Tiểu luận môn luật dân sự luật trưng cầu ý dân - Pdf 34

PHÁP LUẬT VỀ TRƯNG CẦU Ý DÂN TẠI VIỆT NAM
MỤC LỤC
1.
Những vấn đề cơ bản về trưng cầu ý dân
1.1 Khái niệm về trưng cầu ý dân
1.2

Đặc điểm của trưng cầu ý dân

1.3.

Ý nghĩa của trưng cầu ý dân

2.

Luật trưng cầu ý dân của một số quốc gia trên thế giới

2.1.

Luật trưng cầu ý dân ở Mỹ

2.2.

Luật trưng cầu ý dân ở Canada

3.

Pháp luật về trưng cầu ý dân ở việt nam

3.1.


chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước ban hành xa rời với nguyện vọng của nhân dân,
thiếu sự kiểm tra và phản biện từ nhân dân. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta cần phải thực thi hay
cơ chế về dân chủ trực tiếp trên cơ sở của một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh, đảm bảo tốt quyền của
người dân, một điều mà bấy lâu nay chúng ta vẫn đang còn đang vướng vào chiếc vòng luẩn
quẩn. Hiến pháp 2013 ra đời đã đem tới làn gió mới cho quá trình thực hiện dân chủ XHCN ở
nước ta ngày một gần hơn, vai trò của người dân trong việc thực hiện quyền làm chủ của mình
ngày càng được thể rõ khi được trực tiếp tham gia việc quyết định những vấn đề liên quan tới
quyền lợi của mình.
Để cụ thể hóa quy định trong hiến pháp 2013 quốc hội đã ban hành Luật trưng cầu ý dân đây
được coi là một bước chạy đà quan trọng trong việc tạo nên một nền dân chủ thực sự.
Tuy nhiên, trước khi chúng ta đi vào tìm hiểu những nội dung của luật trưng cầu ý dân thì
điều đầu tiên chúng ta cần thiết phải nắm rõ thế nào là trưng cầu ý dân?, tại sao đối với những
nước có nền dân chủ thực sự thì việc trưng cầu ý dân không những thể hiện bản chất của nhà
nước pháp quyền mà còn thể hiện rõ hơn vị trí, vai trò của người dân.
Luật trưng cầu ý dân 2015 đã được quy hội thông qua ngày 25 tháng 11 năm 2015 và có
hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2016 đã đưa ra khái niệm về trưng cầu ý dân như sau:
Trưng cầu ý dân là việc nhà nước tổ chức để cử tri cả nước trực tiếp biểu quyết bằng hình
thức bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định của luật này.
Theo cuốn Thuật ngữ pháp lý dung trong hoạt động của quco61 hội và HĐND thì trưng cầu
ý dân được hiểu là:
-

Một hoạt động do nhà nước thực hiện để nhân dân bỏ phiếu quyết định hoặc bày tỏ ý kiến về

-

những việc đặc biệt quan trọng của quốc gia.
Việc trưng cầu ý dân do Hiến pháp của mỗi quốc gia quyết định nên tùy theo mỗi nước có thể
trưng cầu ý dân để quyết định Hiến pháp hoặc một đạo luật quan trọng. Cũng có những trường
hợp trưng cầu ý dân chỉ có tính chất tư vấn còn quyền quyết định vẫn thuộc về cơ quan lập pháp.

trong trường có những vấn đề liên quan đến quyền của người dân mà nhà nước không thể nào tự
mình quyết định được thì nhà nước sẽ hỏi ý kiến nhân dân thông qua lá phiếu trưng cầu. Đó
chính là lý do giải thích vì sao nhà nước luôn là chủ thể có quyền tố chức các cuộc trưng cầu.
1 kỷ yếu hội thảo Trưng cầu ý dân – những vấn đề lý luận và thực tiễn, do hội Luật gia Việt nam tổ chức tại Hà Nội, ngày
04/06/2013, tr.121

