TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TIẾNG ANH CHO GIẢNG DẠY ELTEACH TẠI VIỆT NAM - Pdf 34

NATIONAL GEOGRAPHIC LEARNING I CENGAGE LEARNING
ĐỀ ÁN NGOẠI NGỮ QUỐC GIA 2020

BÁO CÁO TỔNG KẾT

TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG
NĂNG LỰC TIẾNG ANH CHO GIẢNG DẠY ELTEACH

TẠI VIỆT NAM

THÁNG 12, 2014


LỜI CẢM ƠN

National Geographic Learning | Cengage Learning (NGL) xin gửi lời cảm ơn tới các đơn vị sau
đã hỗ trợ và đóng góp vào việc triển khai các chương trình ELTeach:

BAN QUẢN LÝ ĐỀ ÁN NGOẠI NGỮ QUỐC GIA 2020
Ông Nguyễn Vinh Hiển

Thứ trưởng, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam
Trưởng ban ban Quản lí Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020

Ông Phí Đức Nam

Phó Trưởng ban Quản lí Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020

Bà Vũ Thị Tú Anh

Phó trưởng ban Quản lí Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020

Phó trưởng ban Ngôn ngữ và Văn hóa nước ngoài

Cùng toàn thể cán bộ trung tâm SEAMEO đã tham gia thực hiện chương trình

ĐẠI HỌC VINH
Ông Đinh Xuân Khoa

Hiệu trưởng

Ông Ngô Đình Phương

Phó hiệu trưởng

Ông Đinh Phan Khôi

Trưởng phòng Hợp tác Quốc tế

Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

2


Ông Trần Bá Tiến

Trưởng khoa Ngoại ngữ

Cùng toàn thể cán bộ Đại học Vinh đã tham gia thực hiện chương trình

ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Bà Đặng Quỳnh Trâm, Khoa Ngoại ngữ, Đại học Thái Nguyên

PHẦN A:
1.

Đối tƣợng tham gia chƣơng trình bồi dƣỡng
1.1.
1.2
1.3
1.4
1.5
1.6

2.

Lựa chọn giáo viên tham gia chương trình
Lí lịch của giáo viên
Thời gian học tiếng Anh
Thời gian đào tạo làm giáo viên tiếng Anh
Nơi công tác
Kinh nghiệm giảng dạy

Trải nghiệm của giáo viên đối với chƣơng trình bồi dƣỡng
2.1.
2.2.
2.3

3.

GIÁO VIÊN VÀ NĂNG LỰC GIÁO VIÊN THAM GIA CHƢƠNG TRÌNH

Giáo viên dành thời gian cho toàn bộ chương trình học như thế nào?


PHẦN C:
KHÓA

CHƢƠNG TRÌNH BỒI DƢỠNG GIẢNG VIÊN CỐT CÁN VÀ THI CUỐI

PHẦN D:

ĐỀ XUẤT XÂY DỰNG KẾ HOẠCH

1 Lập bởi Giáo sư Donald Freeman và Ben Alcott, Khoa Giáo dục học, Trường Đại học Michigan.

Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

4


TÓM TẮT
Báo cáo này phân tích việc triển khai chương trình ELTeach để bồi dưỡng giáo viên về năng lực tiếng
Anh cho giảng dạy. Có 02 chương trình bồi dưỡng được triển khai cho 02 nhóm đối tượng khác nhau: i)
chương trình bồi dưỡng cho giáo viên tiếng Anh phổ thông, diễn ra từ tháng 6 tới tháng 9 năm 2014; và
ii) chương trình bồi dưỡng cho giảng viên cốt cán, tháng 8 tới tháng 9 năm 2014. Đây là các chương
trình bồi dưỡng giáo viên của Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020.
Phần A mô tả học viên cung cấp thông tin về đối tượng tham gia chương trình bồi dưỡng, trải nghiệm
của họ với chương trình, và năng lực của họ được thể hiện trong khóa học và bài thi cuối khóa. Các phân
tích này cho thấy:
Đối tƣợng tham gia chƣơng trình bồi dƣỡng
 Đa số là phụ nữ (80%), ở độ tuổi 26 và 45 (94%).
 4 trong số 5 giáo viên (83%) cho biết họ được đào tạo khoảng 3 năm để làm giáo viên.
 ¾ số giáo viên (72%) giảng dạy ở cấp tiểu học và trung học.


