ty Hoá
chất mỏ, Tổng công ty Khoáng sản, Tổng công ty Điện đều có các đơn vị
thành viên phân bố trên cả nước hoặc trên nhiều địa bàn, trong đó công
ty mẹ, Tổng công ty là công ty TNHH một thành viên do Vinacomin
nắm 100% vốn điều lệ.
(d)Hai tổng công ty tổ chức theo vùng kết hợp với ngành là Tổng
công ty Đông Bắc và Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc đều có
nhiều đơn vị thành viên thuộc một số ngành, nghề khác nhau nằm trên
nhiều địa bàn, trong đó chủ yếu là các đơn vị sản xuất than vừa và nhỏ;
công ty mẹ Tổng công ty là công ty TNHH 1TV do Vinacomin nắm
100% vốn điều lệ.
2. Tuy nhiên, mô hình tổ chức các công ty con vẫn còn một số bất
cập sau:
- Còn một số ngành, nghề có nhiều đầu mối trực thuộc Vinacomin
như cơ khí, thương mại, địa chất, dịch vụ du lịch, đơn vị sự nghiệp v.v...
Phần lớn các đơn vị trong các lĩnh vực này có quy mô nhỏ, nên đầu tư
manh mún, năng lực sản xuất nhỏ, không tạo được sản phẩm có tính cạnh
456


tranh cao, chưa thực hiện tốt chức năng định hướng phát triển như phân
công sản phẩm, liên kết sản xuất và vươn ra ngoài Tập đoàn còn ít.
- Khối sản xuất than đã có chín công ty được cổ phần hóa nhưng



2. Mô hình tổ chức Công ty mẹ - công ty con hiện tại chỉ phù hợp
với quy định của một số luật cũ có liên quan như Luật Khoáng sản
(1996, 2005), Luật Các tổ chức tín dụng (1997, 2004), Luật DNNN
(2003, có hiệu lực đến ngày 1/7/2010) nhưng không phù hợp với quy
định của các Luật mới ban hành: Luật Khoáng sản (2010, có hiệu lực
từ ngày 1/7/2011), Luật Các tổ chức tín dụng (2010, có hiệu lực từ
ngày 1/1/2011), Luật Doanh nghiệp (năm 2005, có hiệu lực từ ngày
1/7/2006). Cụ thể là:
- Hiện nay theo quy định của Luật Khoáng sản mới thì chỉ cấp phép
khai thác cho các công ty con trực tiếp khai thác than mà không cấp
phép khai thác cho Công ty mẹ vì không trực tiếp thực hiện việc khai
thác than. Trong khi Điều lệ Vinacomin quy định Nhà nước giao Công
ty mẹ là chủ thể quản lý tài nguyên, trữ lượng than, bôxít và các khoáng
sản khác để tổ chức thăm dò, khai thác theo quy định pháp luật và Điều
lệ của Vinacomin và “... phải có trách nhiệm đảm bảo cung ứng than
cho nền kinh tế quốc dân”.
- Quy định của Luật Các tổ chức tín dụng mới (2010) cũng như
Luật Doanh nghiệp (2005) về hoạt động tài chính tín dụng và quan hệ
tài chính tín dụng giữa công ty mẹ và công ty con thì Công ty mẹ không
được chuyển vốn cho các công ty con TNHH một thành viên, không
được vay vốn hộ cho các công ty con v.v... Vì vậy, đến nay xuất hiện
tình trạng thừa vốn tại công ty mẹ vì vốn nhà nước giao và vốn tích lũy
chủ yếu do công ty mẹ nắm, trong khi đó thiếu vốn đầu tư cho các dự án
phát triển các mỏ than mới do các công ty con cổ phần hoặc các công ty
con TNHH một thành viên làm chủ đầu tư nhưng không dễ tăng vốn lên
được. Hoặc công ty mẹ có khả năng huy động vốn trên thị trường thuận
lợi hơn và với mức lãi suất thấp hơn, trong khi các công ty con có dự án
đầu tư song khó huy động vốn và với lãi suất cao hơn nhưng công ty mẹ

