SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TEACCH ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG TỰ LẬP CHO THANH THIẾU NIÊN RỐI LOẠN PHỔTỰ KỶ - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT
*************

NGUYỄN THANH HẢI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP TEACCH ĐỂ NÂNG CAO
KỸ NĂNG TỰ LẬP CHO THANH THIẾU NIÊN
RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ

CHUYÊN NGÀNH: GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ

Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Nữ Tâm An

Hà Nội, năm 2015


LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc của mình em xin gửi lời cảm ơn
đến Tiến Sĩ Nguyễn Nữ Tâm An - người đã trực tiếp hướng dẫn, ủng hộ và
động viên em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Giáo dục Đặc
biệt - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã dạy dỗ, hướng dẫn em trong suốt
quá trình em học tập tại khoa và cung cấp tài liệu giúp em hoàn thành khóa
luận.
Em xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc - Ban Giám hiệu, các GV,
nhân viên của Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng trẻ khuyết tật trí
tuệ Khánh Tâm và Trung tâm Phúc Tuệ đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện
cho em thực hiện tốt khóa luận này.


HS

Học sinh


MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG


DANH MỤC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Con người từ khi sinh ra và lớn lên theo thời gian sẽ hình thành ở bản
thân kỹ năng tự lập cần thiết để tồn tại, thích nghi và phát triển. Kỹ năng tự
lập là tổng hợp của những kỹ năng đơn lẻ quan trọng như: tự phục vụ, lao
động đơn giản, rèn luyện thể lực và vui chơi giải trí... Vì thế, kỹ năng tự lập
đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi cá nhân, đặc biệt từ độ tuổi
thanh thiếu niên – tuổi trưởng thành cả về thể chất và tâm lý để có thể bắt đầu
cuộc sống tự lập. Tuy nhiên, với thanh thiếu niên RLPTK, việc phát triển kỹ
năng tự lập gặp nhiều khó khăn hơn so với thanh thiếu niên bình thường vì
những hạn chế nhất định về các mặt như: nhận thức, giao tiếp, hành vi hay
những nguyên nhân khác, ví dụ : ảnh hưởng từ môi trường sống, thiếu cơ hội
hòa nhập… Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở vật chất ở các trường, trung tâm
chưa đồng bộ, mô hình giáo dục đặc biệt cho đối tượng RLPTK hiện nay chủ
yếu tập trung vào độ tuổi Mầm non và tuổi Tiểu học mà chưa có nhiều mô
hình giáo dục dành cho lứa tuổi thanh thiếu niên. Vì vậy, việc chú trọng phát

3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên RLPTK.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Sử dụng phương pháp TEACCH để nâng cao kỹ năng tự lập cho thanh
thiếu niên RLPTK.
4. Giả thuyết khoa học
Thanh thiếu niên RLPTK gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh
hoạt hàng ngày. Nguyên nhân chính là vì các em còn yếu về một số kỹ năng
cơ bản như: kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng lao động đơn giản,… Vì thế, thanh
thiếu niên RLPTK cần được hướng dẫn bằng phương pháp dạy học chuyên
biệt để hình thành và nâng cao những kỹ năng cơ bản, từ đó có được kỹ năng
tự lập cần thiết. Nếu được sử dụng hiệu quả phương pháp TEACCH sẽ nâng
7


cao kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên RLPTK giúp các em tự chăm sóc bản
thân, thích nghi môi trường và hòa nhập cộng đồng.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài: Khái niệm
RLPTK, đặc điểm tâm lý, vấn đề kỹ năng tự lập của thanh thiếu niên RLPTK
và ứng dụng phương pháp TEACCH.
5.2. Tìm hiểu thực trạng: Sử dụng phương pháp TEACCH trong quá
tình hình thành và nâng cao kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên RLPTK tại cơ
sở khảo sát.
5.3. Đề xuất và thực nghiệm: Sử dụng phương pháp TEACCH để nâng
cao kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên RLPTK.
6. Phạm vi nghiên cứu
6.1. Nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu sử dụng phương pháp
TEACCH vào quá trình hình thành và phát triển kỹ năng tự lập cho thanh
thiếu niên RLPTK (bao gồm các kỹ năng cơ bản: tự phục vụ, lao động đơn

của phương pháp TEACCH để nâng cao kỹ năng tự lập, cụ thể là: kỹ năng tự
phục vụ, lao động đơn giản, rèn luyện thể lực và vui chơi giải trí cho 02 thanh
thiếu niên RLPTK, từ đó có cơ sở mở rộng địa bàn hơn nữa.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Sử dụng công cụ thống kê toán học để xử lý các số liệu từ khảo sát,
thực nghiệm bằng thống kê theo tần suất, điểm trung bình, xếp thứ bậc làm cơ
sở cho việc rút ra kết luận về thực tiễn và thực nghiệm.