ngôn ngữ giảng dạy (Mô hình 1). Chúng tôi cũng thấy rằng các giáo viên hiểu rõ cần phải học gì và có
thể sử dụng một cách hiệu quả năng lực tiếng Anh tổng quát làm cơ sở để nâng cao năng lực tiếng Anh
cho giảng dạy (Mô hình 2). Giáo viên đến từ các vùng miền khác nhau thể hiện năng lực như nhau trong
khóa học (Mô hình 3). Việc này chứng tỏ công nghệ và mức độ truy cập không gây ra các vấn đề
nghiêm trọng.
Cụ thể hơn, chúng tôi nhận thấy:


Việc giáo viên tự đánh giá năng lực tiếng Anh tổng quát là yếu tố phỏng đoán quan trọng nhất về
điểm thi cuối khóa của giáo viên.
Nói một cách khác, có thể thấy các giáo viên hiểu rõ mình cần phải học gì để có thể nâng cao
năng lực tiếng Anh cho giảng dạy của mình.



Những giáo viên tự nhận xét trình độ tiếng Anh tổng quát ở mức hạn chế và dành thời gian nghiên
cứu tài liệu học đạt kết quả cao hơn đáng kể trong bài thi cuối khóa.
Nói cách khác, có thể thấy các giáo viên có khả năng sử dụng một cách hiệu quả chương trình
học có tính chất tự truy cập để đạt được nhu cầu học của mình.



So sánh giáo viên nông thôn và thành thị cho thấy không có sự khác biệt lớn giữa năng lực giáo viên
hai vùng này. Điều này được thể hiện qua bài thi cuối khóa.
Nói cách khác, những quan ngại về công nghệ và mức độ truy cập không xuất hiện trong nghiên
cứu này.

Phần C báo cáo về chương trình bồi dưỡng và đánh giá Giảng viên Cốt cán.
Phần D trình bày một số Đề xuất Xây dựng Kế hoạch dựa trên các phân tích trong báo cáo.

1.
Đối tƣợng tham gia chƣơng trình học?
Có 600 giáo viên tham gia chương trình bồi dưỡng Năng lực tiếng Anh cho giảng dạy English-forTeaching và 506 trong số này đã hoàn thành bài thi cuối khóa TEFT (Test of English for Teaching).
Phần này mô tả 506 giáo viên về độ tuổi, giới tính, và năng lực tiếng Anh tổng quát theo nhận định của
giáo viên. Những thông tin này sẽ giúp quyết định mức độ đại diện của các giáo viên cho đội ngũ giảng
dạy tiếng Anh của Việt Nam.
1.1
Lựa chọn giáo viên
Ban Quản lí Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020 chỉ định 06 trường Đại học nòng cốt làm địa điểm triển
khai và 10 Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh lựa chọn giáo viên tiếng Anh phổ thông tham gia chương
trình. Mỗi trường Đại học nòng cốt sẽ làm việc với một sở gần khu vực của mình. Có tất cả 6 lớp học
được thành lập (xem Bảng 1)
Bảng 1: Lựa chọn Giáo viên tiếng Anh các Sở GD&ĐT
Sở GD&ĐT
Bắc Cạn

Vùng

Số giáo viên

Nông thôn

50

Trƣờng ĐH
nòng cốt
Đại học Thái Nguyên

Thái Nguyên


Đại học Ngoại ngữ,
Đại học Huế

Quảng Nam

Nông thôn

50

Đà Nẵng

Thành thị

50

Bến Tre

Nông thôn

50

Đồng Tháp

Nông thôn

50

Đại học Ngoại ngữ,
Đại học Quốc gia Hà Nội



Trong quá trình đánh giá người học, các giáo viên được hỏi về quá trình học tiếng Anh. Phần đông giáo
viên (74%) cho biết họ học tiếng Anh trong ít nhất 9 năm. Đa số giáo viên (69%) bắt đầu học tiếng Anh
từ phổ thông trung học hoặc sớm hơn. 16% cho biết đến tận đại học hoặc sau đại học họ mới học tiếng
Anh (xem Hình 1).

