Tổng quan hiện trạng khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản và chính sách nông nghiệp - sản xuất và tiêu thụ nông sản - Pdf 34

Tổng quan hiện trạng khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản và
chính sách nông nghiệp - sản xuất và tiêu thụ nông sản
Trần Tiến Khai
Bộ môn Kinh tế Nông nghiệp & PTNT, Khoa Kinh Tế

1. Môi trường kinh tế vĩ mô và vai trò của khu vực kinh tế nông lâm nghiệp
và thủy sản
Khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế quốc
gia. Trong những năm gần đây, tình hình kinh tế vĩ mô có những biến động theo chiều hướng
xấu, và sự tập trung quá mức trong hơn mười năm qua vào khu vực công nghiệp và dịch vụ để
thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã để lại những khó khăn rất lớn mà khu vực
kinh tế truyền thống này phải gánh chịu. Những vấn đề trên sẽ được trình bày tổng quan, cùng
với các nhận định rút ra từ môi trường kinh tế vĩ mô và vai trò của khu vực nông lâm nghiệp
và thủy sản trong nền kinh tế, nhất là nhấn mạnh một số vấn đề tồn tại mà khu vực này đang
phải đối mặt.
1.1 Khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản trì trệ và không được quan tâm đúng
mức
Trong giai đoạn 2005-2013, nền kinh tế Việt Nam bước vào giai đoạn suy giảm tăng trưởng,
do nhiều nguyên nhân bên trong lẫn tác động tiêu cực của suy thoái thế giới. Mặc dù giá trị
tổng sản phẩm trong nước vẫn tăng liên tục từ 1.588 triệu tỷ đồng năm 2005 lên đến 2.412
triệu tỷ đồng năm 2012 và giá trị tổng sản phẩm các khu vực kinh tế như dịch vụ, công nghiệp
và xây dựng, và nông lâm nghiệp và thủy sản cũng tăng liên tục (biểu đồ 1), nhưng cơ cấu và
tốc độ tăng trưởng có biểu hiện thay đổi quan trọng.
Về cơ cấu, so sánh giữa hai năm 2005 và 2012, cơ cấu giá trị tổng sản phẩm nông lâm nghiệp
và thủy sản giảm từ 22% xuống còn 18%. Trước đó, ở năm 2000, con số này là 24%. Ngược
lại, tỷ trọng của khu vực dịch vụ tăng từ 39% ở năm 2000 lên 40% và 43% ở hai năm 2005 và
2012. Tương tự như vậy, tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng ở các mức 37%;
38% và 39% (biểu đồ 2). Điều này cho thấy vai trò của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
trong nền kinh tế ngày càng giảm đi, trong tương quan so sánh với dịch vụ, công nghiệp và
xây dựng. Sự thay đổi này phản ánh sự tất yếu trong tiến trình phát triển kinh tế. Tuy nhiên, rõ
ràng là tốc độ thay đổi cơ cấu tổng giá trị sản phẩm trong nước là rất chậm, cho thấy có sự trì



Biểu đồ 3. Diễn biến giá trị xuất khẩu hàng hóa Việt Nam giai đoạn 1995-2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2013

Biểu đồ 4. Tốc độ phát triển của tổng sản phẩm trong nước (năm trước = 100), %
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2013

Nếu so với lực lượng dân số và lao động nông thôn, mặc dù tốc độ tăng trưởng và sự đóng
góp của khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản ngày càng giảm dần, nhưng trách nhiệm bảo
đảm sinh kế và tạo ra cơ hội công ăn việc làm của khu vực này lại hết sức quan trọng đối với
quốc gia (bảng 1.1). Do sự sụt giảm về tăng trưởng của hai khu vực dịch vụ và công nghiệp
và xây dựng, khả năng hấp thụ lực lượng dân số và lao động quốc gia từ nông thôn diễn ra
kém, lao động nông thôn dư thừa không có cơ hội dịch chuyển đến hai khu vực dịch vụ và
công nghiệp và xây dựng và bị “tắc” lại ở nông thôn. Điều này thể hiện qua số liệu giai đoạn
2005-2012, cơ cấu dân số nông thôn so cả nước giảm chưa đầy 5% (từ 72,9% năm 2005 giảm
còn 68,06% năm 2012); trong khi đó lực lượng lao động nông thôn lại tăng từ 53,4% lên
59,8%. Con số này cho thấy sự tắc nghẽn nghiêm trọng của lao động ở khu vực nông thôn. Số
lao động nông thôn không những không giảm đi, mà ngược lại còn tăng thêm. Trong bối cảnh
quỹ đất nông nghiệp hạn hẹp, áp lực dân số lao lao động trên đất nông nghiệp lại càng tăng
thêm, và tác động không tốt đến năng suất lao động nông nghiệp.

3


Các số liệu thống kê cho thấy trong khi khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản chỉ tạo ra được
chưa đầy 20% tổng giá trị sản phẩm trong nước nhưng phải nuôi sống đến hơn 2/3 dân số và
tạo ra việc làm cho gần 60% lao động cả nước1. Chính vì vậy, năng suất lao động (tính bằng
giá trị sản phẩm nông lâm nghiệp và thủy sản trên lao động) của khu vực này rất thấp, chỉ dao
động trong khoảng 10-12 triệu đồng/lao động/năm tính theo giá cố định 2010, tương đương

Có thể nhận định rằng đầu tư vào nông lâm thủy sản còn quá ít, và không tương xứng với vai
trò kinh tế - xã hội và sự đóng góp của nó. Với mức đầu tư thấp như vậy, sự trì trệ của khu
vực nông lâm nghiệp và thủy sản liên tục trong nhiều năm qua là rõ ràng không thể tránh
khỏi. Năng suất lao động quá thấp, thu nhập lao động nông thôn thấp, không được cải thiện và
chênh lệch thu nhập nông thôn-thành thị cao là kết quả phản ánh chân thực sự trì trệ này và
đầu tư thiên lệch này. Xu hướng đầu tư giảm dần vào khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
cũng phản ánh sự không nhất quán giữa định hướng phát triển nông nghiệp, nông dân, nông

