HỘI NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN - GÓC NHÌN TỪ NGÀNH
DỊCH VỤ LOGISTICS THÁI LAN VÀ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM
PHÁT TRIỂN LOGISTICS TẠI VIỆT NAM
TS. Phạm HùngTiến
Trường Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
Tóm tắt
Năm 2016 các nhà lãnh đạo ASEAN nhất trí xây dựng cộng đồng kinh tế ASEAN
vào năm 2015 (AEC) dựa trên kế hoạch kết nối 12 lĩnh vực ưu tiên mà ASEAN đã có lợi
thế cạnh tranh, bao gồm nông nghiệp, gỗ và sản phẩm gỗ, dệt may, điện tử, cao-su, ô-tô,
giày dép, du lịch, vận tải hàng không, Logistics v.v. Phát triển dịch vụ Logistics luôn là
mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Bài viết
này phân tích vai tròcủa ngành dịch vụ Logistics tại Thái Lan trong quá trình xây dựng
AEC 2015 và vận dụng kinh nghiệm phát triển ngành này tại Việt Nam.
Từ khóa: ASEAN, AEC, logistics, Thái Lan, Việt Nam
Abstract
In 2006, ASEAN Economic Ministers decided Logistics Sector as the twelfth
Priority Sector in ASEANfor accelerated economic integration. The Roadmap for the
Integration of Logistics Services contains specific measures which are aiming to (1)
Create an ASEAN single market by 2015 by strengthening ASEAN economic integration
through liberalisation and facilitation measures in the area of logistics servicesand (2)
Support the establishment and enhance the competitiveness of anASEAN production
base. This paper analyses the role and expansion of logistics in Thailand in the process of
AEC’s establishment. Lessons for Vietnam are also drawn to develop this industry.
Key words: ASEAN, AEC, logistics, Thailand, Vietnam
1. Xu hướng hội nhập hoạt động Logistics khu vực ASEAN
Khái niệm Logistics1 bao gồm toàn bộ các hoạt động, thông qua đó mà việc giao
nhận hàng hóa được diễn ra theo thời gian và địa điểm. Quản trị Logistics là việc hoạch
định, quản lý, thực hịên hoặc kiểm soát quá trình cung cấp sản phẩm có liên quan nhằm
thoả mãn về số lượng, chủng loại, và các yếu tố chi phối sản phẩm. Thông qua sự phối
hợp của những hoạt động trên mà hình thành nên dòng sản phẩm, với mục tiêu kết nối
một cách hiệu quả nhất giữa điểm cung ứng và điểm tiếp nhận.
Việc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động giao thông vận tải trong khu vực
ASEAN bao gồm:Tạo điều kiện thuận lợi cho hàng hóa, hành khách quá cảnh; Giao
thông vận tải đa phương thức; và các hoạt động vận tải liên quốc gia.Cụ thể như sau:
(1) Tạo điều kiện thuân lợi cho hàng hóa, hành khách quá cảnh
Cơ chế:
Hợp lý hóa, đơn giản hóa, hài hòa tài liệu, thủ tục, kiểm tra ở cấp quốc gia
và giữa các nước láng giềng.
Phối hợp và hợp tác giữa các cơ quan chức năng và lĩnh vực kinh doanh.
Trên thực tế, khu vực ASEAN đã triển khai Hiệp định ASEAN về việc tạo điều kiện
thuận lợi cho hàng hoá quá cảnh (ký kết năm 1998 tại Hà Nội), bao gồm3:
Nghị định thư số 1: Thực hiên thiết kế các tuyến đường giao thông vận tải
và các trang thiết bị cần thiết cho vận tải quá cảnh (Giao thông vận tải thuận lợi)
- đã ký kết năm 2007.
Nghị định thư số 3: Các loại và số lượng của đường dành cho các phương
tiện đi lại - đã ký vào năm 1999.
Nghị định thư số 4: Các yêu cầu kỹ thuật của xe - đã ký kết năm 1999.
Nghị định thư số 5: Đề án ASEAN về bảo hiểm xe ô tô bắt buộc
(Bảo hiểm, Bộ Tài chính) - đã ký năm 2001.
