1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯC
NGUYỄN THANH TÂN
NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH MẮC BỆNH
VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN TÀN TẬT Ở BỆNH NHÂN PHONG MỚI
TẠI BỐN TỈNH TÂY NGUYÊN NĂM 2006 - 2007
LUẬN ÁN CHUYÊN KHOA CẤP II
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
P
TS. NGUYỄN DUNG.
HUẾ - 2008
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
BỘ Y TẾ
lẫn tinh thần. Chính tàn tật trong bệnh phong là nguyên nhân của mọi kỳ thị
trong cộng đồng tới những ai không may mắc bệnh này.
Ngày nay nhờ những phát hiện về miễn dịch học, vi khuẩn học, thuốc
điều trị, phục hồi chức năng và tuyên truyền giáo dục y tế, cục diện phòng
chống phong trên thế giới và ở Việt Nam đã thay đổi rất lớn.
Ở Việt Nam, chương trình phòng chống phong đã trở thành chương trình
y tế Quốc gia từ năm 1995. Sau hơn 10 năm thực hiện chương trình, ngành Da
liễu Việtnam đã góp phần quan trọng làm cho tỷ lệ lưu hành bệnh giảm xuống
một cách đáng kể. Cả nước đã điều trị khỏi cho trên 30.000 người mắc bệnh
phong. Tuy nhiên trong số này có khoảng hơn 18.000 người phong bị tàn tật
sống rãi rác trên mọi miền đất nước. Bệnh phong phân phối không đều ở nước
ta. Ở phía Bắc tỷ lệ phát hiện, tỷ lệ lưu hành đã giảm xuống thấp dưới mức cho
phép. Nhưng ở các tình nam Trung bộ, Tây nguyên tỷ lệ lưu hành, tỷ lệ phát
hiện và tỷ lệ người mắc bệnh phong bị tàn tật còn cao, khiến cho ngành Y tế,
ngành Da liễu vẫn phải quan tâm. Tỷ lệ phát hiện bệnh phong trên cả nước năm
2005 là 0,90/0.000, năm 2006 là 0,790/0.000. 4 tỉnh Tây nguyên (Kon Tum, Gia Lai,
Đắc Lắc, Đắc Nông) tỷ lệ phát hiện năm 2005 là 3,550/0.000, năm 2006 là
2,650/0.000. Tỷ lệ tàn tật độ 2 trên cả nước năm 2005 là 16,22%, năm 2006 là
17,57%. Tại 4 tỉnh Tây nguyên tỷ lệ này năm 2005 là 14,29%, năm 2006 là
19,15%.
4
Ngành Da liễu đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn, luận án về
các lĩnh vực khác nhau trong bệnh phong, trong đó tập trung chủ yếu về tỷ lệ
tàn tật, các loại hình tàn tật trong bệnh phong ở một số địa phương và các vùng
lãnh thổ khác nhau.
Tại Tây nguyên, bệnh phong vẫn còn là vấn đề quan tâm của y tế công
cộng. Ở Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về bệnh phong được
công bố, tuy nhiên những nghiên cứu một cách hệ thống về các thể phong, các
+ Dát.
+ Mảng củ.
+ Mảng thâm nhiểm.
+ Mảng thâm nhiểm đa dạng.
+ U phong.
Năm loại tổn thương da nói trên, còn được đề cập đến hai đặc điểm của
tổn thương, đó là:
+ Tổn thương vệ tinh.
+ Tính chất đối xứng của tổn thương.
Giảm và mất cảm giác ở các tổn thương da.
- Đặc điểm cận lâm sàng:
+ Xét nghiệm vi khuẩn học.
+ Xét nghiệm mô bệnh học.
6
2.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu về đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu; Nghiên cứu về
đặc điểm lâm sàng; Nghiên cứu về một số đặc điểm về tàn tật; Và nghiên cứu
về một số yếu tố liên quan đến tàn tật của bệnh phong mới được tiến hành tại
cộng đồng, nơi sinh sống của bệnh nhân, trong bốn tỉnh Kon Tum, Gia Lai,
Đắc Lắc và Đắc Nông.
- Nghiên cứu về vi khuẩn học và mô bệnh học được tiến hành tại khoa
xét nghiệm của Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hòa.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.3.2. Kỹ thuật nghiên cứu
hạt đậu xanh, sờ nắn thấy chắc. Củ có thể đứng rãi rác hoặc liên kết lại thành
mảng. Mảng củ thường có ranh giới rõ, bờ nổi cao, vùng trung tâm như lõm
xuống.