Hình 1

Một số ít giáo viên (6%) đánh giá trình độ tiếng Anh của bản thân ở mức cơ bản (basic), là mức thấp
nhất trong các trình độ mà bảng điều tra liệt kê để giáo viên lựa chọn. Mức trình độ được lựa chọn nhiều
nhất là “trên trung cấp” (upper-intermediate). Chỉ khoảng 9% tự đánh giá trình độ tiếng Anh của mình ở
mức “cao cấp” (advanced) mặc dù các nghiên cứu về tự đánh giá cho thấy nhìn chung người tự đánh giá
thường có xu hướng đánh giá thấp năng lực của mình, đặc biệt về năng lực sử dụng ngôn ngữi (xem
Hình 2)

Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

9


Hình 2

1.4

Số năm đào tạo để trở thành giáo viên

Phần lớn giáo viên (83%) cho biết họ được đào tạo ít nhất 03 năm để làm giáo viên; một số ít giáo viên (4%) cho
biết họ không được đào tạo để trở thành giáo viên (xem Hình 3)

Hình 3

11


Hình 6

2.

Trải nghiệm của giáo viên tham gia chƣơng trình

Chương trình học English-for-Teaching giới thiệu các từ và cụm từ chức năng giúp giáo viên triển khai
các hoạt động cơ bản trên lớp bằng tiếng Anh. Chương trình được chia thành 03 hợp phần chức năng
ngôn ngữ:




Quản lí lớp học (Managing the Classroom)
Hiểu và Truyền đạt nội dung bài giảng (Understanding and Communicating Lesson Content)
Đánh giá và phản hồi (Assessing Student Work and Giving Feedback)

Chương trình thi TEFT (Test of English-for-Teaching) được thiết kế dựa trên khung chương trình và nội
dung chương trình học. Nó ghi lại ngôn ngữ mà thí sinh sẽ sử dụng để thực hiện các thao tác giảng dạy
trong lớp học.

2.1.

Giáo viên sử dụng thời gian trong chƣơng trình học nhƣ thế nào?

Chương trình ELTeach nói chung và English-for-Teaching nói riêng được thiết kế nhằm tạo ra một môi
trường học tập mang tính tự truy cập và tự chủ cho người học. Điều này có nghĩa người học có thể truy

Hồi). Thông số lấy từ hệ thống quản lí học tập trực tuyến giúp chúng tôi xem xét cách thức học viên sử
dụng thời gian cho từng hợp phần. Hơn thế nữa, vì những hợp phần này cũng được kiểm tra trong bài thi
cuối khóa, thông tin về thời gian giáo viên dành để học từng hợp phần hoàn toàn có thể liên quan tới
năng lực của giáo viên thể hiện ở bài thi cuối khóa.
Giáo viên dành nhiều thời gian nhất cho các bài học liên quan tới phần Quản Lí – 75% dành ít nhất 35
phút cho các bài học này (xem chú thích 2). Họ cũng dành nhiều thời gian cho các bài học Quản lí
(trung bình 54 phút) hơn là các bài học Hiểu (41 phút) hay Phản Hồi (33 phút) (xem Hình 8).

Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

13


Hình 8

2.3

Giáo viên phản hồi về chƣơng trình nhƣ thế nào?

