BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
------------------
NGUYỄN ANH HOÀNG SƠN
350814
AN NINH CON NGƢỜI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƢỜNG
– NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Hà Nội, 2014
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
------------------
NGUYỄN ANH HOÀNG SƠN
350814
AN NINH CON NGƢỜI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƢỜNG
– NHÌN TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
VÀ THỰC TIỄN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Công pháp quốc tế
Hà Nội, tháng 3 năm 2013
Xác nhận của giáo viên hướng dẫn
Sinh viên
Nguyễn Anh Hoàng Sơn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
UNDP (United
1
NationsDevelopment Programme)
EU (European Union)
2
IIASA (International Institute of
3
Applied System Analysis)
UN
4
UNICEF (Children's Rights &
5
Emergency Relief Organization)
OECD (Organisation for Economic
6
Co-operation and Development)
ICCPR (International Covenant on
7
16
17
18
Quy ƣớc
Chương trình phát triển Liên hợp
quốc
Liên minh châu Âu
Viện nghiên cứu phân tích hệ thống
ứng dụng quốc tế của Hoa Kỳ
Liên hợp quốc
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế
Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị
Công ước đa dạng sinh học
Nghị định thư về tiếp cận nguồn
gen và chia sẻ lợi ích phát sinh từ
nguồn gen
Hội đồng Kinh tế- Xã hội
Ủy ban về các quyền kinh tế, xã
hội, văn hóa
Công ước về các quyền kinh tế, xã
hội, văn hóa
Quỹ môi trường toàn cầu
Tổ chức hòa bình xanh
Tổ chức nông lương thế giới
Liên minh châu Phi
trƣờng
1.2.1. Mối quan hệ giữa an ninh con người trong lĩnh vực môi trường
với quyền con người
1.2.2. Mối quan hệ giữa an ninh con người trong lĩnh vực môi trường
và an ninh con người
1.2.3. Mối quan hệ giữa an ninh con người trong lĩnh vực môi trường
và an ninh quốc gia
1.3. Các nguy cơ ảnh hƣởng đến an ninh con ngƣời trong lĩnh vực
môi trƣờng
1.3.1. Tác nhân tự nhiên
6
7
8
8
10
10
1.3.2. Tác nhân xã hội
11
CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ AN NINH CON
NGƢỜI TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƢỜNG
13
2.1. Bảo đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành
23
2.4. Thiết chế quốc tế bảo đảm an ninh con ngƣời trong lĩnh vực
môi trƣờng
2.4.1. Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hợp quốc
24
2.4.2. Các thiết chế khu vực
26
2.4.3. Các tổ chức, chương trình quốc tế khác
27
2.5. Trách nhiệm quốc gia trong việc bảo đảm an ninh con ngƣời
trong lĩnh vực môi trƣờng
CHƢƠNG 3: AN NINH CON NGƢỜI TRONG LĨNH VỰC MÔI
TRƢỜNG TẠI VIỆT NAM
3.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo đảm an ninh con ngƣời
trong lĩnh vực môi trƣờng
28
3.1.1. Bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành
32
24
32
32
36
38
39
39
41
42
44
44
46
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
An ninh con người trong lĩnh vực môi trường hiện nay là một trong những
vấn đề quan trọng hàng đầu không chỉ đối với một quốc gia, một khu vực mà với
toàn thế giới. Trong bối cảnh cuộc sống của con người ngày càng bị đe dọa bởi
nhiều yếu tố bất an như biến đổi khí hậu, thiên tai, tài nguyên cạn kiệt, ô nhiễm
môi trường… thì bảo đảm an ninh con người trong lĩnh vực môi trường lại càng trở
thành thách thức lớn đối với mọi quốc gia. Vấn đề an ninh con người trong lĩnh
vực môi trường luôn được coi trọng khi mà môi trường đang ngày càng bị đe dọa
bởi rất nhiều yếu tố. Thực tế đã có rất nhiều hội nghị quốc tế được tổ chức để thảo
luận chính sách môi trường toàn cầu, khái niệm an ninh con người trong lĩnh vực
môi trường cũng dần được mở rộng một cách đầy đủ và toàn diện hơn. Các Quốc
gia cũng nhận thức được rằng an ninh con người trong lĩnh vực môi trường là vấn
Thứ hai, nghiên cứu những quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến an
ninh con người trong lĩnh vực môi trường; tìm hiểu các thiết chế bảo đảm an ninh
con người trong lĩnh vực môi trường để từ đó làm rõ và có nhận thức đúng đắn về
vấn đề này trong tiến trình toàn cầu hóa.