1

Giả định rằng số lao động nông thôn có thể đại diện cho số lao động ở khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản.
4


thôn của Đảng và Chính phủ và các chính sách, cũng như các hoạt động đầu tư, hỗ trợ cho
khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản trên thực tế.
Bảng 1. Cơ cấu dân số, cơ cấu lao động nông thôn, năng suất lao động nông thôn và vốn đầu tư
cho khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
ĐVT

2005

2009

2010

2011

Cơ cấu dân số nông thôn so cả nước


10,68
11,24
11,48
11,90
thủy sản/lao động nông thôn
đồng/năm
Vốn đầu tư toàn xã hội cho khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
(%)
9,14
12,01
12,53
11,04
 so với tổng giá trị sản phẩm
nông lâm nghiệp và thủy sản
(%)
1,97
2,34
2,37
2,04
 so với tổng giá trị sản phẩm
trong nước
(%)
 so với tổng mức đầu tư toàn
xã hội
7,00
6,21
6,15
6,08
Vốn đầu tư thực hiện của khu vực kinh tế nhà nước cho khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản
(%)


1.2 Các vấn đề tồn tại của khu vực kinh tế nông lâm nghiệp và thủy sản
1.2.1 Trình độ khoa học công nghệ còn thấp
Hiện nay, quỹ đất nông nghiệp đã được khai thác tối đa, nông nghiệp tăng trưởng chủ yếu
theo chiều rộng và đã đến mức tới hạn. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến việc tốc độ tăng
trưởng của ngành nông nghiệp có xu hướng giảm ở các năm gần đây. Vì vậy, nâng cao trình
độ khoa học công nghệ nông nghiệp là một vấn đề cốt yếu đối với việc tăng cường năng lực
cạnh tranh của hàng hóa nông sản dưới góc độ nâng cao năng suất, sản lượng và chất lượng;
đồng thời giảm giá thành sản phẩm và bảo đảm các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cho
người tiêu dùng.
Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam nhìn chung còn thấp vì trình độ
khoa học công nghệ sản xuất thấp. Ở Việt Nam, đã xác định một số mặt hàng nông sản có khả
năng cạnh tranh khá trên thị trường thế giới như gạo, cà phê, cao su, nhân hạt điều, hồ tiêu,
chè, thủy sản và đồ gỗ. Ngược lại, một số mặt hàng có khả năng cạnh tranh thấp như thịt,
trứng, rau quả, ngô. Nhiều mặt hàng nông sản không có khả năng cạnh tranh như sữa, đậu
nành, lạc, mía đường, bông vải.
Nhìn từ góc độ năng suất, năng suất của các nhiều loại cây trồng không được cải thiện rõ ràng
trong nhiều năm qua (biểu đồ 5). Đối với cây hàng năm, tốc độ tăng năng suất thường dưới
5%/năm và có xu hướng giảm dần từ năm 2000 cho đến 2012. Mặc dù cây công nghiệp lâu
năm có sự biến động năng suất lớn vì chịu nhiều tác động của bất ổn khí hậu và thời tiết,
5


nhưng xu hướng chung vẫn là sự giảm dần về tăng trưởng năng suất. Ngoại trừ lúa, cà phê và
cao su có lợi thế năng suất tương đối cao so với các các nước trên thế giới, nhiều loại cây
trồng khác có năng suất khá thấp và chưa thấy triển vọng được cải thiện.
Về kỹ thuật canh tác, ngoại trừ canh tác lúa đã được cơ giới hóa khá cao và đồng bộ ở các
công đoạn làm đất, gieo trồng, và thu hoạch thì trong phần lớn ngành trồng trọt, các công
đoạn gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch vẫn còn sử dụng lao động chân tay là chính. Công tác
cải tiến giống được áp dụng phổ biến vẫn trên cây lúa và ngô, trong khi chưa có sự tiến bộ rõ

khoảng 9,8 triệu tấn. Trong đó, phân NPK 3,5 triệu tấn, phân urê 2 triệu tấn, phân lân các loại
1,8 triệu tấn, DAP 950 nghìn tấn, kali 920 nghìn tấn, đạm SA 710 nghìn tấn.
Trong các loại phân bón chủ lực trên, thì đến năm 2012, Việt Nam đã hoàn toàn tự túc được
NPK, lân và urê. Còn đối với phân DAP, dù hiện đã có Nhà máy DAP Đình Vũ (Hải Phòng)
với công suất 330 nghìn tấn/năm, nhưng cũng chỉ đáp ứng được 35% nhu cầu cả nước. Còn
lại 65% nhu cầu DAP vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu. Tập đoàn hóa chất đang tích cực
xúc tiến việc xây dựng nhà máy DAP ở Lào Cai, có công suất tương đương với Nhà máy
Đình Vũ. Như vậy, chỉ sau vài năm nữa, lượng DAP nhập khẩu sẽ giảm đáng kể. Còn 2 loại
phân quan trọng khác là SA và kali vẫn phải nhập 100% từ nước ngoài, bởi trong nước hiện
nay chưa có nhà máy nào sản xuất 2 loại phân bón này (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và
Thương mại - Bộ Công Thương, 2013).
Trong khi việc tự chủ sản xuất phân bón hóa học trong nước đang tăng và làm giảm nhu cầu
nhập khẩu, thì dường như ngành chăn nuôi ngày càng phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu thức
ăn chăn nuôi nhập khẩu. Ngành chăn nuôi chủ yếu nhập nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc,
bình quân 8 triệu tấn/năm (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại - Bộ Công
Thương, 2013). Trong đó, các loại nguyên liệu giàu đạm như khô dầu đậu nành, bột xương
thịt, bột cá lượng nhập chiếm đến 90%. Các khoáng chất, vitamin, phụ gia khác phải nhập
khẩu 100%. Hai loại nguyên liệu chiếm tỷ lệ nhập khẩu cao là hạt bắp và đậu nành. Lượng
nhập bắp hạt dao động trong khoảng 1,2 – 1,5 triệu tấn/năm, với giá trị nhập khẩu trên dưới
500 triệu USD. Lượng đậu nành nhập khẩu năm 2012 là 1,29 triệu tấn, giá trị đạt mức kỷ lục
777 triệu USD, tăng 41% so với năm 2011 do sức ép giá đậu tương tăng mạnh trên thị trường
quốc tế (bảng 2). Chỉ riêng hai loại nguyên liệu thô này, Việt Nam đã tốn khoảng 1,2 – 1,5 tỷ
USD hàng năm, chưa kể các nguyên liệu khác như bột cá, premix, v.v. Sự phụ thuộc nhiều
của ngành thức ăn chăn nuôi vào nguyên liệu nhập khẩu dẫn đến rủi ro cho ngành chăn nuôi
khi có biến động về giá hoặc nguồn cung trên thế giới. Hiện nay đang có tranh luận về việc
giảm cung lúa gạo để sản xuất bắp và đậu nành cho chăn nuôi, hoặc dùng gạo giá rẻ làm thức
ăn chăn nuôi để tiết kiệm chi phí nhập khẩu nguyên liệu.
Nông nghiệp Việt Nam cũng phụ thuộc nhiều vào thị trường thuốc bảo vệ thực vật trên thế
giới. Mặc dù Việt Nam có hàng chục doanh nghiệp sản xuất và phân phối các loại thuốc bảo
vệ thực vật nhưng nguyên liệu chủ yếu được nhập khẩu. Sự gia tăng thâm canh nông nghiệp