Sau khóa học chúng tôi phát phiếu điều tra cho các học viên, trong đó có 207 người trả lời. Dưới đây là
một số ví dụ trong rất nhiều nhận xét tích cực từ học viên:
"Tôi muốn nói rằng trước khi tham gia chương trình học này, tôi không tự tin lắm với việc sử
dụng tiếng Anh trong dạy học. Tuy nhiên sau khi tham gia chương trình học 2 tuần, tôi thấy học
được rất nhiều từ chương trình. Tôi đã học được cách các giáo viên khởi động lớp học, tôi học
được nhiều thủ thuật mà các giảng viên đã dùng để tập huấn trong khóa học – những điều này
rất hữu ích với công việc giảng dạy của tôi… Tôi nghĩ khóa học này không chỉ hữu ích cho tôi
mà còn cho các đồng nghiệp của tôi nữa. Tôi tin rằng điều quan trọng nhất mà chúng tôi học
được từ chương trình là cách dạy tiếng Anh bằng tiếng Anh, chứ không phải dạy tiếng Anh bằng
tiếng Việt. Bây giờ chúng tôi có thể dễ dàng soạn giáo án và các khóa học trực tuyến của chúng
tôi… Tôi thấy công việc giảng dạy của tôi đang được cải thiện từng ngày, và các bài giảng của

thuộc thang điểm đó có thể thực hiện. Những mô tả này được cụ thể hóa bằng ba hợp phần ngôn ngữ
chức năng trong khóa học (xem Phụ lục đính kèm để biết chi tiết hơn về bảng mô tả thang điểm)
Thí sinh sau khi hoàn thành bài thi được nhận điểm tổng cùng với thang điểm đi kèm. Điểm tổng mô tả
năng lực thí sinh thể hiện qua bài thi, trong khi đó thang điểm mô tả năng lực của thí sinh trong một
phạm vi rộng hơn, tức là trong mối tương quan với các thang điểm khác. Theo cách này thì hệ thống
chấm điểm cung cấp thông tin về năng lực của từng cá nhân thí sinh trong mối tương quan với các thang
điểm tổng quát.
Hình 9 là mẫu phiếu điểm trong đó điểm giả định là 560 điểm, nằm ở giữa thang điểm 2 và thang điểm
3. Trong bảng phân tích này, những điểm số rơi vào giữa hai thang điểm này được tính là thuộc vào
thang điểm thấp hơn. Ví dụ, điểm số rơi vào giữa thang điểm 1 và 2 được coi là nằm ở thang điểm 1. Lí
do là vì điểm ở giữa thang điểm 1 và 2 chứng tỏ thí sinh đạt được thang điểm 1, nhưng chưa thể đạt
được tới thang điểm 2. Điều này cũng tương tự đối với điểm số rơi vào giữa thang điểm 2 và 3.

Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

15


--ID # : AccesCode 11

Test Date: 30/05/2013
(DD/MM/YYYY)

Institution: ICPCName 3
Country: Brazil
Local ID: Buffer Field 11

Total Scaled Score
550_ 5


of the managing-the-classroom vocabulary and
phrases present in the English-for-Teaching program)

Managing the classroom

Band Three (Range 565-645): Typically,
test takers in Band Three can do a wide
range of these essential tasks. For
example, they can:

• complete a range of classroom management
tasks and demonstrate a good command of
most of the managing-the-classroom
vocabulary and phrases present in the
English-for-Teaching program

• complete a wide range of classroom
management tasks and demonstrate a very good
command of all of the managing-the-classroom
vocabulary and phrases present in the English-forTeaching program

• understand short, written, and spoken instructions
for classroom activities (though they may have
difficulty identifying key information at times)
• locate some key information in reading and listening
texts
• combine and copy language to create new, simple
written and spoken examples of lesson content
• give some short, very simple instructions for
classroom activities

written errors in order to provide appropriate,
essential oral and written feedback

• identify a wide range of students’ spoken and
written errors in order to consistently provide
appropriate, essential oral and written feedback

455 giáo viên (90%) có điểm thi thuộc 2 thang điểm cao nhất (thang 2 và 3). 62% giáo viên nằm ở thang
điểm
3; and
28% giáo viên ở thang điểm 2. Tất cả giáo viên tham gia thi đều có điểm thi từ thang điểm 1 trở
Understanding
communicating lesson content for
students
as
included
in
lên.
(xem Hình
10).
instructional materials
Providing oral and written
feedback