Thứ ba, phân tích thực trạng pháp lý, thực tiễn thực hiện và những thách
thức đối với an ninh con người trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam. Đồng thời
đưa ra những kiến nghị nhằm bảo đảm an ninh con người trong lĩnh vực môi
trường được thực hiện toàn diện và hiệu quả hơn ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu về an ninh con người trong lĩnh vực môi trường dưới
góc độ pháp luật quốc tế hiện đại và vấn đề đảm bảo an ninh con người trong lĩnh
vực môi trường ở Việt Nam hiện nay.
Khóa luận đưa ra các quan điểm đa chiều cũng như sự phát triển của khái
niệm an ninh con người trong lĩnh vực môi trường. Liệt kê và phân tích các quy
định của pháp luật quốc tế trong lĩnh vực an ninh con người trong lĩnh vực môi
trường. Khóa luận cũng đề cập đến vấn đề bảo đảm an ninh con người trong lĩnh
vực môi trường ở Việt Nam thông qua các chính sách, quy định pháp luật cũng
như thiết chế quốc gia, từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả bảo
đảm an ninh con người trong lĩnh vực môi trường ở Việt Nam.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khóa luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề quyền con người, an ninh con người nói
chung và an ninh con người trong lĩnh vực môi trường nói riêng. Khóa luận được
xây dựng trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử; sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học như:
phân tích, tổng hợp, quy nạp, đối chiếu, … để làm sáng tỏ vấn đề an ninh con
người trong lĩnh vực môi trường trong pháp luật quốc tế cũng như đưa ra những
đánh giá khách quan về lý luận, thực tiễn và giải pháp để đảm bảo an ninh con
có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên. [16]
Các yếu tố tự nhiên trong môi trường như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại
ngoài ý muốn của con người cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh
sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước... Yếu tố vật
chất nhân tạo bao gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh
thái và các hình thái vật chất khác.[45, tr.2] Từ chỗ sử dụng và khai thác môi trường
tự nhiên với tính chất hoàn toàn tự phát, vì lợi ích kinh tế đơn thuần, tạo ra khủng
hoảng cục bộ về môi trường ở nhiều quốc gia, dẫn đến suy giảm môi trường toàn cầu,
con người đã dần nhận thức được hậu quả của khủng hoảng môi trường đe dọa tới sự
1
phát triển của mỗi quốc gia cũng như cộng đồng quốc tế. Từ đó, vấn đề an ninh con
người trong lĩnh vực môi trường được đặt ra.
Khái niệm “an ninh con người trong lĩnh vực môi trường” không bao hàm môi
trường xã hội. Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Ðó là
những luật lệ, thể chế, cam kết, quy định, thỏa ước... ở các cấp khác nhau như: Liên
hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia
đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, doan nghiệp và tổ chức đoàn thể,...
Với cách tiếp cận trên, có thể định nghĩa; an ninh con người trong lĩnh vực môi
trường là những bảo đảm bằng pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia để con người
không bị đe dọa trước những mối đe dọa từ môi trường tự nhiên, từ đó tạo lập một
cuộc sống an toàn, phát triển.
1.1.2. Đặc điểm
Là một lĩnh vực của an ninh con người, an ninh con người trong lĩnh vực môi
trường cũng có những đặc điểm chung của an ninh con người. Cụ thể:
Thứ nhất, trung tâm của an ninh con người trong lĩnh vực môi trường là con
người. Con người ở đây được hiểu là cá nhân, cộng đồng, dân tộc cũng như toàn bộ
dân cư hiện diện trên lãnh thổ một quốc gia. Cụ thể hơn, an ninh con người trong lĩnh
người được sống trong môi trường trong lành thì sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển
con người một cách toàn diện và bền vững.