Xác định mảng củ cũng bằng phương pháp khám lâm sàng và đo kích
thước của củ.
- Mảng thâm nhiễm:
Mảng thâm nhiễm là những tổn thương nhô cao hơn mặt da, giới hạn
giữa da lành và bệnh nhiều khi không rõ, không có xu hướng lành giữa, có
hiện tượng đục lỗ ở trung tâm. Hình tròn hay hình bầu dục, màu đỏ thâm.
Xác định mảng thâm nhiễm bằng khám lâm sàng.
- Mảng thâm nhiễm đa dạng:
Mảng thâm nhiễm đa dạng là những tổn thương có nhiều kích thước và
màu sắc khác nhau trên đó thường xuất hiện những cục phong và có thể có u
cục phong. Sờ vào tổn thương thấy mật độ hơi chắc so với vùng da lành.
Xác định mảng thâm nhiễm đa dạng bằng khám lâm sàng.
- U phong:
U phong là tổn thương của phong ác tính. Hình dáng của u cũng khác
nhau, có khi như sẩn nổi cao trên mặt da, có khi là cục ăn sâu vào trung bì. Có
khi các u phong liên kết với nhau tạo thành những mảng cộp và không có giới
hạn.
8
Xác định u phong bằng khám lâm sàng.
- Tổn thương vệ tinh:
Bên cạnh những tổn thương là mảng củ, có khi là mảng thâm nhiễm,
còn có những tổn thương vệ tinh, có đường kính từ 0,5 đến 2 cm, cách tổn
thương từ 3 đến 30 cm. Tổn thương này như một ốc đảo. Số lượng tổn thương
vệ tinh có thể là 1 và có thể là 2 hay 3.
- Tính chất đối xứng:
tham gia của bệnh nhân phong. Nguyên nhân suy yếu, giới hạn và hạn chế
tham gia của bệnh nhân phong là do bệnh lý của phong.
- Xác định tàn tật
+ Tàn tật mắt:
Khi có tổn thương dây thần kinh số 5 và số 7, sẽ làm liệt các cơ khép
mi mắt. Biểu hiện của liệt cơ khép mi mắt là: Mắt nhắm không kín, hở mi,
mất cảm giác giác mạc, mất phản xạ chớp mắt, giác mạc khô.
Xác định mất cảm giác giác mạc bằng một tăm bông, đầu tăm bông có
diện tích 0,5mm2. Khi kéo đi kéo lại sợi tăm bông trên đó, mắt mất cảm giác
giác mạc sẽ không có phản xạ chớp mắt, khép mắt và chảy nước mắt. Nếu có
mất cảm giác sẽ tiến hành đo thị lực; Phương pháp đơn giản nhất là yêu cầu
bệnh nhân đếm năm đầu ngón tay ở khoảng cách 6 m, nếu bệnh nhân không
đếm được là biểu hiện của giảm thị lực.
+ Tàn tật ở tay:
Tàn tật ở tay chủ yếu là bàn tay bị mất cảm giác, ngón tay cò do tổn
thương các cơ liên cốt và cơ giun. Xác định tàn tật ở tay gồm có:
- Thử cảm giác ở 10 điểm trên lòng bàn tay.
- Ngón tay cò: Đo độ duỗi các khớp bàn tay và ngón tay. Yêu cầu bệnh
nhân duỗi ngón tay và cầm nắm các dụng cụ có đường kính từ
5-10cm.
+ Tàn tật ở chân:
Tàn tật ở chân thường biểu hiện ngón chân cò và chân cất cần. Xác
định ngón chân cò cũng như xác định ngón tay cò. Chân cất cần là do tổn
thương dây thần kinh hông khoeo ngoài. Dây thần kinh này chi phối múi cơ
cẳng chân trước, chúng làm nhiệm vụ gấp bàn chân và duỗi các ngón chân.
Xác định chân cất cần với hình thức khám lâm sàng phổ thông nhất là: Thử độ
nẩy của bàn chân vào lòng bàn tay của thầy thuốc và quan sát khi bệnh nhân
đi.
2.3.2.6. Kỹ thuật xét nghiệm vi khuẩn học
Chai màu loại 500ml.
Xanh Methylen.
Cân.
Giá cằm tiêu bản.
11
- Cách tiến hành:
+Vị trí lấy bệnh phẩm:
Bệnh nhân phong thể nhiều vi khuẩn: Vị trí lấy bệnh phẩm ở 3 vị
trí, trong đó bao gồm: 1 dái tai và 2 tổn thương đang hoạt tính ở
bất cứ vị trí nào trên xơ thể bệnh nhân.
