Trang 1
TIỂU LUẬN
MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự là một nội dung quan trọng
nhưng rất phức tạp. “Pháp luật tố tụng dân sự không thể được coi là hoàn thiện
nếu không có những chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (…). Pháp luật
mà không có chứng cứ thì chẳng có nghĩa lý gì cả, nhưng chứng cứ dù không có
pháp luật vẫn có tất cả ý nghĩa của nó”
1
. Hay trong báo cáo công tác của ngành
Toà án trong thực tiễn xét xử các vụ án dân sự cho thấy “chất lượng hồ sơ vụ án
dân sự, hôn nhân và gia đình phụ thuộc vào chất lượng điều tra, xác minh, thu thập
tài liệu, chứng cứ có đầy đủ, chính xác và khách quan hay không và có chấp hành
nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng hay không là cơ sở của một bản án, quyết định đúng
đắn”
2
. Như vậy, chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là một
trong những yếu tố quan trọng nhất của pháp luật tố tụng dân sự. Vì vậy chúng ta
hãy cùng nhau đi tìm hiểu về vấn đề này.
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Một số vấn đề lí luận về chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện
chứng minh trong tố tụng dân sự
1. Khái niệm, đặc tính, ý nghĩa của chứng cứ, phân loại chứng cứ:
1.1. Khái niệm:
Điều 81 BLTTDS định nghĩa chứng cứ như sau: “ chứng cứ trong vụ việc
dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao
nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này
quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của
đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như các tình tiết khác cần thiết
2. Khái niệm, ý nghĩa của nguồn chứng cứ
Trang 3
Theo Điều 82 BLTTDS thì nguồn chứng cứ bao gồm: “ Các tài liệu đọc
được, nghe được nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự, lời khai của
người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; tập
quán; kết quả giám định tài sản, thẩm định giá tài sản; các nguồn khác mà pháp luật
có quy định”
Tòa án chỉ thu thập chứng cứ qua các nguồn chứng cứ do pháp luật quy định.
Bất kì loại chứng cứ nào cũng nằm trong một loại chứng cứ nhất định. Ví dụ: bản
di chúc đương sự cung cấp cho Tòa án là nguồn nhưng bản di chúc đó làm giả,
gian dối thì không được coi là nguồn chứng cứ
3. Khái niệm, ý nghĩa của phương tiện chứng minh:
3.1 Khái niệm
Phương tiện chứng minh là công cụ pháp luật quy định được sử dụng để làm
rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự thông qua các chủ thể chứng minh. Một
số công cụ thường được thực hiện như lấy lời khai của đương sự, lời khai của
người làm chứng, kết luận của cơ quan giám định gọi là phương tiện chứng minh.
Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự cụ thể, các đương sự và Tòa án
có thể dùng nhiều phương tiện chứng minh. (khoản 2 Điều 85 BLTTDS).
3.2 Ý nghĩa
Hoạt động chứng minh có tính chất quyết định kết quả giải quyết vụ việc dân
sự. Để đảm bảo giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, pháp luật quy định những
phương tiện chứng minh cụ thể mà các chủ thể chứng minh được sử dụng. Các chủ
thể chứng minh chỉ dược sử dụng các phương tiện chứng minh do pháp luật quy
định mà không thể sử dụng bất kì phương tiện nào khác để chứng minh đồng thời
phải đáp ứng đầy đủ điều kiện nhất định do pháp luật quy định. Các phương tiện
chứng minh này là công cụ để làm sáng tỏ, giải quyết nhanh đúng và chính xác vụ
án hơn.
4. Mối liên hệ giữa chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng
minh.
làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Kết
luận giám định; Biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác.
Các CQĐT, VKS, TA xác định những gì là chứng cứ chỉ từ những nguồn nói
trên, chứ không được xác định những gì là là chứg cứ từ các nguồn khác.
Phân loại chứng cứ: Chứng cứ gốc / thuật lại; Chứng cứ trực tiếp / gián tiếp;
Chứng cứ viết / miệng; Chứng cứ khẳng định / phủ định.