Từ định nghĩa và các đặc điểm trên, an ninh con người trong lĩnh vực môi
trường hướng đến và chứa đựng ba yêu cầu cơ bản sau:
Thứ nhất, sự sẵn có môi trường. Sự sẵn có môi trường nghĩa là đảm bảo có đủ
điều kiện môi trường chất lượng phù hợp và có khả năng đáp ứng đủ nhu cầu tối
thiểu về các chức năng con người trong xã hội.
Thứ hai, khả năng tiếp cận các yếu tố cấu thành môi trường của con người như
nguồn nước, tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, .... Việc tiếp cận các yếu tố cấu
thành của an ninh con người trong lĩnh vực môi trường liên quan đến nhu cầu của các
cá nhân tiếp cận được với nguồn tài nguyên và các tài sản sở hữu khác.
Ba là, sự ổn định môi trường. Khía cạnh ổn định môi trường hàm ý một dân tộc
hoặc một hộ gia đình hoặc một cá nhân lúc nào cũng phải tiếp cận được với các điều
kiện môi trường phù hợp.
3
1.1.3. Các yếu tố cấu thành
Từ định nghĩa về môi trường tự nhiên, có thể nhận thấy an ninh con người
trong lĩnh vực môi trường bao gồm nhiều yếu tố cấu thành. Các yếu tố này được
hình thành và có quan hệ biện chứng với nhau. An ninh con người trong lĩnh vực
môi trường bao gồm: An ninh không khí (không khí sạch, không ô nhiễm), an ninh
tài nguyên thiên nhiên (bảo đảm có đủ tài nguyên để khai thác và sử dụng), an ninh
tài nguyên nước (không bị thiếu nước, nguồn nước sạch, an toàn) và an ninh sinh
thái (đảm bảo đa dạng sinh học). An ninh con người trong lĩnh vực môi trường được
xác lập dựa trên các yếu tố trên, và mỗi quốc gia để đảm bảo an ninh con người
trong lĩnh vực môi trường, thì phải đồng thời đảm bảo các yếu tố đó.
An ninh không khí
An ninh không khí là sự đảm bảo không khí trong sạch, không có sự thay đổi
lớn trong thành phần của không khí làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi khí hậu, gây
được 39 triệu thùng/ngày vào năm 2030, so với 81 triệu thùng/ngày như hiện nay và
trong vòng 50-60 năm nữa, nguồn dầu lửa dưới lòng đất sẽ hoàn toàn cạn kiệt. Đối
với tài nguyên đất, từ tổng diện tích 14.777 triệu ha trên toàn thế giới, có tới 1.527
triệu ha đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng.
Tài nguyên thiên nhiên của thế giới hiện đang bị suy thoái nghiêm trọng do quá
trình khai thác không có kế hoạch tái tạo của con người.
An ninh tài nguyên nƣớc
An ninh tài nguyên nước được hiểu là sự đảm bảo của mỗi quốc gia về nguồn
cung cấp nước cho người dân.
Nước có ý nghĩa sống còn đối với cuộc sống con người. Bảo đảm an ninh
nguồn nước là vấn đề cực kỳ quan trọng của mọi quốc gia. Suy giảm tài nguyên nước
và mất an ninh nguồn nước là nguy cơ không thể xem thường. [15]
Nguồn nước được sử dụng trong sinh hoạt, hoạt động nông nghiệp cũng như
công nghiệp. Tuy nhiên, nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng cao. Các ngành công
nghiệp lấy đi 22% nước toàn thế giới.
Bên cạnh đó, là vấn đề đảm bảo nguồn nước sạch. Theo báo cáo của UNICEF
trên thế giới có 2,5 tỷ người đang khát nước sạch, chiếm hơn 1/3 dân số toàn cầu.
5
Đây là một con số đáng báo động vì chỉ 2 năm trước đây, con số này chỉ dừng ở 1 tỷ
người.
Theo dự báo của OECD, nhu cầu về nước vào năm 2050 sẽ tăng lên 55%. Đại
hội đồng UN từng công nhận việc tiếp cận với nước sạch và sống vệ sinh là một
quyền của con người.