Bệnh phong thể ít vi khuẩn: Đối tượng bệnh nhân này thường có
ít tổn thương da. Do đó việc chọn tổn thương để lấy bệnh phẩm
thường gặp khó khăn. Vì vậy, phải chọn xem vị trí nào của tổn
thương là hoạt tính nhất và lấy bệnh phẩm được tiến hành ở dái
tai và một trong những tổn thương đang hoạt tính nhất. Nên lấy
bệnh phẩm ở bờ của tổn thương.
+ Kỹ thuật lấy bệnh phẩm:
Lấy bệnh phẩm để làm phiến đồ ở nơi đầy đủ ánh sáng để có thể dễ
dàng quan sát các tổn thương, màu sắc của chúng và mức độ hoạt tính, vì vậy
bệnh nhân nên ngồi ở các vị trí nhiều ánh sáng để tiến hành lấy bệnh phẩm.
+ Phương pháp rạch da:
Vùng da chọn lấy bệnh phẩm phải được làm sạch bằng bông tẩm cồn
xát trùng, sau đó để khô.
Dùng ngón trỏ và ngón cái nâng vùng da định lấy bệnh phẩm và
kẹp chặt lại. Để làm ngưng hoặc giảm chảy máu đến mức tối
thiểu phải duy trì áp lực sao cho vùng phần da bị kẹp trắng ra sau
ít giây.
Dùng dao mổ vô trùng và đủ sắc rạch một đường dài 5 - 7 mm
bào.
+ Bảo quản và vận chuyển tiêu bản bệnh phẩm:
Tất cả các lam kính có chứa bệnh phẩm phải được bảo quản trong hộp
để chống ẩm, côn trùng và ánh sáng mặt trời.
Sau đó bó lại từng bó, nhiều bó được đóng gói lại với nhau một cách
chắc chắn và cẩn thận.
+ Pha thuốc nhuộm:
Dung dịch Fuchsin mẹ:
°
Fuchsin kiềm 3g.
°
Cồn 700 100ml.
13
Cho 3 gram fuchsin vào cối nghiền cho thật nhỏ.
Cho cồn 700 từ từ vào cối và khuấy cho tan hết (trừ lại một ít cồn để
tráng chày, cối).
Lọc dung dịch và bảo quản ở lọ màu tối. Ghi nhãn và cất giữ ở tủ lạnh
là tốt nhất.
Dung dịch pheno l 5%:
°
Phenol tinh thể 5g.
°
°
Xanh Methylen 0,3g.
°
Nước cất 100ml.
Cân 0,3g Xanh Methylen cho vào cối nghiền nhỏ. Cho nước cất
vào và tiếp tục nghiền cho tan hết. Lọc dung dịch và bảo quản ở lọ màu.
°
+ Kỹ thuật nhuộm tiêu bản:
Vì thành phần cấu tạo của vi khuẩn có nhiều Photpholipid và có một
lớp sáp mỡ bao bọc màng tế bào. Nhưng khi dùng một thuốc nhuộm mạnh
(Fuchsin có acid phenic của Ziehl) và làm cho sự tiếp xúc được dễ dàng bằng
cách ngâm kéo dài. Những Mycobacterium sau khi đã bắt màu thuốc nhuộm
này sẽ giữ màu rất chắc dù có tẩy bằng một acid vô cơ mạnh và cồn. Trong
14
khi các vi khuẩn khác và các tế bào đều bị mất màu hoàn toàn. Lúc đó
Mycobacterium xuất hiện dưới kính hiển vi với màu đỏ. Do đó các
Mycobacterium còn được gọi là “Trực khuẩn kháng cồn, kháng acid”.
+ Tiến hành nhuộm tiêu bản:
Nhuộm tiêu bản với thuốc nhuộm kháng acid đòi hỏi người xét nghiệm
viên phải có kinh nghiệm, thận trọng. Nếu tiêu bản bệnh phẩm hơ quá nóng sẽ
làm biến dạng vi khuẩn và tế bào, điều đó dẫn đến sự sai lệch về đánh giá kết
quả. Nhuộm theo phương pháp Ziehl - Neelsen cổ điển:
Phủ các tiêu bản bằng Fuchsin kiềm.
BI = 0(âm tính): Không thấy vi khuẩn nào trong 100 vi trường.
BI = 1(+): Thấy 1 - 10 vi khuẩn trong 100 vi trường.