Additional Score Information: Language Skills for English-for-Teaching
The scores below are intended as additional information to guide your professional development. These scores refer to listening, speaking, reading, and writing skills only as used to complete essential
tasks in ELT presented in the English-for-Teaching program. They do not provide information on your general proficiency in these language skill areas. Additionally, these scores should not be compared
to scores from other administrations.
52
46

33

Understanding and
Communicating Lesson Content

Managing the Classroom

0

35
25th 75th
Percentile

0

100

45

76

Providing Feedback

0

Hình 10

25th 75th
Percentile


Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

16


3.3

Điểm thành phần của các hợp phần chức năng ngôn ngữ

Điểm thi cũng được phân tích theo các hợp phần chức năng ngôn ngữ trong khóa học3. Giáo viên có
điểm số tương tự cho hai hợp phần Quản lí lớp học (Managing) và Hiểu và truyền đạt bài giảng
(Understanding). Điểm trung bình cho hai hợp phần lần lượt là 83% và 84%. Điểm trung bình cho phần
Phản hồi (Feedback) cao hơn một chút (91%), và ít nhất ¾ số giáo viên có đạt điểm từ 80% trở lên cho
phần Phản hồi (xem Hình 11).

Hình 11

3.4

Điểm thành phần tính theo kĩ năng ngôn ngữ

Điểm bài thi TEFT cũng được phân tích theo kĩ năng ngôn ngữ4. Nó phân tích điểm mạnh và điểm yếu
của thí sinh thể hiện qua các kĩ năng này. Điểm thành phần của thí sinh tính theo kĩ năng ngôn ngữ khá
ổn định, trong đó điểm trung bình của kĩ năng Viết và Đọc là cao nhất (62 điểm), tiếp theo là Nghe (54
điểm) và cuối cùng là Nói (52 điểm) (xem Hình 12).

So sánh điểm thành phần theo các hợp phần chức năng ngôn ngữ có thể hữu ích; tuy nhiên, cần phải làm việc này một cách
thận trọng bởi vì bất cứ một bài kiểm tra nào, điểm thành phần cũng ít tin cậy hơn so với điểm tổng, vì nhiều lý do khác
nhau, ví dụ số lượng câu hỏi ít.
4 Mặc dù việc so sánh điểm thành phần của các hợp phần kỹ có thể hữu ích, cần phải làm việc này một cách thận trọng bởi vì

PHẦN B:

CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI NĂNG LỰC VÀ ĐIỂM THI CỦA GIÁO VIÊN

Phần này sử dụng các mô hình hồi qui suy luận (inferential regression models) để đưa ra các phân tích
mang tính chất phỏng đoán về mối quan hệ giữa quá trình học của giáo viên cũng như sự tham gia của
họ với chương trình này đối với kết quả thi cuối khóa.

Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

18


Chúng tôi xây dựng các mô hình để thử mối tương quan giữa một vài biến số (xem Bảng 2). Chúng tôi
thử các yếu tố phỏng đoán trong mối tương quan với 3 loại điểm thi (điểm tổng, điểm theo chức năng
ngôn ngữ, và điểm theo kĩ năng ngôn ngữ)
Bảng 2: Các mối tƣơng quan
Các yếu tố phỏng đoán

Loại điểm thi

Thời gian làm bài tập trong chương
trình học

Điểm tổng

Trình độ tiếng Anh do giáo viên tự
đánh giá

Điểm thành phần tính theo chức năng ngôn ngữ


19


Mô hình 2: Trình độ tiếng Anh do giáo viên tự đánh giá
Trình độ tiếng Anh do giáo viên tự đánh giá liên quan thế nào tới điểm thi?
Mô hình 3: Vị trí địa lí (thành thị, nông thôn)
Vị trí địa lí của giáo viên liên quan thế nào tới điểm thi?