An ninh sinh thái
Có nhiều cách định nghĩa về an ninh sinh thái1, nhưng nhìn chung có thể hiểu,
an ninh sinh thái là sự đảm bảo trạng thái ổn định của cân bằng sinh thái. Khi đó các
thành phần sinh thái ở điều kiện cân bằng tương đối và cấu trúc toàn hệ không bị
thay đổi.
nghèo, bệnh tật và sự đàn áp, và được bảo vệ khi gặp những rủi ro bất thường trong
cuộc sống, kể cả trong gia đình, trong công việc hay ngoài xã hội.
Từ định nghĩa kể trên của UNDP, có thể thấy an ninh con người nói chung, an
ninh con người trong lĩnh vực môi trường nói riêng và quyền con người có mối quan
hệ mật thiết, tác động và hỗ trợ lẫn nhau. Về bản chất, việc bảo đảm an ninh con
người trong lĩnh vực môi trường cũng chính là bảo đảm các quyền con người tương
ứng. Ngược lại, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người tương ứng cũng chính là
nhằm thực hiện, bảo đảm an ninh con người trong lĩnh vực đó. Thêm vào đó, cả an
ninh con người và quyền con người đều hướng vào việc thúc đẩy các nguyên tắc dân
chủ và sự phát triển về thể chế trong các xã hội như là những điều kiện để bảo đảm an
ninh và các quyền của con người một cách bền vững.[44]
An ninh con người nhằm mục đích bảo vệ quyền con người như ngăn ngừa các
xung đột bằng cách đề cập tới những nguyên nhân sâu xa của tình trạng mất an ninh
và dễ bị tổn thương. An ninh con người thiết lập giá trị toàn cầu dựa trên quyền con
người. Vì vậy, an ninh con người đặt ra trách nhiệm cho mọi người tìm kiếm các giải
pháp cho việc đảm bảo quyền con người trên cơ sở pháp luật. Các vi phạm về quyền
con người cho thấy sự đe dọa tới an ninh con người và do đó chúng được sử dụng
như những chỉ số trong các cơ chế cảnh báo sớm để ngăn ngừa xung đột. Cụ thể, an
ninh con người trong lĩnh vực môi trường hướng tới việc bảo vệ quyền con người đối
với môi trường: quyền có nước, quyền sử dụng nguồn gen và chia sẻ lợi ích từ nguồn
gen, …Ngược lại, các quy định về quyền con người đối với môi trường được coi là
nền tảng của vấn đề an ninh con người trong lĩnh vực môi trường.
1.2.2. Mối quan hệ giữa an ninh con người trong lĩnh vực môi trường và an
ninh con người
An ninh con người trong lĩnh vực môi trường có vị trí và vai trò trọng yếu và
không thể tách rời trong hệ thống các vấn đề của an ninh con người. Bảo đảm an ninh
con người trong lĩnh vực môi trường chính là bảo đảm quyền cơ bản của con người
7
theo quy luật thích ứng sinh tồn và sàng lọc tự nhiên, môi trường sống không bị phá
huỷ, đầu độc, gây tai hoạ cho các giống loài mà nó dung dưỡng.
Khác với an ninh quốc gia là những vấn đề của từng đất nước, của mỗi cộng
đồng dân tộc, nhiều lắm là của một khối liên minh quân sự, an ninh con người trong
lĩnh vực môi trường còn là vấn đề của cả loài người trong mối quan hệ vừa nhân quả
vừa cộng hưởng, trong đó trạng thái mất an ninh thường do những tác nhân vừa gián
tiếp vừa trực tiếp, vừa rất xa mà cũng rất gần, một quốc gia không dễ một mình giải
quyết. an ninh con người trong lĩnh vực môi trường góp phần hình thành nên quan
điểm tổng thể trong nhận thức và hành động của các quốc gia cũng như cộng đồng
quốc tế đối với những vấn đề toàn cầu. Những vấn đề toàn cầu bản thân nó không
giới hạn biên giới, lãnh thổ của các quốc gia và vì vậy nó cũng không loại trừ quốc
gia nào. Thực chất, các vấn đề toàn cầu xét ở một phương diện nào đó nó cũng là cú
hích để các quốc gia tập trung phát triển kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội trên
quan điểm phát triển và việc tập trung xử lý các vấn đề toàn cầu là nhịp cầu để các
quốc gia xích lại gần nhau, giảm bớt những căng thẳng xung đột. Đồng thời, an ninh
con người sẽ thúc đẩy hơn nữa các nỗ lực hợp tác quốc tế của các quốc gia. Bản thân
sự tồn tại của mỗi quốc gia trong cộng đồng quốc tế đã đòi hỏi có sự hợp tác quốc tế
và đó là sự hợp tác trên tinh thần thiện chí và tích cực. Những vấn đề toàn cầu bản
thân nó không giới hạn biên giới, lãnh thổ của các quốc gia và vì vậy nó cũng không
loại trừ quốc gia nào.