1.289,9
777,3
Brazil
506,9
258,2
584,6
345,3
Hoa Kỳ
178,1
87,4
227,1
135,9
460,9
292,4
Canada
17,8
8,5
88,2
47,6
122,4
66,5
Achentian
13,3
6
159,8
87,6
99
62,8
Uruguay
26,9

8


hạn chế. Từ đó, mặc dù khối lượng hàng hóa xuất khẩu nhiều, nhưng kim ngạch xuất khẩu lại
chưa được cải thiện.
1.2.3 Chuỗi giá trị nông sản thiếu tính liên kết
Hệ thống kinh doanh nông sản Việt Nam chỉ đang bắt đầu phát triển trong thời kỳ đổi mới
kinh tế và tập trung vào một số ngành truyền thống hoặc có lợi nhuận cao như lúa gạo, cao su,
cà phê, hồ tiêu, điều và thủy sản. Vấn đề liên kết sản xuất hợp tác dưới dạng hình thành các
liên kết ngang như hợp tác xã, nhóm, tổ cùng sở thích để tham gia trực tiếp vào liên kết dọc
trong ngành kinh doanh nông sản còn rất yếu ớt. Chuỗi giá trị nông sản nhìn chung còn rời
rạc, phân mảnh, và tính liên kết dọc rất yếu ớt. Phần lớn nông sản Việt Nam được sản xuất và
tiêu thụ thông qua thị trường thời điểm, không hình thành liên kết dọc chặt chẽ. Chỉ xuất hiện
một số điển hình liên kết ngang và liên kết dọc như mô hình cánh đồng mẫu lớn trong canh
tác lúa do Công ty Bảo vệ Thực vật An Giang phát triển; các liên kết dọc dưới dạng sản xuất
theo hợp đồng giữa các nhà bán lẻ như Metro Cash Carry, Saigon Co-opMart với các công ty,
hợp tác xã và nhóm nông dân trồng rau an toàn; giữa Vinamilk và Dutch Lady với nông dân
nuôi bò sữa ở khu vực TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.
Đối với ngành thủy sản, mặc dù tiềm lực sản xuất và chế biến là rất lớn, nhưng tính thiếu liên
kết và sản xuất phân mảnh vẫn tồn tại khá trầm trọng. Hầu hết các công ty xuất khẩu/chế biến
thủy sản đều không có liên kết với các người nuôi nguyên liệu, thậm chí cố gắng phát triển
vùng nguyên liệu riêng của doanh nghiệp.
1.2.4 Khả năng cạnh tranh kém
Khi chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro trong thương
mại nông sản. Đối với các mặt hàng có khả năng cạnh tranh, Việt Nam có thể gia tăng sản
lượng xuất khẩu, nhưng vướng phải nhiều rào cản, chủ yếu là rào cản kỹ thuật, chất lượng và
vệ sinh an toàn thực phẩm mà nhìn chung trình độ và công nghệ sản xuất hiện nay chưa đáp
ứng tốt được. Việc áp dụng rộng rãi tiêu chuẩn VietGAP trong công đoạn sản xuất chưa phổ
biến nên chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm của nông sản chưa được bảo đảm, mặc dù hệ
thống nhà máy chế biến nông sản đạt được trình độ công nghệ khá cao, và áp dụng nhiều tiêu

để phát triển cao su vượt khuôn khổ quy hoạch là những minh chứng cụ thể cho việc phát
triển nông nghiệp thiếu bền vững, chạy theo sản lượng trong nhiều năm vừa qua.