3


Thứ ba, những vấn đề được đưa ra trưng cầu ý dân là những vấn quan trọng của quốc gia
hoặc của địa phương.
Thứ tư, trưng cầu ý dân phải được thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu.
Có lẽ đây là cách thức duy nhất, hiệu quả nhất mà cho đến nay bất kỳ quốc gia nào khi trưng
cầu cũng đều sử dụng . Bởi chỉ có bằng hình thức này mới có thể đánh giá được tính chính xác
của cuộc trưng cầu, hơn nữa chúng ta cũng chưa đủ tiềm lực để có thể xây dựng nên một hệ
thống trưng cầu bằng hình thức bấm nút trực tiếp.
Thứ năm, kết quả của cuộc trưng cầu có ý nghĩa bắt buộc đối với nhà nước.
Như đã phân tích ở trên, nhà nước về bản chất chính là cơ qua quyền lực nhà nước đại diện
nhân dân thực hiện cách chính sách một quốc gia. Do đó, việc nhà nước không thể quyết định
những vấn đề quan trọng mà cần phải hỏi ý kiến của người dân thì đương nhiên ý kiến mà nhân
dân đưa ra buộc nhà nước phải chấp nhận và phải coi đó là quyết định cuối cùng.
1.3.

Ý nghĩa của trưng cầu ý dân

Trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ tiến bộ đã được sử dụng nhiều ở các quốc gia hiện
đại, không ít các quốc gia còn xem sự tồn tại của nó giống như là một minh chứng cho nền dân
chủ của mình. Hơn nữa, dân chủ trực tiếp cũng mang trên mình những tính ưu việt như: Vừa đảm
bảo nguyên tắc “tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân”, vừa mang tính phổ thông, đại chúng.
Nhân dân không những có thể thể hiện ý kiến của mình một cách tự do mà còn góp phần nâng

Trưng cầu theo sáng kiến của nhân dân. Đối với việc thực hiện trưng cầu ý dân theo sáng kiến
của người dân thì điều kiện đặt ra phải thu thập đủ chữ ký của những người ủng hộ. số lượng chữ
ký là điều kiện để thực hiện trưng cầu ý dân theo ý kiến của nhân dân ở các bang có sự khác
2.2.

nhau.
Luật trưng cầu ý dân ở Canada3 Thực tiễn cho thấy trưng cầu ý dân ờ Canada được chính
quyền các cấp sử dụng song khác với ở Mỹ, việc sử dụng trưng cầu ý dân rất ít, đặc biệt là ở cấp
bang.
Pháp luật liên bang: ở cấp độ liên bang, Canada không có luật chung điều chỉnh việc thực
hiện trưng cầu ý dân mặc dù cũng đã có những cố gắng lập pháp theo hướng này. Tháng 6 năm
1992, chính quyền liên bang đã ban hành luật về trưng cầu ý dân có giới hạn mà thực chất là Luật
về trưng cầu ý dân đối với Hiến pháp của Canada.
Cấp bang: trưng cầu ý dân được điều chỉnh chủ yếu bởi luật của các bang. Ví dụ: bang
Saskatchewan đã thông qua luật về trung cầu ý dân; bang British Columbia thông qua luật về
chấp thuận sửa đổi hiến pháp theo đó chính quyền các bang có nghĩa vụ phải tổ chức trưng cầu ý
dân đối với những sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Canada trước khi bỏ phiếu trong nghị viên bang.
3. Pháp luật về trưng cầu ý dân ở việt nam
3.1.
Những nội dung của cuộc trưng cầu ý dân

Về nội dung của trưng cầu ý dân, được quy định tại Điều 6 LTCYD, theo đó cuộc trưng
cầu ý dân sẽ nằm trong số những vấn đề cụ thể như:
1. Toàn văn Hiến pháp hoặc một số nội dung quan trọng của Hiến pháp;
3Nguyễn Thị Tố Uyên, Trưng cầu ý dân và quy định về trưng cầu ý dân ở một số nước trên thế giới, Kỷ yếu hội thảo Một số
vấn đề lý luận, thực tiển về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt nam. Tr 191

5



Tổ trưng cầu ý dân được thành lập ở mỗi khu vực bỏ phiếu chậm nhất là 40 ngày trước ngày
bỏ phiếu trưng cầu ý dân. Tổ trưng cầu ý dân có từ 9-11 thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và
6


các thành viên là đại diện cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội, đại diện cử tri ở địa phương.
Đơn vị vũ trang nhân dân được xác định là khu vực bỏ phiếu riêng được thành lập một Tổ
trưng cầu ý dân có từ 7-9 thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các thành viên là đại diện chỉ huy
đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó.
Trong trường hợp đơn vị vũ trang nhân dân và địa phương có chung một khu vực bỏ phiếu
thì UBND cấp xã sau khi thống nhất với chỉ huy đơn vị vũ trang nhân dân quyết định thành lập
Tổ trưng cầu ý dân có từ 9-11 thành viên gồm Tổ trưởng, Thư ký và các thành viên là đại diện cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đại diện cử tri ở địa
phương, đại diện chỉ huy đơn vị và đại diện quân nhân của đơn vị vũ trang nhân dân đó.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, UBND các cấp có quyền thành lập hoặc phân công cơ quan
chuyên môn trực thuộc để giúp việc trong tổ chức trưng cầu ý dân; trưng tập cán bộ, công chức,
viên chức của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn
vị sự nghiệp công lập để giúp thực hiện các công việc liên quan đến tổ chức trưng cầu ý dân.
3.3.
Quy trình của trưng cầu ý dân
3.3.1. Đề nghị và quyết định trưng cầu ý dân