Như vậy, mỗi tổ chức quốc tế đều có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng đó đều
là các trung tâm phối hợp hợp tác và hành động của các quốc gia và ngược lại những
quyết định của các tổ chức quốc tế ở một chừng mực nào đó cũng tạo ra sự ràng buộc
cho các quốc gia và thúc đẩy các quốc gia trong việc nỗ lực thực hiện các cam kết
quốc tế liên quan đến vấn đề an ninh con người. Bảo đảm những thành quả đạt được
hôm nay không bị mất đi trong các cuộc khủng hoảng tương lai.[26]
9
10
tăng bất bình đẳng. Thế giới đang tiến sát tới thời điểm không thể tránh được thảm
họa sinh thái [46].
1.3.2. Tác nhân xã hội
Sự gia tăng dân số nhanh ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định của an ninh
con người trong lĩnh vực môi trường. Dân số tăng nhanh là nguyên nhân sâu xa và
chủ yếu của việc làm suy giảm môi trường sinh thái. Nhịp độ khai thác tài nguyên
thiên nhiên tăng lên nhanh hơn nhịp độ tăng dân số. Năng lượng phải tăng 10% để
tương xứng với 2% tăng lên của dân số. Các tài nguyên không thể phục hồi đang cạn
dần, chẳng hạn theo ước tính của các chuyên gia UN, giọt dầu cuối cùng của các mỏ
dầu đang hoạt động trên trái đất sẽ được hút lên vào năm 2045 đến năm 2050.
Đồng thời, loài người đang và sẽ phải đối mặt với nguy cơ phổ biến là thiếu
các nguồn nước sạch2. Sự ô nhiễm các nguồn nước đang có nguy cơ gia tăng trong
khi nhu cầu tiêu dùng nước sạch cũng ngày càng tăng do sự gia tăng dân số và nhu
cầu phát triển kinh tế.
Nhiều người hơn cũng sản sinh ra nhiều chất thải hơn và gây thêm căng thẳng
cho khả năng đồng hóa của trái đất. Các nước có tỷ lệ phát triển dân số cao đã biến
đổi đất đai thành đất nông nghiệp nhanh, gây thêm sức ép đối với đất đai và môi
trường sống tự nhiên. Tại một số nước, đặc biệt là ở nông thôn châu Phi, dân số tăng
nhanh đến mức là việc quản lý đất đai theo lối cổ truyền không thể nào ngăn cản
được sự thoái hóa của đất đai, cạn kiệt tài nguyên nước và mất mát về nơi cư trú tự
nhiên. Đối với đa dạng sinh học, những hoạt động của con người đã làm cho rất nhiều
loài bị tuyệt chủng. Kể từ năm 1600 đến nay khoảng 21% các loài động vật và 1,3%
các loài chim trên thế giới đã bị tuyệt chủng. Tốc độ tuyệt chủng của các loài trở nên
ngày càng cao. Những loài còn sống sót thì cũng có nguy cơ đứng bên bờ của sự
tuyệt chủng. Hơn 99% những sự tuyệt chủng thời cận đại là do con người gây ra.
2
CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ AN NINH CON NGƢỜI
TRONG LĨNH VỰC MÔI TRƢỜNG
Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 đã đặt nền móng cho việc thiết lập một
cơ chế pháp lý quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy sự phát triển của các vấn đề hòa bình,
an ninh, môi trường, quyền con người trên thế giới.