2. Các chính sách nông nghiệp, sản xuất và thương mại nông sản trong giai
đoạn 2012-2013
Phần 2 tổng quan một số chính sách quy hoạch sản xuất nông nghiệp và thương mại nông sản
trong hai năm 2012 -2013. Các chính sách này cũng được phân tích để thấy tác động của các
chính sách này đến sự phát triển nông nghiệp cũng như một số ngành hàng nông sản quan
trọng trong thời gian qua.
2.1 Các chính sách quy hoạch nông nghiệp
Trong giai đoạn 2012-2013, Chính phủ đã có nhiều quyết định liên quan đến quy hoạch sản
xuất nông nghiệp. Nổi bật là các quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể sản xuất ngành
nông nghiệp, quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản. Ngày 02 tháng 02 năm 2012 Chính phủ
đã công bố QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông
nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030. Có thể điểm qua một số thông tin quan trọng
trong quyết định này như sau:
Về quan điểm quy hoạch, Chính phủ khẳng định quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp
phải 1) theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, khả năng cạnh tranh, hiệu quả và tính bền
vững của nền nông nghiệp; 2) dựa trên tiếp cận thị trường, ứng dụng các thành tựu khoa học
công nghệ, bảo vệ môi trường sinh thái; 3) gắn kết với công nghiệp bảo quản, chế biến và thị
trường tiêu thụ, tích tụ ruộng đất, hình thành các vùng hàng hóa nông sản tập trung; 4) gắn với
chuyển dịch cơ cấu lao động, đáp ứng yêu cầu sử dụng trình độ kỹ thuật và công nghệ ngày
càng cao; và 5) có hệ thống chính sách huy động các nguồn lực xã hội và sự hỗ trợ của nhà
nước cho sản xuất.
Có thể thấy quan điểm này thể hiện sự tiếp cận hệ thống của chính phủ về quy hoạch nông
nghiệp nhưng đòi hỏi phải có nhiều chính sách đồng bộ để khuyến khích sự tham gia của hộ
gia đình, các doanh nghiệp tư nhân cũng như sự gia tăng đầu tư của nhà nước cho khu vực
nông lâm nghiệp và thủy sản, cũng như các chính sách phù hợp, nhất là chính sách đất đai.
Nếu không có các chính sách đất đai phù hợp, khuyến khích sự phát triển của thị trường đất
đai và chuyển dịch cơ cấu lao động trên bình diện quốc gia thì khó mà thúc đẩy tích tụ ruộng

chuyển đổi. Ngược lại, diện tích mía năm 2012 là 297,9 ngàn ha; bông vải giảm đến chỉ còn
6,4 ngàn ha; điều trên đà suy giảm còn xấp xỉ 300 ngàn ha. Tương tự, diện tích quy hoạch
trồng cây ăn quả cũng quá tham vọng (nhãn 140 ngàn, vải 140 ngàn ha, xoài 110 ngàn ha,
cam quýt 115 ngàn ha) so với thực tế hiện có (nhãn 78 ngàn, vải 91 ngàn ha, xoài 73,7 ngàn
ha, cam quýt 55 ngàn ha. Các loại cây trồng có khả năng xuất khẩu tốt và mang lại thu nhập
cao cho người trồng đã có diện tích xấp xỉ hoặc vượt quy hoạch; trong khi các loại cây trồng
có lợi thế so sánh kém thì có sự suy giảm diện tích rất nhanh và không thể nào có triển vọng
đạt diện tích quy hoạch.Các con số này cho thấy có sự sai biệt rất lớn giữa diện tích trồng trên
thực tế hoặc theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, và diện tích quy hoạch. Nói cách khác, quy
hoạch còn rời xa thực tế và không được thực thi và kiểm soát trên thực tế.
Về ngành thủy sản, Chính phủ có Quyết định 1445/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2013 phê
duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030. Theo quyết
định này, đáng chú ý là sản lượng thủy sản quy hoạch đến 2020 là 7 triệu tấn, trong đó sản
phẩm nuôi trồng chiếm 65%. Diện tích nuôi trồng được quy hoạch là 1,2 triệu ha, phần lớn
tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long (805.460 ha), trong đó tôm sú 80 ngàn ha, tôm thẻ
chân trắng 60.000 ha, cá tra 10.000 ha. Với quy mô tăng trưởng này, ngành thủy sản cần có sự
đầu tư hết sức mạnh mẽ của cả khu vực nhà nước lẫn tư nhân để có thể cải thiện được cơ sở
11


hạ tầng kỹ thuật cho nuôi trồng, khai thác và chế biến; đồng thời phải tăng cường bảo đảm
chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm và đa dạng hóa sản phẩm để có thể mở rộng thị trường
tiêu thụ.
2.2 Một số chính sách thương mại
Các chính sách thương mại nông sản được ban hành trong giai đoạn 2012-2013 cũng có
những tác động đáng chú ý đến sản xuất và thương mại nông nghiệp trong nước. Có hai văn
bản quan trọng là Thông tư 08/2013/TT-BCT Quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng
hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam, và Thông tư số 28/TT-BCT quy định chi tiết việc đăng ký quyền
xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thương nhân nước ngoài không có hiện diện thương mại tại


VnEconomy. />12


bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, và Nghị định
90/2007/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2007 quy định về quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu
của thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam. Mãi cho đến ngày 27 tháng 9
năm 2012, Bộ Công Thương mới ban hành Thông tư 28/2012/TT-BCT quy định chi tiết việc
đăng ký quyền xuất khẩu, quyền nhập khẩu của thýõng nhân nýớc ngoài không có hiện diện
tại Việt Nam. Sau khi có Thông tý này, tình hình tổ chức thu mua nông sản trái phép của các
thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt Nam đã được cải thiện phần nào.
Tình hình trên cho thấy môi trường thương mại nông sản Việt Nam đã phát triển nhanh và đa
dạng, thu hút sự quan tâm hoạt động thu mua nông sản nguyên liệu của các doanh nghiệp vốn
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và cả thương nhân nước ngoài không có hiện diện tại Việt
Nam. Tuy nhiên, các phản ứng trái chiều về chính sách cho thấy dường như chưa có sự nhất
quán trong định hướng thương mại nông sản nội địa nhằm thúc đẩy thương mại nông sản một
cách công bằng giữa doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và
thương nhân nước ngoài. Chính sách thương mại có lẽ vừa cần thiết để kiểm soát và ổn định
hóa việc thu mua nông sản nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu, tránh những hoạt động có thể
gây ra cạnh tranh không bình đẳng và gây tổn hại đến nền kinh tế, nhưng đồng thời cũng phải
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư sâu vào việc tổ chức xây
dựng vùng nguyên liệu, đầu tư cơ sở hạ tầng chế biến và chuyển giao công nghệ cho cả khu
vực sản xuất lẫn chế biến, xây dựng chuỗi giá trị dựa trên liên kết với người sản xuất và thúc
đẩy xuất khẩu nông sản Việt Nam.