Nghị định thư số 8: Các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch thực vật (Nông
nghiệp) - đã ký vào năm 2000.
Nghị định thư số 9: Hàng hóa nguy hiểm - đã ký vào năm 2002.
Bên cạnh đó,còn có 3 nghị định thư đáng chú ý nhất đó là nghị định thư số 2, 6 và 7:
-
Nghị định thư số 2: Thực hiện thiết kế các đồn biên phòng (Hải quan).
The World Bank 2014: Efficient Logistics A Key to Vietnam’s competitiveness
http://www.asean.org/communities/asean-economic-community/category/logistics-services
2
tranh của các nhà cung cấp dịch vụ Logistics ASEAN thông qua các dịch vụ thương mại
và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động Logistics; Tăng cường năng lực của các nhà
cung cấp dịch vụ Logistics ASEAN; và Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải
đa phương thức.
Kết luận của Hiệp định Giao thông vận tải ASEAN giúp hướng tới thực hiện đầy
đủ cáclộ trình dịch vụ Logistics đã được ký kết tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN
(AEM) lần thứ 39 họp tại Manila, Philippines vào ngày 24 tháng 8 năm 2007.
(1) Mục tiêu chính của lộ trình Logistics ASEAN
Tạo ra một thị trường chung ASEAN vào năm 2015 bằng cách tăng cường
hội nhập kinh tế ASEAN thông qua tự do hóa và thuận lợi hóa các biện pháp
trong lĩnh vực dịch vụ Logistics.
Hỗ trợ thành lập và nâng cao khả năng cạnh tranh của ASEAN thông qua
việc tạo ra một môi trường Logistics liên kết ASEAN.
(2) Các chính sách chủ chốt của lộ trình Logistics ASEAN
Khuyến khích hội nhập của hệ thống Logistics quốc gia trong ASEAN
(bằng cách tăng thông tin liên lạc ở cấp khu vực và xác định các hoạt động trong
3
lĩnh vực Logistics để hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho dòng lưu thông thương
mại giữa các nước thành viên ASEAN).
Khuyến khích tiến trình tự do hóa các dịch vụ Logistics (để làm cho các
dịch vụ Logistics có thể đáp ứng các cơ hội sẵn có khi hội nhập ASEAN và gia
tăng sức cạnh tranh tốt hơn).
Tạo điều thuận lợi cho thương mại, Logistics và đầu tư (để xác định các
phương tiện cần thiết, cải thiện cơ sở vật chất cho Logistics và các ưu tiên cho
đầu tư).
Xây dựng năng lực Logistics khu vực ASEAN (bằng cách khuyến khích
phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực này, và một môi trường thuận lợi để
phát triển ngành).
tải đa quốcgia.
Đồng thực hiện hiệp định khung ASEAN về tạo thuận lợi cho hàng hoá quá
cảnh và hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức, để thúc đẩy hiệu
4
quả vận chuyển hàng hóa từ điểm đầu tới điểm cuối, tạo thuận lợi cho vận
chuyển hàng hóa qua biên giới.
Cải thiện cơ sở hạ tầng và các dịch vụ mạng vận tải đường bộ để đạt được
liên kết nối tốt hơn, khả năng hoạt động tương tác với các cửa ngõ hàng hải và
vận tải hàng không ở mức quốc gia, khu vực và quốc tế.
Tăng cường các dịch vụ vận tải biển và vận chuyển trong nội khối ASEAN.
Thiết lập sự cho phép và môi trường chính sách để tăng sự tham gia của
khu vực tư nhân và cải thiện quan hệ đối tác công-tư trong việc phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông vận tải Logistics; cung cấp và hoạt động các thiết bị và dịch
vụ Logistics.
Mở rộng khả năng của các nhà cung cấp dịch vụ Logistics ASEAN:
Thông qua thực hành tốt nhất trong việc cung cấp các dịch vụ Logistics và
hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong lĩnh vực
này, bao gồm cả việc hình thành mạng lưới các DNVVN.