9


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
TEACCH ĐỂ NÂNG CAO KỸ NĂNG TỰ LẬP CHO
THANH THIẾU NIÊN RLPTK
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.1. Trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới RLPTK ngày càng được phát hiện nhiều hơn và đã
trở thành "căn bệnh của thời đại", thu hút sự quan tâm của không chỉ các nhà khoa
học trong lĩnh vực Giáo dục Đặc biệt mà còn tốn nhiều giấy mực của các nhà
khoa học ở các lĩnh vực khác như Tâm lý học, Y học và Giáo dục học.
Đi đầu trong lĩnh vực này là công bố của Jean Marc Itard (1774 – 1838)
- bác sĩ người Pháp, ông đã nghiên cứu về trường hợp của cậu bé “hoang dã”
Victor vào tháng 1 năm 1801. Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả
năng hiểu và biểu đạt ngôn ngữ, không có khả năng giao tiếp về mặt xã hội và
không có khả năng nhận thức như trẻ bình thường, cách ứng xử xa lạ với cuộc
sống của con người.
Nối tiếp nghiên cứu trên của Itard là nghiên cứu của nhà tâm lý học
người Mỹ - Lighner Witmer cũng viết về một cậu bé có tên Don với những

đây đã can thiệp cho 5000 cá nhân tự kỷ ở các độ tuổi khác nhau.
Vào những năm 1990, TEACCH bắt đầu được phổ biến một cách rộng
rãi tại Anh. Kể từ đó đến nay, hiệp hội các chuyên gia sử dụng TEACCH tại
Anh đã phối hợp với Division TEACCH tiến hành đào tạo cho hơn 15.000
12


cha mẹ và chuyên gia về TEACCH, báo cáo về hiệu quả của TEACCH ở Anh
được chứng minh cả ở môi trường giáo dục chuyên biệt và giáo dục hòa nhập.
1.1.1.2. Ở Việt Nam
Công tác giáo dục cho trẻ có nhu cầu đặc biệt đã xuất hiện từ lâu đời
nhưng RLPTK chỉ mới thực sự biết đến từ những năm đầu của thể kỷ XXI và
các nghiên cứu, các đề tài luận án, luận văn, sách báo, tạp chí... về RLPTK
cũng chỉ mới được tiến hành, xuất bản trong những năm gần đây.
Năm 2002, tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân người Úc gốc Việt đã lần lượt
xuất bản cuốn sách "Nuôi con bị Tự kỷ", "Để hiểu chứng Tự kỷ" và cuốn "Tự
kỷ và trị liệu" năm 2006, nội dung của những cuốn sách giúp người đọc hiểu
rõ về rối loạn Tự kỷ ở trẻ em, giúp cho các phụ huynh biết cách chăm sóc, trị
liệu cho con RLPTK.
Tác giả Nguyễn Văn Thành đã xuất bản cuốn sách "Trẻ em tự kỷ và
phương thức giáo dục” năm 2006, cuốn sách cung cấp kiến thức về cách
chăm sóc và nuôi dạy trẻ RLPTK.
Năm 2008, tác giả Đào Thu Thủy với đề tài “Xây dựng bài tập phát
triển giao tiếp tổng thể cho trẻ Tự kỷ tuổi mầm non”. Đề tài đã thiết kế 20 bài
tập phát triển giao tiếp cho trẻ có RLPTK từ 24 – 36 tháng tuổi dành cho phụ
huynh. Tuy nhiên, chưa tiến hành thực nghiệm để kiểm nghiệm tính khả thi
của các bài tập phát triển giao tiếp tổng thể cho trẻ có RLPTK tuổi mầm non.
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến có công trình nghiên cứu “Nhu cầu
của cha mẹ có con Tự kỷ” trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu giữa ba nước
Nhật Bản - Trung Quốc - Việt Nam. Năm 2013, bà cũng đã công bố cuốn

nâng cao kỹ năng tự lập cho thanh thiếu niên RLPTK giúp các em thích nghi
và hòa nhập cộng đồng.
14