3. Hiện trạng sản xuất – tiêu thụ một số mặt hàng nông sản chủ lực giai
đoạn 2012-2013
Phần 3 này chủ yếu trình bày tình hình sản xuất, tiêu thụ một số nông sản chủ lực của Việt
Nam và những thảo luận liên quan đến chính sách sản xuất và thương mại nông sản. Các loại
nông sản được phân tích bao gồm 1) lúa gạo; 2) cà phê; và 3) cao su.

ngạch xuất khẩu như trên, ngành lúa gạo đã đóng góp rất lớn vào nền kinh tế quốc gia với các
vai trò khai thác nguồn lợi đất đai và lợi thế so sánh, nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long; bảo
đảm an ninh lương thực quốc gia; tạo ra sự ổn định sinh kế cho hàng triệu hộ nông dân trồng
lúa ở vùng nông thôn; cung cấp lương thực với giá rẻ và ổn định cho khu vực thành thị; và
mang lại ngoại tệ, vốn cho phát triển (biểu đồ 9).
Mặc dù có những đóng góp hết sức quan trọng cho nền kinh tế, nhưng ngành lúa gạo vẫn có
những vấn đề khó khăn đã bộc lộ, và cần có những chính sách khắc phục trong thời gian sắp
tới.

Biểu đồ 8. Sự phát triển diện tích gieo trồng, sản lượng lúa gạo và lượng gạo xuất khẩu giai đoạn
1990-2012
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2013)

14


Biểu đồ 9. Sự phát triển khối lượng gạo xuất khẩu và kim ngạch giai đoạn 1990-2012
Nguồn: Hiệp hội Lương thực Việt Nam – VFA, 2013

3.1.2 Những vấn đề tồn tại của ngành lúa gạo
(1) Dư cung
Về thị trường, cần nhắc lại là thị trường gạo thế giới có đặc trưng có khối lượng gạo giao dịch
rất ít so với tổng sản lượng gạo thế giới (chỉ ở mức trên dưới 5%); dễ bị tác động do yếu tố
thời tiết khí hậu; giá cả thay đổi nhanh chóng vì khả năng thay đổi cung rất nhanh do chu kỳ
sản xuất lúa rất ngắn; và một số nước nhập khẩu chính như Indonesia và Philippines đóng vai
trò định giá. Các nước nhập khẩu gạo luôn có xu hướng thúc đẩy sản xuất nội địa, trợ giá đầu
vào và áp dụng thuế xuất hoặc hạn ngạch để giảm nhập khẩu. Ngoài ra, vì tính chất giao dịch
theo mùa, các nước nhập khẩu có xu hướng tập trung nhập khẩu vào thời điểm thu hoạch rộ
của các nước xuất khẩu để mua với giá thấp. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là
các nước Châu Á và Châu Phi.

đàm phán giá.
Ngược lại về phía cầu, Indonesia và Philippines là hai nước nhập khẩu ròng trong nhiều năm
nay, và chủ yếu dựa vào nguồn cung gạo của Thái Lan và Việt Nam. Tuy nhiên, từ cuộc
khủng hoảng lương thực năm 2008, hai nước này đã thay đổi chính sách lương thực theo
hướng tái đầu tư mạnh mẽ cho sản xuất lúa gạo trong nước, hạn chế sự phụ thuộc vào thị
trường lúa gạo thế giới. Cho đến nay, Indonesia gần như hoàn thành được mục tiêu tự túc
lương thực, riêng Philippines do ảnh hưởng nghiêm trọng của cơn bão Hải Yến, dự kiến sẽ
phải nhập gạo bổ sung lượng thiếu hụt (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại,
2013). Các số liệu thống kê cho thấy cả diện tích và sản lượng lúa hai nước này tăng nhanh
trong thập niên 2000 cho đến nay (biểu đồ 10).

Biểu đồ 10. Sự phát triển diện tích và sản lượng lúa của Cambodia, Myanmar, Indonesia và
Philippines giai đoạn 2000-2012
Nguồn: FAO STAT, 2013

Các thông tin thực tế phản ảnh rõ tình trạng dư cung trên thị trường lúa gạo thế giới hiện nay.
Vì thế, vấn đề đáng ngại chính của ngành lúa gạo xuất khẩu của Việt Nam là tình trạng dư
cung trầm trọng. Nông dân ĐBSCL, dưới sự khuyến khích của Chính phủ và chính quyền địa
phương sản xuất lúa vụ 3 (Thu Đông) ngày càng nhiều trong mùa lũ, tạo nguồn cung lớn và
gây áp lực nặng nề cho vụ Đông Xuân kế tiếp. Trong khi đó, các nước nhập khẩu quan trọng
như Philippines và Indonesia có xu thế tăng cường sản xuất nội địa cho an ninh lương thực Vì
vậy, giải pháp căn bản là giảm cung. Việt Nam cần cân nhắc duy trì xuất khẩu ổn định một
lượng gạo nhất định, và kiểm soát cung (bằng cách hạn chế diện tích canh tác vụ Thu Đông,
và quay vòng canh tác vụ Thu Đông trong giới hạn) để giảm áp lực, và giảm cung có có nghĩa
tạo cơ hội tăng giá trên thị trường. Bằng chứng là hai năm 2011 và 2012, mặc dù lượng gạo
16


xuất khẩu tăng liên tục, nhưng kim ngạch xuất khẩu lại giảm nghiêm trọng. Thực tế là chúng
ta đang tốn kém chi phí nhiều hơn để sản xuất, để có sản lượng lớn hơn, nhưng giá trị kim

kỳ. Ngoài ra, việc quy định tổ chức thực hiện hợp đồng xuất khẩu tập trung (chỉ định giao
dịch dự thầu hoặc ký kết hợp đồng, phân giao chỉ tiêu 20% xuất khẩu trực tiếp, 80% xuất
khẩu ủy thác qua các thành viên khác) và việc quy định đăng ký số lượng xuất khẩu cho các
hợp đồng thương mại trên cơ sở chỉ tiêu xuất khẩu gạo định hướng cũng thể hiện bản chất của
cơ chế điều hành xuất khẩu gạo hiện nay là theo hạn ngạch.
Theo lý thuyết kinh tế, khi nước xuất khẩu muốn hạn chế việc tăng giá gạo nội địa do tác
động của sự gia tăng giá gạo quốc tế thì có thể áp dụng cơ chế thuế xuất khẩu hoặc hạn ngạch.
Cơ chế thuế xuất khẩu sẽ chuyển giao thu nhập từ thuế xuất khẩu về cho Nhà nước, trong khi
cơ chế hạn ngạch sẽ chuyển giao lợi ích đó về cho các doanh nghiệp xuất khẩu. Ngoài ra, cơ
17