(i) “Truyền thống kỷ luật và đồng tâm” của giai cấp công nhân mỏ;
(ii) Sự lãnh đạo thống nhất của các tổ chức Đảng, Công đoàn các
cấp trong Tập đoàn;
(iii) Đặc biệt thời gian qua xuất khẩu than tăng cao cả về giá và
lượng nên lợi nhuận tăng cao, nhờ đó các lợi ích của Nhà nước, của
Công ty mẹ, công ty con, của cổ đông, của người lao động đều được đảm
bảo ở mức chấp nhận được. Tuy nhiên, đến nay giai đoạn “thiên thời, địa
lợi” đã hết, xuất khẩu than giảm cả về lượng và giá, nhu cầu than cho sản
459


xuất điện tăng cao, trong khi giá bán còn thấp hơn giá thành, vốn đầu tư
cho cải tạo các mỏ cũ và xây dựng các mỏ mới tăng đột biến, điều kiện
khai thác khó khăn hơn làm cho chi phí tăng cao v.v... nên hiệu quả kinh
doanh sẽ giảm mạnh, khi đó nhất định không thể có điều kiện tài chính
“bao sân” như vừa qua, các lợi ích của các bên liên quan trong nội bộ
Tập đoàn sẽ không được đảm bảo như mong muốn và sẽ phát sinh xung
đột, mâu thuẫn nếu vẫn giữ nguyên mô hình tổ chức của toàn Tập đoàn,
tức tổ hợp Công ty mẹ - công ty con như hiện nay.
4.6. Hiện trạng cơ chế quản lý điều hành nội bộ Tập đoàn
Cơ chế quản lý, điều hành nội bộ Tập đoàn gồm các hình thức,
công cụ sau:


Chiến lược chung của toàn Tập đoàn;



Kế hoạch phối hợp kinh doanh;


- Việc xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch ở nhiều
công ty thành viên còn những bất cập so với KHPHKD và quy định về
kế hoạch hóa của Tập đoàn.
- Nhiều đơn vị chưa chấp hành nghiêm cơ chế điều hành thị trường
nội bộ.
- Ở một số công ty con hai cấp chưa có cơ chế điều hành, phân cấp
rõ ràng cho các công ty thành viên nên gây chồng chéo, hiệu lực quản
lý kém.
- Cơ chế vận hành thị trường nội bộ, nhất là cơ chế khoán quản chi
phí đến nay không còn phù hợp với tình hình mới.
- Các quỹ tập trung của Tập đoàn trong quá trình vận hành, sử dụng
chưa thường xuyên tổng kết, đánh giá để bổ sung, hoàn thiện kịp thời.
5. Hiện trạng sản xuất kinh doanh của Tập đoàn
a. Cơ cấu kinh doanh vẫn duy trì theo định hướng mô hình kinh
doanh đa ngành trên nền than - khoáng sản, năm 2011 doanh thu các
ngành sản xuất chính chiếm 85% và tỉ trọng của than vẫn đóng vai trò
chủ chốt, chiếm 72%.
b. Doanh thu khoáng sản, điện, vật liệu nổ công nghiệp có xu thế
ngày càng tăng cao.
c. Lợi nhuận của toàn Tập đoàn có xu thế tăng song chủ yếu nhờ
vào xuất khẩu than; lợi nhuận của ngành vật liệu nổ công nghiệp vẫn
giữ được ổn định trong 5 năm qua; ngành khoáng sản, điện đang trong
giai đoạn đầu tư và thời kỳ đầu của sản xuất nên tỷ suất lợi nhuận thấp;
ngành cơ khí vẫn là ngành khó khăn, hiệu quả thấp.
Những khó khăn, bất cập:
(a) Mô hình kinh doanh: Mô hình kinh doanh đa ngành trên nền
than - khoáng sản do nhiều nguyên nhân nên đến nay đã vượt ra ngoài
nền than - khoáng sản, tức là vươn ra ngoài ngành như tài chính, ngân
hàng, bảo hiểm, bất động sản v.v... với tổng số vốn đầu tư bằng khoảng
5,4% tổng vốn chủ sở hữu của toàn Tập đoàn.

còn hạn hẹp.
(g) Sản xuất kinh doanh, dịch vụ khác:
Các hoạt động kinh doanh, dịch vụ khác cho đến nay chủ yếu phục
vụ các hoạt động kinh doanh chính của Tập đoàn, ngoại trừ những lĩnh
vực ngoài ngành như đã nêu trên.
462