Thúc đẩy hợp tác khu vực để hỗ trợ các nước Campuchia - Lào - Myanmar
- Việt Nam, đặc biệt là các nước kém phát triển trong ASEAN.
Xây dựng và cập nhật cơ sở dữ liệu của ASEAN về các nhà cung cấp dịch
vụ Logistics nhằm tăng cường sự phát triển của các hoạt động trong mạng lưới.
Phát triển nguồn nhân lực:
Phát triển nâng cao kỹ năng và xây dựng năng lực thông qua liên kết đào
tạo chung và tổ chức hội thảo.
Khuyến khích sự phát triển của hệ thống chứng nhận kỹ năng quốc gia về
cung cấp dịch vụ Logistics.
Khuyến khích phát triển một chương trình đào tạochung của ASEAN về
Nhờ vào lợi thế vị trí địa lý chiến lược, Thái Lan đặt mục tiêu phát triểntrở thành
điểm trung chuyển Logistics trong khu vực. Triển vọng kế hoạch này ngày càng được
củng cố thêm bởi việc tăng cường thương mại biên mậu tại tiểu vùng Mekong lớn GMS4,
cũng như việc thực thi cộng đồng kinh tế ASEAN Economic Community (AEC) từ năm
2016. Ngành dịch vụ Logistics được hỗ trợ đáng kể từ kết quả gia tăng sản lượng nhanh
chóng của ngành công nghiệp, và kế hoạch xây dựng các tuyến giao thông hành lang
trong khu vực (xem Bảng 1). Bên cạnh đó, trong tương lai các doanh nghiệp nhỏ và vừa
cũng trở thành khách hàng mục tiêu của các nhà cung cấp dịch vụ bên thứ ba (3PL).
Bảng 1: Các trung tâm Logistics quan trọng nhất tại Thái Lan năm 2013
Trung tâm/Khu dịch vụ
Logistics
Suvarnabhumi Airport
Klong Toey-Port
Laem Chabang Port
Chieng Saen Port
Kantang Port
Ayuthaya Port and ICD
Chức năng
Sân bay quốc tế của trung tâm thủ đô Bangkok
Cảng chính của Bangkok với công suất 1,4 triệu
TEU5/năm
Cảng biển lớn nhất Thái Lan với công suất trung chuyển
6,5 triệu TEU phía Đông nam Bangkok
Cảng chính khu vực miền Bắc Thái Lan tại tỉnh Chiang
Rai phục vụ giao dịch thương mại với Trung Quốc
Cảng chính khu vực miền Nam Thái Lan tại tỉnh Trang
phục vụ giao dịch thương mại với Malaysia
Cảng trung chuyển và cảng Container nội địa đối với
hàng nông sản tại khu vực trung tâm
mức tăng trưởng xuất khẩu của đất nước. Giá trị kim ngạch trao đổi thương mại biên giới
năm 2013 đã đạt xấp xỉ 30 tỷ $, chiếm khoảng 70% toàn bộ giá trị kim ngạch ngoại
thương với bốn quốc gia láng giềng này. Nhằm tạo động lực thúc đẩy, phòng Thương
mại Thai Chamber of Commerce đưa ra khuyến nghị rằng, cho phép khu vực tư nhân
được xây dựng các điểm kiểm soát biên giới, bao gồm việc xây dựng các đường giao
thông biên giới và chuyển đổi 10 điểm kiểm soát tạm thời thành các điểm kiểm soát
thường xuyên. Hiện tại đang tồn tại 34 cửa khẩu thường xuyên.
Ví dụ điển hình cho việc bùng nổ giao dịch thương mại là Tập đoàn SAHA doanh nghiệp sản xuất và phân phối hàng tiêu dùng lớn nhất nước. Cho đến khi cộng
động kinh tế AEC được thực thi, Tập đoàn SAHA dự kiến sẽ đầu tư thêm khoảng 2 tỷ
Baht/B - tương đương 45 triệu Euro (1 Euro = 44,3 B) mở rộng công suất. Thông qua đó,
thị phần doanh thu trong khu vực trong 10 năm tới sẽ tăng ở mức hiện tại là 10% lên
50%. Myanmar được coi là một thị trường đầy tiềm năng, tại đây SAHA đã thành lập
chung một liên doanh thương mại với tên gọi là Tiger Distribution &Logistics.