chế phân bổ chỉ tiêu lại có thể dẫn đến vấn đề xin – cho, mua bán chỉ tiêu cũng như sự chọn
lựa thiếu công bằng giữa các nhà xuất khẩu. Khi có chênh lệch lớn giữa giá quốc tế và nội địa,
nhà xuất khẩu sẽ là người hưởng lợi chính chứ không phải là Nhà nước (thông qua thu nhập
từ thuế xuất khẩu) và nông dân (nhờ giá tăng). Rõ ràng là cơ chế phân giao chỉ tiêu xuất khẩu
hiện nay không tạo ra cơ hội cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp xuất khẩu và cũng
không tạo ra lợi ích tối đa cho Nhà nước và người sản xuất.
Cơ chế bình ổn giá chưa được xác lập rõ ràng và nhất quán. Dường như do Nhà thiếu vốn bảo
đảm thu mua dự trữ quốc gia nên dự trữ lưu thông do các doanh nghiệp thực hiện là cơ chế
chủ yếu được áp dụng để bình ổn giá hiện nay. Tuy nhiên, cơ chế này tỏ ra không phù hợp với
bản chất kinh tế thị trường của các doanh nghiệp xuất khẩu, vì buộc các doanh nghiệp thu
mua tạm trữ nhằm bình ổn giá bằng nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Việc buộc
doanh nghiệp dự trữ lớn sẽ tăng thêm chi phí, nhất là khi lãi suất cho vay của ngân hàng tăng
và cuối cùng lại tính vào giá thành làm giảm sức cạnh tranh của gạo Việt Nam khi xuất khẩu.
Đồng thời, một nghịch lý khác là khi giá gạo xuất khẩu xuống thấp, doanh nghiệp có thể thua
lỗ nếu phải bắt buộc mua lúa từ nông dân với giá sàn bảo đảm lợi nhuận cho nông dân 30% so
với giá bán. Hơn nữa, khi có dư cung trên thị trường thế giới, và giá xuất khẩu xuống thấp thì
việc buộc doanh nghiệp phải bảo đảm lợi nhuận mang tính nguyên tắc cho nông dân cũng
không phù hợp với quy luật thị trường.

liên quan. Nhà hoạch định chính sách không biết được chi phí sản xuất, lợi nhuận, giá trị gia
tăng ở từng tác nhân tham gia trong ngành hàng là bao nhiêu, và phân phối lợi ích kinh tế giữa
các tác nhân như thế nào để điều chỉnh chính sách cho phù hợp. Các tranh cãi dai dẵng về
cách tính giá thành và phân phối lợi nhuận giữa các tác nhân trong ngành hàng cũng là hệ quả
của vấn đề này.
(4) Chuỗi giá trị lúa gạo còn quá rời rạc, phân tán, thiếu liên kết dọc chặt chẽ
Cơ chế thu mua chế biến lúa gạo xuất khẩu hiện nay diễn ra chủ yếu theo phương thức “mua
đứt bán đoạn” giữa những tác nhân sản xuất, chế biến và thương mại trong ngành hàng và
không tồn tại liên kết dọc thật sự trong ngành hàng. Doanh nghiệp xuất khẩu căn cứ trên giá
hợp đồng, dự kiến mức lợi nhuận sau khi trừ chi phí và thuế, để định giá mua gạo từ các
doanh nghiệp cung ứng. Các doanh nghiệp cung ứng gạo xuất khẩu mà đa số là doanh nghiệp
tư nhân kiêm chức năng xay xát, lau bóng và đóng gói thành phẩm, dựa trên mức giá bán cho
doanh nghiệp xuất khẩu, dự kiến mức lợi nhuận sau khi trừ chi phí và thuế để định giá thu
mua gạo nguyên liệu (gạo lức hoặc gạo 25% tấm) từ các nhà máy xay xát trong vùng sản xuất.
Các nhà máy căn cứ trên giá mua của doanh nghiệp cung ứng gạo xuất khẩu, định giá thu mua
lúa thông qua mạng lưới thương lái thu mua lúa tươi (tại ruộng) hoặc lúa khô (tại nhà) để sấy,
xay xát đến mức gạo nguyên liệu. Thương lái thu mua lúa sẽ căn cứ vào giá đặt hàng từ các
nhà máy xay xát để định giá mua lúa của nông dân.
Từ năm 2010, mô hình “cánh đồng mẫu lớn” do Công ty Bảo vệ Thực vật An Giang thực hiện
đã được học tập và nhân rộng thêm. Đây là mô hình mang tính chất liên kết dọc chặt chẽ giữa
người sản xuất và nhà thu mua – chế biến – xuất khẩu. Đây cũng là điểm sáng của ngành lúa
gạo trong các năm qua. Từ kết quả một số nghiên cứu đánh giá so sánh mô hình cánh đồng
mẫu lớn sản xuất tư do, có thể thấy nông dân tham gia mô hình nhận được các lợi ích như 1)
giá trị doanh thu tăng; lợi nhuận và thu nhập tăng; hiệu quả kinh tế cao hơn; 2) có tư vấn kỹ
thuật, làm cho năng suất có xu hướng tăng lên; 3) có thị trường ổn định, lâu dài. Tuy nhiên, để
mô hình thành công, doanh nghiệp có vai trò quyết định và cũng không phải bất kỳ doanh
nghiệp nào cũng có thể thành công. Các yếu tố sau phải được bảo đảm để mô hình thành
công: 1) Các điều khoản hợp đồng và khả năng thi hành rất quan trọng, phải được bảo đảm
thực thi và thể hiện sự công bằng trong chia xẻ rủi ro và lợi nhuận; 2) doanh nghiệp có hỗ trợ
kỹ thuật, cung cấp vật tư chất lượng cao, có năng lực cung cấp ứng trước vốn và vật tư khi có