Bộ luật quốc tế về quyền con người3 và các điều ước quốc tế khác như: Công
ước về bảo vệ di sản văn hóa và di sản tự nhiên của thế giới (1972), Công ước quốc tế
về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (1973), Công ước Vienna về
bảo vệ tầng Ozone (1985) và Nghị định thư Motreal về các chất làm suy giảm tầng
Ozone (1987), Tuyên bố Liên hợp quốc về môi trường và phát triển (1992), Công ước
khung về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc (1992), Công ước về đa dạng sinh học
(1992),… cũng là nguồn quan trọng của luật quốc tế về an ninh con người trong lĩnh
vực môi trường hiện nay. Trong khóa luận này, việc nghiên cứu, phân tích các quy
định của luật quốc tế về an ninh con người trong lĩnh vực môi trường dựa trên các
văn bản pháp lý cơ bản trên. Tuy nhiên, các Tuyên bố, các Bình luận và Khuyến nghị
của tổ chức quốc tế liên chính phủ và các thiết chế được thành lập theo các điều ước
quốc tế về quyền con người cũng được sử dụng để làm sáng tỏ nội dung các quy định
của luật quốc tế về an ninh con người trong lĩnh vực môi trường.
Các quyền của con người đối với môi trường có mối quan hệ tương hỗ với các
quyền khác của con người cũng như việc đảm bảo an ninh con người nói chung. Vì
vậy, quy định của pháp luật quốc tế về an ninh con người trong lĩnh vực môi trường
sẽ bao gồm nhiều quyền đối với việc thụ hưởng các yếu tố môi trường.
2.1. Bảo đảm quyền đƣợc sống trong môi trƣờng trong lành
Quyền được sống trong môi trường trong lành là một trong những quyền cơ
bản của con người. Ở bình diện quốc tế, quyền được sống trong môi trường trong
lành đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện, công ước quốc tế, như: Tuyên ngôn thế
3
Bộ luật quốc tế về quyền con người bao gồm:
+ Tuyên ngôn về quyền con người 1948.
cấp nghiêm trọng của môi trường và hệ sinh thái. Ô nhiễm môi trường và hủy hoại
môi trường tự nhiên đã trực tiếp tác động đến việc hưởng thụ quyền con người. Do
vậy, cộng đồng thế giới thừa nhận môi trường chính là vấn đề của quyền con người
[28] và an ninh con người. Cơ chế đảm bảo để con người không bị đe dọa do những
tác động xấu của môi trường và nhằm thực hiện quyền “con người được sống trong
môi trường trong lành” bao gồm: hệ thống các cơ quan, chương trình dành cho môi
trường; các chính sách tài chính cho lĩnh vực môi trường; tiêu chuẩn về môi trường;
và các biện pháp đảm bảo từ quốc gia.
14
Cụ thể, hệ thống các cơ quan, chương trình quản lý môi trường mà lớn nhất là
UN cùng các cơ quan, chương trình trực thuộc UN như: WHO, UNEP, … đã ban
hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm quy định cơ chế, chính sách, chương
trình về việc bảo vệ môi trường; chỉ đạo và phối hợp thực hiện chiến lược, kế hoạch
và nhiệm vụ bảo vệ môi trường;... Bên cạnh đó, còn có các cơ quan, chương trình
quốc tế phi chính phủ khác.
Thứ hai, chương trình tài chính ở mỗi quốc gia dành cho môi trường là khác
nhau. Chi phí của nhà nước và doanh nghiệp cho bảo vệ môi trường phải thường
xuyên tăng (thực tế cho thấy, để phát triển bền vững, mức chi cho nghiên cứu khoa
học- kỹ thuật- công nghệ, giáo dục và đào tạo, cải thiện môi trường của mỗi nước
thường phải đạt tối thiểu 1,5 - 2% GDP hàng năm; riêng chi cho bảo vệ môi trường ở
các nước phát triển là 0,8-1,7% GDP). Nguồn vốn của các định chế tài chính- tín
dụng môi trường này được hình thành từ các nguồn khác nhau: ngân sách nhà nước,
quyên góp, ủng hộ tự nguyện, vốn viện trợ, vay thương mại, huy động từ xổ số, tín
phiếu môi trường, đặc biệt là từ các loại thuế và lệ phí môi trường.
Thứ ba, môi trường trong lành được dựa trên tiêu chí từ tiêu chuẩn về môi
trường. Cơ cấu của hệ thống tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau: tiêu
chuẩn nước, bao gồm nước mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và ven biển, nước
thải; tiêu chuẩn không khí, bao gồm khói bụi, khí thải (các chất thải); tiêu chuẩn liên