Để kịp thời thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về phát huy dân chủ và
quyền làm chủ của nhân dân, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia vào
công việc quản lý nhà nước; ngày 25/11/2015 tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa 13 đã thông qua
Luật trưng cầu ý dân. Theo đó để có thể hình thành nên cuộc trưng cầu ý dân cần tiến hành các
bước như sau:
Đầu tiên, đề nghị trưng cầu. khoản 1 điều 14 luật trưng cầu ý dân quy định:
Ủy ban thường vụ quốc hội, chủ tịch nước, chính phủ hoặc ít nhất là một phần ba tổng số

Ủy ban thường vụ quốc hội quy định cụ thể về nội dung, hình thức phiếu trưng cầu ý dân
đồng thời cả việc in ấn và phát hành và quản lý phiếu trưng cầu ý dân. Phiếu trưng cầu cần thể
hiện một cách rõ ràng rễ hiểu, khách quan chính xác và rõ nghĩa.
Trong thời gian 10 ngày trước ngày bỏ phiếu , tổ trưng cầu ý dân phải thường xuyên thông
báo cho cử tri ở địa phương biết về ngày bỏ phiếu, địa điểm bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu bằng
hình thức niêm yết, phát thanh và các phương tiện thông tin đại chúng khác của địa phương, việc
thông tin này nhằm cung cấp đầy đủ các thông tin một cách chính xác nhất về các vấn đề trưng
cầu để cử tri hiểu, nắm rõ ý nghĩa của việc trung cầu này.
Về thời gian bỏ phiếu trưng cầu bắt đầu từ bẩy giờ sáng đến bẩy giờ tối cùng ngày. Tuy
nhiên, cũng tùy từng địa phương, tổ trưng cầu có thể quyết định thời gian bỏ phiếu sớm hơn
nhưng cũng không được trước 5 giờ sáng hoặc cũng có thể kết thúc muộn hơn nhưng cũng không
được quá chín giờ tối cùng ngày. Trường hợp ở khu vực bỏ phiếu trưng cầu ý dân đã có 100% cử
tri trong danh sách thực hiện việc bỏ phiếu thì việc bỏ phiếu có thể được kết thúc sớm hơn nhưng
cũng không được trước ba giờ chiều cùng ngày. [k1. Đ37 LTCYD].
Trước khi bỏ phiếu tổ trưng cầu phải kiểm tra hòm phiếu trước sự trứng kiến của cử tri. Việc
bỏ phiếu phải được tiến hành một cách liên tục. trong trường hợp có sự kiện bất ngờ làm gián
đoạn việc bỏ phiếu thì tổ trưng cầu ý dân phải lập tức niêm phong hòm phiếu, tài liệu liên quan
trực tiếp đến trưng cầu ý dân và kịp thời báo cáo Uy ban nhân dân cấp xã nhằm đưa ra những
biện pháp cần thiết để việc bò phiếu được diễn ra một cách liên tục [k2,3 Đ 37 LTCYD].

8


Luật trưng cầu ý dân cũng đưa ra trường hợp đặc biệt khi cần thiết phải bỏ phiếu sớm hoặc
hoãn ngày bỏ phiếu tại một số khu vực thì Uy ban nhân dân khu vực đó phải kịp thời báo cáo với
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để trình lên thường vụ Quốc hội xem xét quyết định.
3.3.4. Kiểm phiếu và công bố kết quả trưng cầu
Sau khi việc bỏ phiếu được hoàn thành, tổ trưng cầu ý dân sẽ tiến hành việc kiểm phiếu.
Trước khi mở hòm phiếu, tổ trưng cầu phải thống kê, lập biên bản, niêm phong số phiếu trưng
cầu ý dân không sử dụng đến và nhất thiết phải mời ai cử tri chứng kiến việc kiểm phiếu. đối với