Chính sách vĩ mô liên quan:
-

Duy trì chính sách ổn định quy mô canh tác lúa và định hướng xuất khẩu riêng cho khu
vực Đồng bằng sông Cửu Long cần được xem xét lại tính hợp lý về sử dụng nguồn lực;

-

Chưa có chính sách cụ thể về dự trữ lương thực quốc gia gắn kết với ngành hàng lúa gạo ở
Đồng Bằng Sông Cửu Long;

-

Chính sách điều hành xuất khẩu gạo hiện nay có lợi cho doanh nghiệp, bất lợi cho nông
dân;

Từ các vấn đề hết sức đa diện như trên, có thể thấy rằng việc hoàn chỉnh cơ chế, chính sách
sản xuất, xuất khẩu lúa gạo khó có thể được thực hiện trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, dựa
trên các phân tích, có thể thấy được một số gợi ý cho điều chỉnh chính sách lúa gạo để khắc
phục những khiếm khuyết hiện nay.
Thứ nhất, Nhà nước nên cân nhắc lại việc duy trì cơ chế điều hành xuất khẩu gạo theo cách ấn
định khối lượng gạo xuất khẩu, và cách thức phân bổ chỉ tiêu cho hợp đồng xuất khẩu tập
trung. Để cân bằng các lợi ích quốc gia về khai thác lợi thế sản xuất và xuất khẩu gạo để tăng
kim ngạch xuất khẩu, bảo đảm lại lợi ích kinh tế cho nông dân và đồng thời bảo đảm giá
lương thực phù hợp cho khu vực đô thị và người tiêu dùng lương thực, việc áp dụng công cụ
thuế linh hoạt thay cho công cụ hạn ngạch vừa có tính khả thi, vừa có hiệu quả tốt hơn. Khi áp
dụng cơ chế thuế xuất khẩu, Hiệp hội lương thực sẽ quay trở về vai trò đúng đắn của một hiệp
hội ngành nghề là đại diện cho lợi ích hợp pháp của các thành viên, nghiên cứu và cung cấp
thông tin thị trường, điều phối việc xuất khẩu của các thành viên thông qua cơ chế đấu thầu

yếu ở khu vực Tây Nguyên, kế đến là Đông Nam Bộ và vùng núi phía Bắc. Theo quy hoạch
của chính phủ, đến năm 2020 Việt Nam sẽ có 500 ngàn ha cà phê, nhưng theo nguồn của
Tổng cục Thống kê, đến năm 2012 diện tích cà phê Việt Nam đã là 622 ngàn ha, trong khi số
liệu của Bộ Nông nghiệp & PTNT là 590 ngàn ha. Trong đó, Tây nguyên là khu vực trồng
chủ yếu, chiếm đến 549 ngàn ha, tương đương 89,4% tổng diện tích cà phê cả nước (hình 1).
Nhìn vào diễn tiến phát triển diện tích trồng cà phê, có thể thấy diện tích cà phê tăng đột ngột
vào năm 2000, và sau đó tăng dần từ 500 ngàn ha cho đến hơn 600 ngàn ha hiện nay. Trong
đó, cà phê vối (Robusta) chiếm hơn 95% diện tích, và cà phê chè (Arabica) chỉ chiếm 4,88%
tổng diện tích (Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm Tây Nguyên, 2012). Với năng suất bình
quân hiện nay trên 2,5 tấn cà phê nhân/ha, Việt Nam có năng suất cà phê cao nhất thế giới.
Phần lớn cà phê nhân được xuất khẩu, với lượng tăng dần nhờ tăng diện tích và năng suất
(biểu đồ 11, 12).
Năm 2012, Việt Nam đã xuất khẩu kỷ lục hơn 1,7 triệu tấn cà phê nhân, kim ngạch 3,67 tỉ
USD với mức giá bình quân xuất khẩu 2.137 USD/tấn, tăng trên 30% cả về lượng và kim
ngạch so với năm 2011. Để đạt được kết quả trên trước hết là do diện tích thu hoạch cà phê đã
tăng liên tục trong những năm qua. Ngoài ra, điều kiện thời tiết cộng với cơ chế thương mại
và tạm trữ phù hợp cũng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho ngành cà phê đạt tăng trưởng
cao (Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại4, 2013). Ngoài ra, theo Hiệp hội Cà
phê Ca cao Việt Nam (Vicofa), do suy thoái kinh tế toàn cầu, các nhà máy chế biến và người
tiêu dùng trên thế giới chuyển sang dùng cà phê Robusta để giảm chi phí. Nhờ dó, ngành cà
phê Việt Nam đã đem lại sinh kế quan trọng cho hàng trăm ngàn hộ gia đình nông dân, và tạo
ra nhiều cơ hội việc làm trong ngành thương mại và chế biến cà phê.
Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, có khoảng 373 doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào
hoạt động thương mại và xuất khẩu cà phê. Các doanh nghiệp có quy mô lớn chỉ chiếm 5% số
4

Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại. (2013). Xuất khẩu cà phê đạt kỷ lục mới trong năm 2012.
/>21