BI = 2(+): Thấy 1 - 10 vi khuẩn trong 10 vi trường.
BI = 3(+): Thấy 1 - 10 vi khuẩn trong 1 vi trường.
BI = 4(+): Thấy 10 - 100 vi khuẩn trong 1 vi trường.
BI = 5(+): Thấy 100 - 1000 vi khuẩn trong 1 vi trường.
BI = 6(+): Thấy trên 1000 vi khuẩn trong 1 vi trường.
2.3.2.7. Kỹ thuật xét nghiệm mô bệnh học
- Chỉ định: Tất cả bệnh nhân trên lâm sàng được chẩn đoán là phong
và có sự đồng ý của họ đều có chỉ định lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm mô
bệnh học.
- Phương tiện và dụng cụ:
Bông, cồn: Cồn tuyệt đối và cồn 700.
Bơm tiêm vô trùng.
Gạc vô trùng, băng keo.
Kẹp phẫu tích, găng tay vô trùng.
Cán và lưỡi dao mổ.
Lọ đựng bệnh phẩm, khoan sinh thiết.
Khay hạt đậu, khay đựng dụng cụ.
Betadin, lindocain 2%, formol 10%.
Thuốc nhuộm Hematoxilin - Eosin, nhuộm Periodic Acid Schiff.
16
Xilen.
- Các bước tiến hành:
+ Chuẩn bị bệnh nhân.
Giải thích cho bệnh nhân.
Cho bệnh nhân nằm lên giường.
Phút; Ngâm vào Xilen III 1 Phút; Gắn Lamen bằng keo Canada.
- Nhận định kết quả:
17
+ Một tiêu bản đạt yêu cầu: Nhân tế bào: Xanh đến xanh đen; Bào
tương: Hồng đến đỏ; Hồng cầu: Hồng đậm; Sợi tạo keo: Hồng nhạt.
+ Xác định kết quả mô bệnh học theo Phillip H Mekee [59] và
Thangaraj R.H.- Yawalkar S.J [71]:
Phong thể TT:
Thượng bì: bình thường.
Trung bì: Có sự xâm nhập của các nang phong điển hình, gồm:
Một số tế bào đa nhân khổng lồ có kích thước lớn, nhiều tế bào
bán liên và Lympho bào nằm xung quanh, chủ yếu là Lympho T.
Khi quan sát nang phong có thể thấy nang phong xâm nhập sát
vào thượng bì, có khi phá vỡ một phần lớp đáy của thượng bì. Nang phong
xâm nhập các phần phụ của da như tuyến mồ hôi, tuyến bã, nang lông, cơ
dựng lông, đặc biệt là xâm nhập vào dây thần kinh.
Phong thể BT:
Thượng bì bình thường.
Trung bì: Có sự xâm nhập của các nang phong. Nang phong
gồm: các tế bào đa nhân khổng lồ có kích thước nhỏ, xung quanh
chủ yếu là tế bào bán liên, cùng với một số lượng trung bình
Lympho bào nằm xen lẫn trong nang phong.
Nang phong xâm nhập xung quanh các huyết quản và các thành
phần phụ của da.
Phong thể BB:
Thượng bì teo.
Trung bì: Có sự xâm nhập lan toả của nhiều tế bào bán liên, mô
°
Thượng bì teo đét thành một đường thẳng.
°
Trung bì: Các tế bào xâm nhập trung bì một cách lan toả, cách
thượng bì một dãi sáng. Thâm nhiễm chủ yếu là các đại thực bào, có
rất ít hoặc không có tế bào Lympho. Bào tương của các đại thực bào
có nhiều hốc, tạo thành tế bào bọt, hoặc là những hốc lớn gọi là tế
bào Virchow, tế bào Virchow có chứa nhiều bó M.Leprae. Tổn
thương thần kinh là tổn thương dạng lớp, giống củ hành.
Phong thể I:
°
Thượng bì bình thường.
°
Trung bì: Là hình ảnh của một viêm da không đặc hiệu, gồm
các bạch cầu đơn nhân xâm nhập quanh các huyết quản của trung bì
nông hay quanh các sợi thần kinh. Rất hiếm khi nhìn thấy trực
khuẩn ở thể này.
2.3.2.8. Một số yếu tố liên quan đến tàn tật ở bệnh nhân phong mới
- Yếu tố liên quan đến tàn tật ở bệnh nhân phong mới là yếu tố có ảnh
hưởng đến tình trạng suy yếu, giới hạn hoạt động và hạn chế tham gia của
bệnh nhân phong.