1.1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.1.2.1. Khái niệm lứa tuổi thanh thiếu niên
Theo định nghĩa của Tổ Chức Y Tế Thế Giới, thanh thiếu niên nằm trong
độ tuổi từ 10 đến 19, ở Việt Nam, thanh thiếu niên có độ tuổi từ 13 đến 24.
Thanh thiếu niên là thuật ngữ chung chỉ lứa tuổi thiếu niên và thanh thiên. Tuổi
thiếu niên là giai đoạn phát triển chuyển tiếp từ lứa tuổi thơ ấu đến tuổi trưởng
thành. Về mặt thể chất, tuổi thiếu niên là giai đoạn dậy thì và có sự thay đổi
sinh học cực kỳ nhanh chóng, trưởng thành về tính dục và tình dục. Về mặt tâm
lý xã hội, tuổi thiếu niên là lứa tuổi có những diễn biến nội tâm phức tạp, đây là
giai đoạn có những khủng hoảng sâu sắc. Tuổi thiếu niên được trang bị về mặt
sinh lý như một người trưởng thành, nhưng lại được định hướng bằng những
phản ứng trẻ con. Lúc ấy, như có hai nhân vật cùng tranh nhau một cơ thể duy
nhất mà bên nào cũng muốn chiếm ưu thế. Một người muốn bảo tồn những đặc
quyền của tuổi thơ ấu; còn người kia lại thích sử dụng ưu thế của tuổi trưởng
thành.
Thanh niên là lứa tuổi mà sự phát triển về thể chất đã đạt đến mức hoàn
thiện và ổn định về tâm lý, nhân cách. Một trong những vấn đề thực tiễn đầu
tiên mà người thanh thiên cần phải giải quyết đó là việc chọn nghề nghiệp
tương lai. Các em có thể tách rời vòng tay chăm sóc của cha mẹ, tạo dựng cho
mình những mối quan hệ xã hội để tự lập cuộc sống.
Với thanh thiếu niên RLPTK, mặc dù cũng có sự khác biệt nhất định về
thể chất và tâm lý giữa giai đoạn thiếu niên và thanh niên như những thanh
thiếu niên bình thường nhưng nhìn chung thanh thiếu niên RLPTK đều gặp
phải một số vấn đề sau: Các em gặp khó khăn trong việc hiểu và chấp nhận sự
lớn lên của bản thân; không biết xây dựng, duy trì các mối quan hệ tương tác

chung đều thống nhất ở quan điểm: Rối loạn phổ tự kỷ là một dạng khuyết tật
16


phát triển phức tạp, đặc trưng bởi hai khiếm khuyết về giao tiếp - tương tác
xã hội và có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại.
Tiêu chí chẩn đoán tự kỷ theo DSM -V:
A. Khiếm khuyết trầm trọng về giao tiếp xã hội và tương tác xã hội trong nhiều

hoàn cảnh, không được giải thích bởi sự trì hoãn phát triển thông thường, và
biểu hiện ở cả 3 dấu hiệu:
1. Khiếm khuyết về sự trao đổi cảm xúc – xã hội; ranh giới từ cách tiếp cận xã

hội không bình thường và thiếu khả năng thực hiện hội thoại thông thường do
giảm sự chia sẻ, quan tâm, cảm xúc và phản ứng tới sự thiếu hụt hoàn toàn về
khả năng bắt chước tương tác xã hội.
2. Khiếm khuyết về hành vi giao tiếp không lời được sử dụng trong tương tác xã

hội; ranh giới từ sự hạn chế về khả năng phối hợp giao tiếp có lời và không
lời do sự khác thường trong tương tác mắt và ngôn ngữ cơ thể, hoặc thiếu hụt
trong việc hiểu và sử dụng giao tiếp không lời, tới sự thiếu hụt hoàn toàn về
thể hiện nét mặt và cử chỉ.
3. Khiếm khuyết về khả năng phát triển và duy trì quan hệ phù hợp với mức độ

phát triển (ngoại trừ người chăm sóc); ranh giới từ khó khăn trong điều chỉnh
hành vi để đáp ứng phù hợp với bối cảnh xã hội do khó khăn trong tham gia
chơi giả vờ và trong việc kết bạn tới thể hiện sự thiếu quan tâm đến sự có mặt
của người khác.
B. Sự giới hạn, rập khuôn về hành vi, sở thích và hoạt động, thể hiện tối thiểu ở


niệm thành phần sau:
* Kỹ năng:
Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Lê Văn Hồng thì kỹ năng được
hiểu là “khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ mới”
Hay có thể hiểu “kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được
lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều
kiện cụ thể’’ – theo tác giả Nguyễn Văn Đồng.
Hoặc như Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “kỹ năng là năng lực của con
người biết vận hành các thao tác của một hành động theo đúng quy trình”.
Thông qua các khái niệm của các nhà nghiên cứu đã cho thấy có những
điểm chung trong quan niệm về kỹ năng:
18


- Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng. Tri thức ở đây
bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tượng hành động.
- Kỹ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động cá nhân.
- Kỹ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định
nhằm đạt được mục đích đã đặt ra.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra kết luận: kỹ năng là khả năng
của con người được thực hiện thuần thục dựa trên kinh nghiệm của bản thân
thông qua quá trình rèn luyện, luyện tập nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
* Tự lập
Một người có khả năng tự lập là người đó có thể tự mình thực hiện mọi
công việc, hoạt động hàng ngày bằng chính bàn tay, khối óc của mình. Hay
nói cách khác là người đó có thể hoàn thành công việc bằng chính sức lực của
mình hoặc biết tìm đến sự hỗ trợ của người khác khi cần thiết.
Một người khuyết tật sống tự lập không có nghĩa là họ muốn làm tất cả
mọi thứ bằng chính sức mình, không cần bất cứ ai hay muốn sống tách biệt.
Sống tự lập có nghĩa là họ cần có các lựa chọn khác nhau, sự hỗ trợ và sự

liên quan đến sự phối hợp tay – mắt gặp trở ngại lớn dẫn đến sự lo sợ bởi mọi
người và các vật đang chuyển động xung quanh.
* Thính giác: Hệ thống thính giác hoạt động cùng với hệ thống tiền
đình nhằm xử lý các cảm giác về âm thanh và các chuyển động. Quan trọng
hơn hết, với các kỹ năng xử lý thính giác tinh xảo nó mang đến cho chúng ta
sự hiểu biết về ngôn ngữ. Nếu gặp vấn đề này - quá trình xử lý ngôn ngữ
thính giác nghèo nàn sẽ khiến cho thanh thiếu niên RLPTK gặp khó khăn
trong việc xác định sự giống và khác nhau của từ ngữ, ảnh hưởng đến khả
năng lắng nghe và khó khăn trong ngôn ngữ tiếp nhận.
* Khứu giác: Hệ thống khứu giác cung cấp các thông tin về các loại
khác nhau của mùi vị thông qua cơ quan cảm nhận ở khoang mũi, quan hệ
20


gần gũi với hệ thống vị giác. Vì thế, những thanh thiếu niên RLPTK quá nhạy
cảm với mùi vị có thể phản ứng mạnh và né tránh với những mùi gần như vô
hại hay mùi mà đa số mọi người vẫn chấp nhận được như mùi thức ăn, mùi
của đồ vật, mùi cơ thể và mùi từ môi trường xung quanh. Có một số thanh
thiếu niên RLPTK lại bỏ qua hoặc không nhận thấy các mùi hương mà mọi
người thường không thích như mùi ẩm mốc của đồ vật, mùi ôi thiu của thức
ăn, mùi hôi của quần áo bẩn.
* Vị giác: Hệ thống vị giác cung cấp các thông tin về sự khác nhau của
các khẩu vị thông qua cơ quan thu nhận được đặt ở lưỡi, nó có mối quan hệ
mật thiết với hệ thống khứu giác. Một thanh thiếu niên RLPTK có hệ thống vị
giác quá nhạy cảm có thể có phản ứng mạnh mẽ với một số thực phẩm thông
thường với các biểu hiện như: nôn ọe, nổi mề đay... Bên cạnh đó, những thanh
thiếu niên RLPTK kém nhạy cảm có thể liếm hoặc nếm đồ vật không ăn được
hay thích ăn các đồ rất mặn rất cay hoặc rất nóng.
Như vậy, có thể thấy nếu thanh thiếu niên RLPTK gặp bất kỳ một vấn
đề nào về cảm giác cũng sẽ rất ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của họ.