dể ngăn chặn việc trồng cà phê tự phát, dẫn đến tình trạng di dân tự do và nông dân địa
phương tự ý phá rừng trồng cà phê. Nhiều diện tích cà phê được trồng trên chân đất dốc, xói
mòn, bạc màu, hoặc thiếu nguồn nước tưới, dẫn đến năng suất và chất lượng thấp, hiệu quả
kinh tế không cao. Nông hộ thường sử dụng nước ngầm để tuới cà phê trong mùa khô, góp
phần dẫn đến tình trạng suy thoái nước ngầm nghiêm trọng ở vùng Tây Nguyên. Nông dân
cũng có xu hướng thâm canh quá mức, và sử dụng sai cách các hóa chất nông nghiệp như
dùng quá nhiều phân bón hoặc bảo vệ thực vật không hợp lý, dẫn đến chi phí sản xuất quá
cao. Thông thường, chi phí hàng năm cho cà phê Tây Nguyên từ 40-50 triệu đồng/ha, tính cả
chi phí nhân công thu hoạch. Vì vậy, gánh nặng về vốn vay của nông hộ càng nặng nề hơn.
Thứ hai, các vùng trồng cà phê thường thiếu nhân công thu hái, đồng thời an ninh trong mùa
thu hoạch không được bảo đảm. Tệ nạn trộm cướp cà phê không được chính quyền địa
phương ngăn chặn hiệu quả, trong khi mùa thu hoạch diễn ra tương đối ngắn (dưới 30 ngày),
nên hầu hết nông hộ đều phải thu hái khi tỷ lệ cà phê chín mới khoảng 70%. Tình trạng này
làm cho tỷ lệ quả xanh nhiều, tăng tỷ lệ tạp chất, và giảm chất lượng cà phê nhân trong quá
trình phơi, xay xát và bảo quản. Nông hộ thường không trang bị đầy đủ sân phơi, thiếu máy
sấy trong khi cà phê thường được thu hoạch vào cuối mùa mưa. Chính vì vậy, phẩm chất cà
phê nhân càng khó kiểm soát. Do hệ thống thương lái thu mua cà phê không phân loại, và
phân theo phẩm chất hạt nên nông dân cũng không có động cơ để phân loại hạt cũng như hái
cà phê chín để nâng cao phẩm chất cà phê nhân.
Ở cấp độ thương lái. Thương lái cà phê chủ yếu đóng vai trò trung gian, thực hiện chức năng
thu gom cà phê hạt hoặc cà phê nhân và bán lại cho các doanh nghiệp thu mua – xuất khẩu cà
phê nhân. Hệ thống thương lái cũng chỉ mua cà phê nhân không phân loại, phân hạng theo
phẩm chất theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc tiêu chuẩn quốc tế. Các thương lái cũng thường
thiếu kho chứa, sân phơi và phương tiện sấy đạt chuẩn nên chất lượng cà phê nhân cũng giảm
trong quá trình thu mua, dự trữ.
Ở cấp độ doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thu mua – xuất khẩu cà phê chủ yếu dựa vào hệ
thống thương lái và đại lý thu gom cà phê để thu mua cà phê nhân. Các doanh nghiệp này chủ
yếu cũng thu mua cà phê không phân loại, phân hạng và xuất khẩu cho các nhà thu mua trung
gian. Nguyên nhân chính yếu là các nhà thu mua quốc tế không muốn mua cà phê nhân Việt
Nam với chất lượng cao, mà chỉ mua cà phê chưa phân loại phân hạng với giá thấp và tái chế

khẩu của Việt Nam luôn bị phàn nàn về chất lượng xấu, có lúc bị thải loại đến 60%, giá bị
giảm 100 USD-200 USD/tấn, có lúc lên đến 600 USD/tấn tại London. Mặt khác, do việc áp
dụng tiêu chuẩn là tự nguyện (theo Luật tiêu chuẩn và qui chuẩn kỹ thuật), nên cho đến nay
rất nhiều doanh nghiệp vẫn duy trì phân hạng cà phê theo 3 tiêu chí: thủy phần %, đen vỡ %,
tạp chất % mà không áp dụng tiêu chuẩn Nhà nước ban hành (VnEconomy, 2010)5.
(2) Các vấn đề nhìn từ góc độ sản xuất: tình trạng già cỗi dần của các vùng trồng cà phê,
và thiếu vốn trồng tái canh cà phê
Theo số liệu ở biểu đồ 11, có đến 265 ngàn ha cà phê Việt Nam được trồng từ năm 1998 trở
về trước, có nghĩa là từ 15 tuổi trở lên. Diện tích cà phê già cỗi từ 140-160 ngàn ha và cần
được thay thế trong vài năm tới. Theo Cục Trồng trọt-Bộ Nông nghiệp &PTNT, cả nước hiện
có khoảng 86 ngàn ha trên 20 năm tuổi (15%), 140 ngàn ha từ 15 đến 20 năm tuổi (25%). Đối
với vườn cà phê già quá 20 tuổi năng suất bắt đầu giảm thấp, kích cỡ và chất lượng hạt giảm.
Chính vì vậy, tỷ lệ diện tích vườn cà phê già cỗi quá cao sẽ tác động trực tiếp đến năng suất,
sản lượng, chất lượng và chi phí của hộ trồng cà phê. Chỉ riêng tỉnh DakLak, diện tích cà phê
già cỗi hơn 65 ngàn ha trong tổng số 202 ngàn ha. Với chi phí đầu tư ước tính 80 triệu đồng
cho năm đầu tiên, từ 40-50 triệu đồng cho mỗi năm tiếp theo, tổng chi phí cần cho 1 ha cà phê
trồng mới có thể lên đến 150-200 triệu đồng. Như vậy, số tiền toàn ngành cần cho trồng mới
5

Trần Lê. (2010). Tiêu chuẩn hóa cà phê xuất khẩu, bao giờ?
/>24


cho 200 ngàn ha sẽ từ 1,4 đến 1,9 tỷ USD trong vòng 5 năm, chưa kể kinh phí giải quyết đời
sống của người trồng cà phê trong những năm tái canh. Đây là số tiền khổng lồ mà với tình
hình kinh tế hiện nay, chính phủ và cả ngành cà phê gần như không có biện pháp giải quyết.
Những tồn tại trên là những thách thức to lớn mà ngành cà phê Việt Nam khó có thể giải
quyết trong thời gian ngắn, nhất là trong điều kiện suy thoái kinh tế, thiếu vốn đầu tư như hiện
nay. Nếu không có những giải pháp sáng tạo, huy động được vốn đầu tư từ nhiều nguồn trong
và ngoài nước, từ các thành phần kinh tế trong xã hội, và từ ngân sách để kịp thời giải quyết

Các nước châu Á đóng vai trò chính trong việc tiêu thụ cao su thiên nhiên (Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ) và là nhân tố quyết định giá. Cao su thiên nhiên chiếm 40-44% tổng
lượng cao su thế giới, còn lại là cao su nhân tạo (có nguồn gốc dầu mỏ). Vì vậy giá phụ thuộc
vào giá dầu mỏ. Giá dầu mỏ cao làm cho giá cao su nhân tạo tăng, dẫn đến giá cao su tự nhiên
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status