Chúng tôi tiến hành thăm khám và ghi nhận các yêu tố ở bệnh nhân bao
phong có điều trị được không?).
+ Mặc cảm về bệnh phong: Hỏi bệnh nhân khi mắc bệnh có xa lánh
người xung quanh hay người xung quanh có xa lánh không.
+ Điều tra nơi ở của bệnh nhân có hay không có y tế thông bản: Hỏi
bệnh nhân và kiểm tra lại ở trạm y tế.
+ Điều tra khoảng cách từ nhà ở của bệnh nhân đến trạm y tế xã,
tính bằng giờ đi bộ: Hỏi bệnh nhân thời gian đi bộ đến trạm y tế
xã mỗi lần đi hết bao nhiêu giờ.
20
+ Viêm dây thần kinh ngoại biên: Khám lâm sàng thấy dây thần
kinh sưng, nóng, đau và da hơi đỏ. Có thể yếu cơ, liệt cơ, mất
cảm giác một phần hay toàn bộ lòng bàn tay, bàn chân.
+ Bệnh nhân có phản ứng phong hay không:
Xác định phản ứng phong loại I: Thương tổn củ tự nhiên tấy đỏ, bờ tổn
thương nổi cao hơn, có thể phù nề và loét; Có thể xuất hiện các thương tổn
mới; Phù bàn chân, bàn tay;
Xác định phản ứng phong loại II: Các cục hay nút đỏ (nodule) dưới da. Nút
to bằng hạt ngô, có thể lớn hơn hạt ngô, có thể liên kết với nhau thành từng mảng;
Sờ rắn, ấn đau; Vị trí ở tứ chi; Ở cẳng chân không bao giờ gặp ở mặt trước xương
chày; Có thể gặp ở mặt, cổ, thân mình. Có thể kèm theo triệu chứng đau dây thần
kinh, phù tay chân...
2.4. XỬ LÝ SỐ LIỆU
Xử lý số liệu theo chương trình Epi-info 6.04.
21
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
42,68%
Nö õ
57,32%
Nam
Biểu đồ 3.1. Phân bố bệnh nhân phong mới theo giới tính
Nhận xét:
Cả nam giới và nữ giới đều mắc bệnh phong. Trong đó, bệnh nhân
phong mới là nam giới chiếm tỷ lệ 57,32% và nữ giới là 42,68%. Tỷ lệ
nam/nữ=1,34/1.
22
3.1.1.2. Bệnh nhân phong theo tuổi
Bảng 3.2. Tỷ lệ bệnh nhân phong mới theo tuổi
Nhóm tuổi
< 15 tuổi
15 - 29 tuổi
30 - 44 tuổi
45 - 59 tuổi
≥ 60 tuổi
Chung
SL
17
56
42
27
22
SL
64
32
16
12
10
8
7
5
5
3
2
164
TL (%)
39,02
19,51
9,75
7,32
6,10
4,88
4,27
3,05
3,05
1,83
1,22
100
Nhận xét:
Trong số 164 bệnh nhân phong mới, chúng tôi thấy xuất hiện dân tộc
phong mi
(n=78)
0
/0.000
Kon tum
383.100
30
8,67
383.100
24
6,94
Gia Lai
1.161.700
46
4,38
1.161.700
c Nụng
10
Tyỷổeọ0/0000
9
8.67
2006
2007
8
6.94
7
6
5
4.38 4.29
4
3
1.24 1.24
2
1
SL
TL (%)
LL
8
4,88
BL
23
14,02
24
BB
13
7.93
BT
88
53.66
20
10
14.02
8.54
4.88
1.83
0
LL
BL
BB
BT
TT
Phah
n ổộaù
i
I
Biu 3.3. Phõn b bnh nhõn phong mi theo phõn loi
Ridley Jopling
Nhn xột:
Trong các loại tổn thương da, tổn thương mảng củ chiếm tỷ lệ cao nhất
(65,85%), tổn thương mảng thâm nhiễm đa dạng cao thứ 2 (23,17%), tổn
thương ít gặp nhất là mảng thâm nhiễm (3,05%). Tổn thương dát là tổn
thương sớm nhất của bệnh phong, chiếm tỷ lệ là 10,98%.
3.1.2.3. Tổn thương dát
Bảng 3.7. Tỷ lệ tổn thương dát của bệnh nhân phong mới theo phân
loại Ridley Jopling
Phân loại
Tổng số BN
LL
BL
BB
BT
TT
I
Chung
8
23
13
88
29
3
164
Dát
n
0