Thanh thiếu niên RLPTK gặp vấn đề về hành vi nhiều hay ít xuất phát từ
nhiều nguyên nhân khác nhau. Giao tiếp là một trong những vấn đề nảy sinh
hành vi. Một người có thể không thể nói ra được điều gì đang diễn ra với bản
thân mình hoặc với môi trường xung quanh bởi vì người đó chỉ có các kỹ năng
giao tiếp chức năng cơ bản hay có kỹ năng giao tiếp nhưng lại không thể sử
dụng đúng lúc vì bị ức chế. Điều này dẫn đến các hành vi đung đưa người, phát
ra âm thanh vô nghĩa, hành vi nổi khùng, hành vi tự kích thích, hành vi xâm
hại.... Các hành vi xảy ra cũng không loại trừ việc các em thiếu khả năng hiểu và
thích ứng với những thay đổi về thể chất, thay đổi hocmon mà cơ thể đang phải
trải qua.
22


Thông thường, chúng ta có thể tìm ra nguyên nhân của một hành vi nào
đó bằng việc phân tích môi trường hoặc những gì xảy ra trước khi hành vi đó
xuất hiện, điều đó có thể ngăn chặn được hành vi. Một thanh thiếu niên
RKPTK sẽ có hành vi đung đưa người, hành vi phản kháng, tự kích thích hay
tức giận nhiều hơn vì một số lý do sau:
- Thiếu khả năng giao tiếp khi có nhu cầu, mong muốn hay sự thể hiện
cảm xúc.
- Bị gián đoạn khi đang mải mê với hoạt động yêu thích hoặc bị làm
gián đoạn hành vi tự kích thích.
- Buồn chán
- Thiếu khả năng hiểu về các quy tắc, lề thói hàng ngày.
- Thiếu khả năng bảo vệ bản thân khỏi sự chòng ghẹo và sự bị bắt nạt
tại trường học hay một nơi nào đó các em có mặt.
- Nhu cầu liên quan đến giới tính: sự cọ xát cơ thể, quan hệ đôi lứa với
rất ít các kỹ năng để thực hiện mong muốn này.
Vì vậy, cha mẹ và những người bên cạnh thanh thiếu niên RLPTK cần
nhận thức về ngòi nổ của các cơn thịnh nộ này để có thể giúp đỡ các em tránh

1.1.4.1. Ý nghĩa
Tính tự lập có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi cá nhân thanh thiếu niên
RLPTK, với gia đình và với cả những người bên cạnh các em.
* Với bản thân thanh thiếu niên RLPTK
Tự lập giúp thanh thiếu niên RLPTK có thể chủ động, tự tin thực hiện
công việc của mình và ít bị phụ thuộc vào người khác. Chính điều này giúp
thanh thiếu niên RLPTK tự tin hơn trong các môi trường, hoàn cảnh khác
nhau và vì thế các em dễ dàng hòa nhập vào cuộc sống xung quanh.

24


Khi đó, thanh thiếu niên RLPTK sẽ được trải nghiệm và được khám
phá cuộc sống nhiều hơn, các kỹ năng thiết yếu khác cũng dần hình thành để
thích ứng được với những hoàn cảnh môi trường.
Hơn nữa, sự tự lập sẽ giúp thanh thiếu niên RLPTK nâng cao lòng tự
trọng và vị thế của mình trong gia đình, trường học. Nói như vậy, bởi lẽ bản
thân các em gặp rất nhiều hạn chế về ngôn ngữ, giao tiếp hay nhận thức cho
nên việc được người khác tin tưởng, coi trọng là một điều thanh thiếu niên
RLPTK luôn kỳ vọng. Khi bản thân các em có thể tự lập trong các công việc
thì lòng tin của các em vào chính mình cũng cao hơn và lòng tin của mọi
người xung quanh đối với các em cũng cao lên. Điều đó có tác dụng khích lệ
lớn đối với thanh thiếu niên RLPTK, tạo cho các em có nhiều cơ hội để thực
hiện tốt hơn mọi công việc, nhiệm vụ của mình.
* Với gia đình thanh thiếu niên RLPTK
Trong mỗi gia đình, cha mẹ luôn cố gắng chăm sóc, giáo dục con cái để
các con khỏe mạnh, phát triển bình thường. Đối với những gia đình có con
RLPTK cũng vậy nhưng nhiệm vụ của cha mẹ trở nên khó khăn hơn rất
nhiều. Vì các em gặp khó khăn cả về thể chất và trí tuệ nên cha mẹ luôn phải
theo sát, kèm cặp và lo lắng. Với những thanh thiếu niên RLPTK mức độ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status