Hiệp hội Vận chuyển và Giao nhận quốc tế Thai International Freight Forwarders
Association đánh giá doanh thu từ ngành dịch vụLogistics đã đạt xấp xỉ 30 tỷ $, trong đó
theo số liệu từ công ty nghiên cứu thị trường Solidiance thì giá trị gia tăng đạt khoảng 9
tỷ $. Các nhà cung cấp dịch vụ Logistics (LSP) là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, với chất lượng dịch vụ cao và hướng tới mục tiêu lợi nhuận nhóm (xem Bảng 2).
Các doanh nghiệp Logistics Thái Lan còn thua kém về công nghệ, tổ chức mạng
lưới Logistics, vốn và Know-how. Hệ quả là, trong 5 năm vừa qua các công ty đa quốc
gia LSP đã tăng mức doanh thu đạt 72%, và trong cùng thời kỳ này thì doanh thu của các
doanh nghiệp nội địa chỉ tăng tương ứng là 2,7%. Một xu hướng rõ nét hiện nay trong các
doanh nghiệp sản xuất là việc thuê ngoài các dịch vụ vận tải và đội xe từ các nhà cung
cấp dịch vụ Logistics 3 PL. Nhà cung cấp dịch vụ Logistics lớn nhất tại Thái Lan là công
ty DHL, tháng 6/2013 công ty này đã công bố kế hoạch tổng đầu tư là 140 triệu Euro đến
năm 2015 tại khu vực Đông Nam Á, trong đó riêng tại Thái Lan là 50 triệu Euro. Các
công ty lớn tiếp theo gồm Linfox, Schenker và công ty nội địa EGL - Eternity Grand
Logistics với 450 phương tiện vận tải. Năm 2011 công ty 3PL lớn nhất của Nhật Bản là
Hitachi Transport System đã mua lại EGL với mức giá 20 triệu $. Các nhà cung cấp dịch
vụ tiếp theo có sở hữu đội xe vận tải và phục vụ vận chuyển đối với thương mại biên giới
www.nclthailand.com
V-Serve Logistics
Bangkok, Samut Prakan
www.v-serveLogistics.com
Agility
Bangkok, Suvarnabhumi
Airport, Chonburi
www.agility.com
JWD InfoLogistics
Bangkok Chonburi
www.jwd-Logistics.com
Leo Global Logistics
Bangkok, Suvarnabhumi
Airport, Chonburi
www.leoglobalLogistics.com
Schenker (Thai)
Bangkok, Chonburi,
Songkla
www.maerskline.com
Fair & Easy
Makkasan, Ratchathevee
www.fairandeasy.co.th
Nguồn: Department of Export Promotion
Một bước phát triển lịch sử trong xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông chính là việc
xây dựng hệ thống đường sắt với đường ray kép. Theo quy hoạch của Bộ Giao thông
Thái Lan sẽ hình thành 6 tuyến đường có tổng chiều dài là 1.364 km, với mức đầu tư 900
tỷ B. Một phần trong tuyến đường quan trọng dài 118 km kết nối giữa thủ đô Bangkok
với cảng Laem Chabang Port, với mức đầu tư 4,1 tỷ B.đã được khánh thành trong năm
2012. Thông qua đó cảng Container nội địa Lat Krabang Container Depot tại Bangkok đã
8
tăng gấp đôi công suất trung chuyển đạt 800.000 Container/năm. Người Thái đã lên kế
hoạch mở rộng năng lực bốc xếp cảng Laem Chabang Port từ hiện nay 10,5 triệu TEU
lên 18,8 triệu TEU vào năm 2019, bên cạnh đó là 2,6 triệu tấn hàng hóa và 1,9 triệu xe
hơi sẽ vận chuyển thông qua cảng.Những dự án xây dựng lớn tiếp theo sẽ là giai đoạn mở
rộng lần 2 tại sân bay Suvarnabhumi và Don Mueang.