6. Hiện trạng các mặt công tác chính của Tập đoàn
Bao gồm công tác thăm dò khoáng sản, huy động vốn, đầu tư xây
dựng cơ bản, phát triển nguồn nhân lực và văn hóa doanh nghiệp, an
toàn lao động, bảo vệ môi trường, tư vấn, hoạt động khoa học công
nghệ, quản trị rủi ro, thực hiện trách nhiệm xã hội và mối quan hệ với
địa phương của Tập đoàn. Các mặt công tác này tuy đã đạt được những
thành tựu nhất định song vẫn còn nhiều tồn tại, yếu kém, chưa theo kịp
yêu cầu.
7. Hiện trạng hệ thống các tổ chức chính trị, chính trị xã hội
trong Tập đoàn
Hệ thống các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội trong Tập đoàn
gồm các tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên tuy đã được thiết
lập đầy đủ nhưng chưa được tổ chức thành một thể thống nhất, đồng
bộ. Tổ chức Đảng và Đoàn Thanh niên chủ yếu đang tồn tại theo hai hệ
thống: hệ thống các đơn vị trong công ty mẹ Vinacomin và hệ thống các
công ty con sản xuất than hạch toán độc lập ở Quảng Ninh; chỉ có tổ
chức Công đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam được tổ chức thống nhất
trong toàn Tập đoàn.
II. ĐỔI MỚI, TÁI CƠ CẤU TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP
THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2012-2015,
TẦM NHÌN ĐẾN 2020
- Căn cứ vào định hướng tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước giai

nguồn nội lực trong Tập đoàn và mọi nguồn lực trong trong nước kết
hợp tăng cường hợp tác với các đối tác nước ngoài bằng các hình thức
thích hợp.
(2) Mục tiêu
a. Tiếp tục là nhà sản xuất và cung ứng than chính của nền kinh tế.
b. Trở thành nhà sản xuất và cung ứng các sản phẩm từ các khoáng
sản.
c. Trở thành một trong các nhà sản xuất và cung ứng điện lớn
trong nước.
d. Trở thành nhà sản xuất và cung ứng chính nguyên liệu sản xuất
vật liệu nổ công nghiệp và vật liệu nổ công nghiệp.
464


e. Trở thành nhà chế tạo máy mỏ, nhất là phục vụ cơ giới hóa khai
thác than hầm lò và nhà tổng thầu có uy tín.
f. Trở thành nơi đào tạo cung cấp công nhân lành nghề chất lượng
cao, cung cấp dịch vụ y tế chữa bệnh nghề nghiệp bụi phổi, phục hồi
chức năng; cung cấp các dịch vụ thương mại, du lịch, địa chất, khoa
học công nghệ, tư vấn đầu tư, vận tải, hàng hải v.v. cho trong nước và
khu vực.
g. Phấn đấu sau mỗi 5 năm tổng doanh thu toàn Tập đoàn tăng ít
nhất hai lần.
Mục tiêu chung là:
“Xây dựng và phát triển Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản
Việt Nam Giàu mạnh - Thân thiện - Hài hòa”.
(3) Yêu cầu
Việc thực hiện đổi mới, tái cơ cấu Tập đoàn phải đáp ứng các yêu
cầu sau đây:
a. Có tính đến bối cảnh dài hạn với lộ trình, bước đi phù hợp và

khoáng sản có trữ lượng lớn, chất lượng tốt, tiến tới hình thành một số
ngành công nghiệp quan trọng như đồng, sắt thép, alumin - nhôm, titan,
đất hiếm v.v...
- Đối với vật liệu nổ công nghiệp: Tập trung sản xuất nguyên liệu
thay thế hàng nhập khẩu và phát triển dịch vụ nổ mìn đáp ứng nhu cầu
của nền kinh tế.
- Đối với cơ khí: Tập trung chế tạo vật tư, thiết bị cho phát triển
cơ giới hóa khai thác mỏ, nhất là khai thác than hầm lò.
Trên cơ sở đó các định hướng chiến lược cụ thể như sau:
A. Về chiến lược sản phẩm:
- Ưu tiên phát triển các sản phẩm chính: than, nhiên liệu từ than và
khí than, khoáng sản và luyện kim, điện, vật liệu nổ công nghiệp và hóa
chất trên nền than - khoáng sản, cơ khí và công nghiệp hỗ trợ (phục vụ
phát triển công nghiệp mỏ, điện, luyện kim, hóa chất), sản phẩm tái chế
từ chất thải (tro xỉ nhà máy điện than, chất thải rắn từ các nhà máy sàng
tuyển khoáng sản, bùn đỏ từ chế biến bô xít v.v...).
- Thực hiện chế biến sâu than, khoáng sản theo lộ trình hợp lý để
tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, sạch hơn và thân thiện với
môi trường.
466