e) Số phiếu không hợp lệ;
g) Số phiếu tán thành với mỗi phương án được đưa ra trong phiếu trưng cầu ý dân;
h) Số phiếu không tán thành với mỗi phương án được đưa ra trong phiếu trưng cầu ý dân;
i) Những khiếu nại, tố cáo nhận được; những khiếu nại, tố cáo đã giải quyết và kết quả giải
quyết; những khiếu nại, tố cáo chuyển đến Ủy ban nhân dân cấp trên.
Bản báo cáo này dược lập thành 3 bản một bản gửi lên cấp Huyện, một bản gửi cấp tỉnh
chậm nhất trong vòng 5 ngày sau ngày bỏ phiếu.
Dựa trên báo cáo được gửi lên Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cũng lập báo cáo về kết quả trưng
cầu, báo cáo này cũng được lập thành 2 bản, một bản gửi đến Ủy ban thường vụ quốc hội chậm
nhất là 9 ngày sau ngày bỏ phiếu, một bản dung đề lưu trữ.
Sau khi nhận đươc báo cáo Ủy ban thường vụ quốc hội sẽ tiến hành ra Nghị quyết xác định
kết quả trưng cầu ý dân trên cả nước, Nghị quyết này sẽ phải đảm bảo các nội dung được quy
định cụ thể tại khoản 2 Điều 48 LTCYD, cụ thể như sau:
a) Ngày bỏ phiếu trưng cầu ý dân;
b) Tổng số cử tri trong cả nước;
c) Tổng số cử tri tham gia bỏ phiếu trưng cầu ý dân, tỷ lệ so với tổng số cử tri cả nước;
d) Tổng số phiếu hợp lệ;
đ) Tổng số phiếu không hợp lệ;
e) Số phiếu tán thành với mỗi phương án được đưa ra trong phiếu trưng cầu ý dân, tỷ lệ so
với tổng số phiếu hợp lệ;
g) Số phiếu không tán thành với mỗi phương án được đưa ra trong phiếu trưng cầu ý dân,
tỷ lệ so với tổng số phiếu hợp lệ;
h) Kết quả trưng cầu ý dân.
Luật cũng quy định cụ thể về thời gian công bố kết quả trưng cầu chậm nhất là 15 ngày kể
từ ngày trưng cầu. Trường hợp bỏ phiếu lại thì thời hạn cũng là 15 ngày kể từ ngày bỏ phiếu lại.
3.4.
Giá trị của cuộc trưng cầu ý dân
Có thể nói trưng cầu ý dân là một hình thức dân chủ tiến bộ đã được sử dụng từ cách đây rất

Thì bên cạnh việc hoàn thiện pháp luật về trưng cầu ý dân Nhà nước cần có chính sách, biện pháp
nhằm nâng cáo trình độ văn hóa, tri thức của nhân dân, tăng cường giáo dục ý thức pháp luật và
động viên nhân dân tích cực tham gia vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Đồng thời
cũng phải bố trí nguồn kinh phí, điều kiện về cơ sở vật chất và các nguồn lực khác cho công tác
trưng cầu ý dân. Có như vậy, việc trưng cầu ý dân mới đem lại hiệu quả thiết thực, tránh phô
trương hình thức, gây lãng phí tốn kém.

11


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hiến Pháp 2013
[2] Luật trưng cầu ý dân 2015
[3] Lê Hồng Hạnh, Pháp luật trưng cầu ý dân ở Mỹ và Canada – Bài tham luận Hội thảo về
trưng cầu ý dân – Hội luật gia việt nam, 6/2013.
[4] Nguyễn Thị Tố Uyên, Trưng cầu ý dân và quy định về trưng cầu ý dân ở một số nước trên
thế giới, Kỷ yếu hội thảo Một số vấn đề lý luận, thực tiển về dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên
thế giới và ở Việt nam. Tr 191
[5] Kỷ yếu hội thảo Trưng cầu ý dân – những vấn đề lý luận và thực tiễn, do hội Luật gia Việt
nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 04/06/2013, tr.121
[6] Trần Minh Hương “Vấn đề xây dựng pháp luật về trưng cầu ý dân” Tạp chí Luật học số 6
năm 2004. Tr.54-58.
12


[7]http://www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?
option=com_content&view=article&id=353:msvvtcyd&catid=103:ctc20061&Itemid=109
[8]http://www.sotuphapqnam.gov.vn/index.php?
option=com_content&view=article&id=2354:mt-s-ni-dung-c-bn-trong-lut-trng-cu-ydan&catid=108:vn-bn-chinh-sach-mi&Itemid=110


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status