Trên bảng xếp hạng đánh giá năng lực Logistics Performance Index của Ngân
hàng Thế giới năm 20146, Thái Lan xếp hạng thứ 35 - giống như năm 2010 trong tổng số
máy móc thiết bị tới các khu vực an toàn hơn trước mưa lũ, thay đổi các nhà cung cấp
linh kiện, thay thế bằng hàng hóa nhập khẩu, tăng lượng hàng dự trữ, hay như phân bổ
phi tập trung các địa điểm nhà xưởng.
Với mục tiêu tăng cường phối hợp hoạt động kinh doanh với các quốc gia láng
giềng, Ủy ban quản lý bất động sản công nghiệp Thái Lan Industrial Estate Authority of
Tổng hợp từ LPI Report (2010-2014), World Bank
Chi phí Logisstics trong sản xuất, chi phí giải quyết đơn hàng, và chi phí dịch vụ khách hàng
9
6
7
Thailand (IEAT) đã mời gọi các nhà đầu tư cá nhân tại tổng số 13 Khu công nghiệp với
diện tích 4.800 ha., tổng số vốn đầu tư vào khoảng 300 tỷ B. Đa số các địa điểm triển
khai nằm tại vùng phía Bắc, Đông Bắc và phía Đông, ngoài ra cũng dự kiến xây dựng
một khu dịch vụ Logistics nằm ở biên giới với Lào tại thành phố Chiang Rai. Cho đến
thời điểm năm 2014, IEAT đã cấp 48 Giấy phép cho khu công nghiệp, trong đó 36 khu
công nghiệp đã hoạt động và 12 khu công nghiệp đang trong quá trình xây dựng; 11 khu
công nghiệp nằm dưới sự giám sát trực tiếp của IEAT. Nhóm các nhà đầu tư tư nhân tiềm
năng với năng lực tài chính và kinh nghiệm gồm công ty Nava Nakorn và Thai Industrial
Estate. Chính phủ Thái Lan đang khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư vào
các dịch vụ logistics tích hợp song song với quản lý có hiệu quả sản xuất và chuỗi cung
ứng sản phẩm. Trong đó đặc biệt khuyến khích đầu tư vào công nghệ thông tin để thực
hiện quản lý và kiểm soát các hoạt động logistics.
Tóm lại, sự quan tâm của Chính phủ được đánh giá là một trong những lợi thế của
Logistics Thái Lan. Những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính sách và môi trường
Logistics Thái Lan thời gian qua cho thấy sự linh hoạt và quan tâm rất nghiêm túc trong
việc đẩy mạnh Logistics của Chính phủ. Ngoài việc hỗ trợ bằng hệ thống chính sách,
Chính phủ Thái Lan còn chủ động đầu tư mạnh cho hạ tầng Logistics. Chính phủ cũng
tải(GTVT), cảng biển, xuất nhập khẩu, hải quan, thuế v.v. Trong đó đặc biệt các quy
hoạch về GTVT, cảng biển, vận tải biển, vận tải đường bộ, đường thủy, các cảng cạn,
khu công nghiệp Logistics đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Cụ thể là, để điều chỉnh các
hoạt động Logistics liên quan đến dịch vụ GTVT có Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Luật
Hàng không dân dụng Việt Nam, Luật Giao thông đường bộ, Luật Giao thông đường
thủy nội địa Việt Nam và Luật Đường sắt Việt Nam, và có các Nghị định có liên quan,
trong đó nổi bật là Nghị định về Vận tải đa phương thức só 87/NĐ-CP ngày 19/10/2009
và 89/2011/NĐ-CP ngày 10/10/2011. Ngoài ra, còn có các điều ước quốc tế về GTVT mà
Việt Nam ký kết hoặc tham gia, như các các cam kêt trong WTO, Hiệp định ASEAN,
Hiệp định GMS mở rộng, hiệp định song biên và đa biên với các nước láng giềng trong
lĩnh vực vận tải đa phương thưc, vận tải quá cảnh, và vận tải qua biên giới.