- Đẩy mạnh chế tạo cơ khí phục vụ cơ giới hóa khai thác mỏ.
- Tích cực tham gia chuỗi giá trị sản phẩm toàn cầu gắn liền với
khai thác tiểm năng, thế mạnh, năng lực sản xuất sẵn có và phục vụ nhu
cầu phát triển kinh doanh của Tập đoàn.
B. Về chiến lược thị trường:
- Đối với than tập trung đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước
kết hợp với xuất, nhập khẩu một cách hợp lý, đảm bảo hiệu quả kinh
tế cao.

ứng cao nhất nhu cầu than của đất nước, nâng cao giá trị gia tăng và
hiệu quả, giảm tổn thất tài nguyên, đảm bảo an toàn lao động và bảo vệ
môi trường.
- Dự kiến sản lượng (106 tấn): 2015: 55; 2020: 60; 2025: 65; 2030:
65-70.
3) Định hướng và giải pháp:
3.1) Đẩy mạnh thăm dò nâng cấp và gia tăng trữ lượng than ở bể
than Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng than nội địa.
3.2) Bể than Đông Bắc: Gia tăng nhanh hợp lý sản lượng than toàn
vùng để đáp ứng cao nhất nhu cầu than trong nước, trước hết cho giai
đoạn đến 2020.
3.3) Xây dựng chiến lược nhập khẩu than và đầu tư khai thác than
ở nước ngoài.
2.3.2. Phát triển khoáng sản - luyện kim
1) Mục tiêu:
- Phát triển ngành công nghiệp khai thác khoáng sản - luyện kim
một cách hiện đại, thân thiện với môi trường, hài hòa với địa phương,
có hiệu quả cao.
- Phấn đấu trở thành nhà sản xuất, cung ứng giữ vai trò quan trọng
trong việc đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế về các nguyên liệu khoáng
và sản phẩm kim loại, nhất là các kim loại màu.
2) Định hướng và giải pháp:
a. Giai đoạn đến 2015: Đẩy mạnh thực hiện các dự án: bô-xít
nhôm Lâm đồng và alumin Nhân Cơ- Đăk Nông; sắt Thạch Khê, crômit
Cổ Định, kẽm, đồng, sắt, đất hiếm ở Việt Bắc và Tây Bắc.
468


b. Giai đoạn sau 2015: Phát triển đồng bộ một cách phù hợp với
nhu cầu thị trường các ngành công nghiệp nhôm, công nghiệp titan,

b) Định hướng chung:
- Hiện đại hóa cơ khí sửa chữa phục vụ trong Tập đoàn;
- Đẩy mạnh cơ khí chế tạo theo hướng tăng cường chuyên môn hóa
kết hợp với hợp tác hóa, trước hết ưu tiên chế tạo máy mỏ, thiết bị điện
mỏ phục vụ chương trình cơ giới hóa, tự động hóa ở các mỏ hầm lò và
băng tải hóa các hệ thống vận tải đất đá, than, khoáng sản, xi măng, vật
liệu xây dựng.
2.4. Tái cơ cấu tổ chức kinh doanh của Tập đoàn Vinacomin
giai đoạn 2012-2015, tầm nhìn đến 2020 và sau 2020
2.4.1. Nguyên tắc chung
- Sắp xếp tinh gọn mô hình tổ chức sản xuất phù hợp theo hướng
xây dựng, phát triển Tổ hợp công ty mẹ - công ty con Tập đoàn Công
ngiệp Than - Khoáng sản Việt Nam trở thành Tổ hợp các công ty công
nghiệp nặng trên nền than - khoáng sản có tầm cỡ trong khu vực, trong
đó tập trung cho nhiệm vụ số 1 là đảm bảo cung cấp đủ than đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế theo Quy hoạch phát triển ngành than đã được
phê duyệt.
- Xây dựng công ty mẹ - Vinacomin trở thành một doanh nghiệp
vừa sản xuất - chế biến - tiêu thụ than đầu nguồn, vừa thống nhất quản
lý thị trường để điều hành kế hoạch phối hợp kinh doanh góp phần đảm
bảo an ninh năng lượng quốc gia, vừa là nhà đầu tư tài chính vào các
công ty con để nắm giữ tỷ lệ vốn điều lệ ở mức cần thiết.
- Tập trung đầu tư phát triển các ngành sản xuất chính gồm than,
khoáng sản, điện, Vật liệu nổ công nghiệp, cơ khí mỏ; Giảm đầu tư
vào các ngành dịch vụ, thương mại; Thoái hết vốn từ các lĩnh vực ngân
hàng, bảo hiểm, tài chính, bất động sản (xong trước 2015).
- Chỉ góp vốn vào công ty liên kết trong lĩnh vực điện lực (theo chỉ
đạo của Chính phủ), các công ty liên kết góp vốn bằng thương hiệu, các
công ty liên kết tự nguyện làm công ty con của Vinacomin phục vụ cho
hoạt động SXKD của Tập đoàn.