4.1

Mô hình 1: Thời gian dành cho chƣơng trình học

Mô hình này xem xét mối tương quan giữa thời gian giáo viên dành cho chương trình học và kết quả bài
thi cuối khóa. Giáo viên dành càng nhiều thời gian cho chương trình học (trên mức trung bình trung là
36 giờ) thì điểm số của họ sẽ tăng lên cho cả 3 phần. Bảng 3 mô tả sự tương quan cụ thể:
Bảng 3: Thời gian dành cho chƣơng trinh học
Loại điểm

Số giờ học thêm

Điểm tổng

10 giờ cho toàn khóa học

Hợp phần học

Số giờ học thêm

Quản lí lớp học

Tính kinh tế và tính hiệu quả trong mô hình học tập trực tuyến tự truy cập được thể hiện ở việc thời gian
của học viên không bị phí phạm: Học viên nhận thức rõ mình đã biết gì và cần phải học gì từ những nội
dung được thể hiện trong chương trình học. Họ cũng nhận thức được sự phù hợp của những nội dung
này đối với việc giảng dạy của họ. Mô hình tiếp theo sẽ phân tích điều này kĩ hơn.

4.2

Mô hình 2: Trình độ tiếng Anh do giáo viên tự đánh giá

Mô hình này xem xét mối tương quan giữa trình độ tiếng Anh do giáo viên tự đánh giá với điểm thi của
họ. Giáo viên tự nhận biết được trình độ tiếng Anh phổ quát của mình và có thể vận dụng năng lực này
trong suốt chương trình học. Trình độ tiếng Anh do giáo viên tự đánh giá là một yếu tố quan trọng trong
việc phỏng đoán điểm thi cuối khóa. Giáo viên tự đánh giá trình độ tiếng Anh ở mức „trên trung cấp‟
(upper-intermediate) hoặc „cao cấp‟ (advanced) cho thấy có điểm số cao hơn, được thể hiện ở bảng 4
dưới đây. (Giữa hai trình độ này không có sự khác biệt đáng kể).

Bảng 4: Trình độ tiếng Anh do giáo viên tự đánh giá
Loại điểm

Số điểm tổng tăng

Điểm tổng

33***

Kĩ năng ngôn ngữ

Số điểm thành phần tăng tính theo kĩ năng ngôn ngữ
sƣ phạm



Hiểu và truyền đạt
nội dung bài giảng

4***

Phản hồi

2***
Hệ số quan trọng (sig) : * = 10%, ** = 5%, *** = 1%

Bảng này cho thấy những giáo viên tự đánh giá trình độ tiếng Anh của mình ở cấp “trên trung cấp/cao
cấp” (upper intermediate/advanced) cao hơn 33 điểm. Họ đạt điểm cao hơn cho cả 4 kĩ năng ngôn ngữ
giảng dạy (kĩ năng Nghe cao hơn 2 điểm, Nói cao hơn 3 điểm, Đọc cao hơn 2 điểm, và Viết cao hơn 3
điểm). Họ cũng đạt điểm cao hơn trong phần chức năng ngôn ngữ (phần Quản lí lớp học cao hơn 2
điểm, Hiểu và Truyền đạt Nội dung Bài giảng cao hơn 4 điểm, Phản hồi cao hơn 2 điểm). Tất cả các yếu
tố phỏng đoán này đều có ý nghĩa phỏng đoán cao nhất: 99%.
Việc giáo viên tự đánh giá trình độ tiếng Anh là yếu tố phỏng đoán rất cao về khả năng làm bài thi của
giáo viên. Vì lí do này, chúng tôi đã xem xét mối tương quan giữa thời gian giáo viên dành cho chương
trình học và trình độ tiếng Anh do giáo viên tự đánh giá.
Chúng tôi nhận thấy với những giáo viên tự đánh giá ở trình độ “cơ bản/trung cấp thấp” (basic/lower
intermediate) nếu dành nhiều thời gian hơn cho chương trình học thì điểm số sẽ đạt mức tăng cao hơn
rất nhiều so với giáo viên tự đánh giá ở mức “trên trung cấp/cao cấp” (upper-intermediate/advanced). Cụ
thể, với những giáo viên tự đánh giá ở mức “cơ bản/trung cấp thấp” nếu cứ dành thêm 10 giờ cho toàn
bộ nội dung chương trình học thì sẽ đạt thêm 11 điểm cho bài thi cuối khóa. Kết quả này có ý nghĩa
phỏng đoán là 90% (xem Hình 14).

Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

22

không đáng kể

Thời gian dành cho chương trinh

không đáng kể

Báo cáo tổng kết triển khai chương trình ELTeach tại Việt Nam (Tháng 12, 2014)

23


học
Độ tự tin

–0.5***

Hệ số quan trọng (sig): * = 10%, ** = 5%, *** = 1%

4.4
Tổng kết: Tổng hợp các mô hình phỏng đoán nói lên điều gì về việc nâng cao năng lực tiếng
Anh cho giảng dạy cho giáo viên Việt Nam?
Tổng hợp các mô hình phỏng đoán cho thấy việc thiết kế chương trình học theo mô hình trực tuyến, tự
truy cập đã thành công trong việc đem đến cho giáo viên các cơ hội để luyện tập tiếng Anh cho giảng
dạy (Mô hình 1). Chúng tôi cũng nhận thấy rằng các giáo viên biết mình cần phải học gì và có thể sử
dụng năng lực tiếng Anh phổ quát một cách hiệu quả làm nền tảng để nâng cao năng lực tiếng Anh cho
giảng dạy (Mô hình 2). Giáo viên đến từ mọi vùng miền thể hiện năng lực ngang nhau trong chương
trình học (Mô hình 3), chứng tỏ công nghệ và khả năng truy cập không tạo nên các vấn đề nghiêm trọng.
Trong số các kết quả có ý nghĩa quan trọng cho việc triển khai chương trình English-for-Teaching tại
Việt Nam sau này, phải kể đến:
ĐỘNG LỰC HỌC: Tỉ lệ hoàn thành chương trình học ở mức 84%, cộng với mối


1.

Mục tiêu chương trình bồi dưỡng cốt cán gồm:






2.

Giúp giảng viên cốt cán làm quen với nội dung và cách trình bày chương trình bồi dưỡng giáo
viên ELTeach: English-for-Teaching và chương trình thi cuối khóa TEFT
Cung cấp cho giảng viên cốt cán các biện pháp hỗ trợ giáo viên sẽ tham gia chương trình bồi
dưỡng sau này
Hỗ trợ phát triển các giảng viên cốt cán
Tạo động lực và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bồi dưỡng nghiệp vụ cho các giảng
viên cốt cán thông qua các đợt tập huấn trực tiếp và cộng đồng trực tuyến
Hỗ trợ giảng viên cốt cán phát triển và duy trì cộng đồng học tập chuyên môn để duy trì hoạt
động bồi dưỡng chuyên môn bền vững cho giáo viên
Đối tƣợng giảng viên cốt cán

825 giảng viên cốt cán được lựa chọn từ các vùng miền của Việt Nam. Các học viên được phân chia
đồng đều giữa nhóm giảng dạy ở trường phổ thông (49%) và trường đại học (47%). Đa phần trong số
này là nữ (78%) với độ tuổi khoảng từ 26 tới 45 tuổi (68%). Họ có nền tảng chuyên môn khá vững chắc
về giảng dạy tiếng Anh: phần đông nhận định có ít nhất 5 năm kinh nghiệm giảng dạy (87%) và được
đào tạo làm giáo viên ít nhất 3 năm (84%). Khi được hỏi về trình độ tiếng Anh, hầu hết tự đánh giá ở
mức „trên trung cấp‟ (49%) hoặc cao cấp (39%). 799 học viên (tương đương 97%) hoàn thành chương
trình học và chương trình kiểm tra cuối khóa. Đây là tỉ lệ hoàn thành rất cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status