Trong phân loại các ngành/phân ngành dịch vụ của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO) không có khái niệm dịch vụ logistics. Các hoạt động logistics cụ thể thực tế nằm
trong các phân ngành dịch vụ hỗ trợ vận tải, thuộc ngành dịch vụ vận tải. Gia nhập WTO,
liên quan đến dịch vụ logistics, Việt Nam đã cam kết mở cửa các phân ngành như sau:
dịch vụ xếp dỡ container; dịch vụ thông quan; dịch vụ kho bãi; dịch vụ đại lý vận tải
hàng hóa; các dịch vụ thực hiện thay mặt cho chủ hàng (bao gồm các hoạt động kiểm tra
vận đơn; dịch vụ môi giới vận tải hàng hóa; giám định hàng hóa, dịch vụ lấy mẫu và xác
định trọng lượng; giám định hàng hóa; dịch vụ nhận hàng; dịch vụ chuẩn bị chứng từ vận
tải). Theo các cam kết gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết cho phía nước ngoài được
thiết lập các doanh nghiệp liên doanh, với tỷ lệ góp vốn 49-51% trong các dịch vụ vận
tải, giao nhận, kho bãi v.v. Từ ngày 7/1/2014, tỷ lệ góp vốn của phía nước ngoài đã tăng
lên 100%.
Trên thực tế các hành lang pháp lý nêu trên đã có tác động tích cực đến phát triển
thị trường dịch vụ logistics. Tuy nhiên, các cơ quan quản lý cần hoàn thiện và thực hiện
đầy đủ các luật và văn bản dưới luật của ngànhGTVT. Các Hiệp định và cam kết này cần
được phổ biến và hướng dẫn kip thời tới các doanh nghiệp GTVT và các nhà cung cấp
dịch vụ Logistics của Việt Nam và nước ngoài đang hoạt động ở nước ta. Nghị định về
nhau tốt hơn, liên thông hoạt động và liên kết các phương thức vận tải với các cửa ngõ
vận tải hàng không, hàng hải của quốc gia, khu vực và thế giới; tăng cường các dịch vụ
vận tải biển nội khối ASEAN.
Kết luận
Sự hình thành của AEC 2015 vừa là mục tiêu và động lực đối với việc hoàn thiện
sự tổ chức về dòng hàng hóa, bảo quản, vận chuyển và truyền tải thông tin liên quan
thông qua các hợp đồng cung cấp dịch vụ Logistics. Tại Thái Lan, các doanh nghiệp
nước ngoài cạnh tranh gay gắt với doanh nghiệp nội địa để trở thành nhà cung cấp dịch
vụ cho các nhà sản xuất quốc tế. Ngoài việc hỗ trợ bằng hệ thống chính sách, Chính phủ
Thái Lan còn chủ động đầu tư mạnh cho hạ tầng Logistics. Chính phủ cũng duy trì hệ
thống giám sát và đánh giá liên tục hiệu quả Logistics quốc gia. Tại Việt Nam lĩnh vực
Logistics sản xuất và phân phối mang lại nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt đối với các
hoạt động liên quan tới GTVT, ví dụ như, các tập đoàn sản xuất điện tử sản xuất và lắp
ráp điện thoại Smartphone tại đây để kịp thời và phân phối chính xác qua đường hàng
không tới các khách hàng ở thị trường Mỹ và Châu Âu. Việc thực hiện có kết quả Lộ
trình hội nhập logistics với những biện pháp cụ thể nêu trên sẽ giúp Việt Nam phát triển
ngành dịch vụ Logistics tiến kịp với các nước trong khu vực, góp phần xây dựng ASEAN
thành một trung tâm dịch vụ logistics toàn cầu, thúc đẩy việc hình thành thị trường chung
ASEAN vào năm 2015.
12
Tài liệu tham khảo:
1.
Asien Kurier 12/2013 vom 1. Dezember 2013
2.
Đoàn Thị Hồng Vân/Phạm Mỹ Lệ: Phát triển Logistics những vấn đề lý