thì xử lý như sau: Bán toàn bộ phần vốn góp của Công ty than Hòn Gai
và Uông bí tại các công ty: CP dịch vụ Than Hòn Gai; Cổ phần sản xuất
và thương mại Than Uông Bí; Cổ phần Hạ Long. Đối với Công ty Cổ
471


phần Cơ khí ô tô Uông Bí chuyển thành công ty liên kết với Vinacomin,
trong đó Vinacomin nắm 36% vốn điều lệ.
c) Về việc mua mỏ than ở nước ngoài:
Nghiên cứu để từng bước đầu tư ra nước ngoài theo hình thức góp
vốn hợp tác đầu tư hoặc mua mỏ để khai thác than đưa về phục vụ các
ngành kinh tế trong nước.
d) Về thành lập công ty sản xuất than mới:
Thành lập Công ty cổ phần (hoặc liên doanh) với Hàn Quốc để
nghiên cứu khai thác than tại mỏ Đông Tràng Bạch.
2) Đối với các đơn vị sàng tuyển, chế biến, kinh doanh và vận
chuyển than
a) Về sàng, tuyển than và quản lý than đầu nguồn, quản lý thị trường
than: Vinacomin tiếp tục nắm các nhà máy sàng tuyển than; nắm toàn bộ
tiêu thụ than đầu nguồn, quản lý thị trường tiêu thụ than, theo đó:
- Tách toàn bộ khâu sàng tuyển khỏi Công ty CP than Vàng Danh
để thành lập công ty sàng tuyển than chung cho các mỏ Vàng Danh,
Nam Mẫu, Bảo Đài.
- Đối với khu vực Hòn Gai: Xây dựng N/m sàng tuyển tập trung
phục vụ sàng tuyển than cho Hà Lầm công suất giai đoạn I: 2,5 triệu
tấn/năm; Lùi tiến độ việc di chuyển N/m tuyển Nam Cầu Trắng đến hết
2018, sau đó di chuyển về N/m tuyển than Hòn Gai tại địa điểm mới phục
vụ sàng tuyển than các mỏ trong vùng; Duy trì cảng Nam Cầu Trắng.
- Đối với dự án nhà máy Tuyển than Khe Chàm khi hoàn thành sẽ
chuyển thành Chi nhánh Tập đoàn - Công ty tuyển than Khe Chàm.

thoái hết vốn tại các công ty liên kết, sắp xếp giảm các đầu mối nhất là
trong các lĩnh vực ngoài sản xuất chính; thực hiện cổ phần hóa Công
ty TNHH MTV Kim loại màu Thái Nguyên; chuyển Công ty TNHH
MTV Đá quý Việt - Nhật thành chi nhánh trực thuộc Công ty mẹ - Tổng
công ty Khoáng sản (và cổ phần hóa cùng với công ty mẹ - Tổng công
ty khoáng sản).
- Thành lập Công ty TNHH MTV Nhôm Nhân Cơ.
- Giữ nguyên Công ty TNHH MTV nhôm Lâm Đồng.
- Công ty cổ phần Cromit Cổ Định (Thanh Hóa) sẽ liên doanh với
nước ngoài.
473


Trích đoạn KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN KHUNG PHÁP LÝ VÀ CHíNH SÁCH ĐỐI VỚI TÀI NGUyÊN KHOÁNG SẢN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status