2. Các quy định về nguồn chứng cứ
Theo quy định tại điều 82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (đã trích ở trên)
thì nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự chỉ được quy định trong 8 nguồn chính.
Ngoài 8 nguồn chứng cứ này Tòa án không được sử dụng thêm bất cứ nguồn nào
khác để thu thập làm chứng cứ cho việc giải quyết vụ việc dân sự. Tại khoản 9 điều
82 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định: “Các nguồn khác mà pháp luật có
quy định” cần được hiểu đây là một quy định dự phòng của pháp luật chứ không
phải là một quy định mở để Tòa án áp dụng trong quá trình thu thập chứng cứ giải
quyết vụ án. Do vậy, cho đến khi pháp luật có quy định thêm một nguồn chứng cứ
nào đó thì Tòa án chỉ được phép thu thập chứng cứ theo qui định từ khoản 1 đến
khoản 8 Điều 82 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
Tuy nhiên, không phải bất cứ tài liệu, dữ kiện nào được thu thập từ các
nguồn chứng cứ cũng đều được xem là chứng cứ và được sử dụng vào việc giải
quyết vụ án mà các tài liệu, dữ kiện này phải đảm bảo được các thuộc tính cơ bản
của chứng cứ, đồng thời phải phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng dân sự về
xác định chứng cứ. Ví dụ: biên bản ghi lời khai của đương sự là một nguồn chứng
cứ nhưng có những trường hợp toàn bộ lời khai đó là gian dối, bịa đặt thì lời khai
đó không được coi là chứng cứ của vụ án.
Trang 6
Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã quy định cụ thể về điều kiện xác
định chứng cứ trong các nguồn chứng cứ như sau :
“1. Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính
hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có
tòa không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu đòi nợ 200 triệu đồng mà chỉ chấp nhận
100 triệu đồng. Như vậy, hậu quả của việc không đòi được đủ 200 triệu là do ông
B đã không giao nộp đủ chứng cứ.
Với quy định này của điều luật chúng ta thấy rằng : đối với loại nguồn chứng
cứ là các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được khi có chứa đựng chứng cứ của
vụ án; nếu là tài liệu đọc được nội dung thì phải là bản chính hoặc bản sao có công
chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền cung cấp,
xác nhận; nếu là loại tài liệu nghe được, nhìn được (như băng đĩa ghi âm, ghi hình)
thì phải xuất trình được văn bản xác nhận về xuất xứ của các tài liệu đó hoặc văn
bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, ghi hình đó; có như vậy thì các tài liệu đó
mới được coi là có giá trị và được sử dụng làm chứng cứ chứng minh trong vụ án.
Đối với loại nguồn chứng cứ là vật chứng : vật chứng được pháp luật quy
định là nguồn chứng cứ vì tồn tại trong chính bản thân nó là chứng cứ của vụ án, nó
chỉ chứa đựng chứng cứ chứ nó không phải là chứng cứ.
Ví dụ : A kiện B đòi bồi thường chiếc xe bị hư – ở đây chiếc xe bị hư là vật
chứng còn những hư hỏng của xe là chứng cứ.
Như vậy vật chứng phải luôn là hiện vật gốc có tính đặc định liên quan đến
vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý. Nếu có sự sao chép, tái hiện lại vật chứng
thì vật được sao chép đó không được xem là vật chứng. Do đó, quá trình thu thập
vật chứng Tòa án phải đảm bảo các trình tự, thủ tục luật định và phải bảo quản, giữ
gìn nhằm giữ được tính đặc định của vật chứng.
Trang 8
Đối với loại nguồn chứng cứ là tập quán : để một tập quán trở thành chứng
cứ trong một vụ án cụ thể thì người đưa ra tập quán đó phải trình bày rõ nguồn gốc
của tập quán, phải chứng minh tính cộng đồng của tập quán đó bằng cách ghi nhận
nó bằng văn bản, thể hiện việc cả cộng đồng dân cư nơi có tập quán thừa nhận, có
chứng thực về nội dung của chính quyền địa phương nơi có tập quán về tập quán
đó. Nếu không chứng minh được tính cộng đồng của tập quán thì nó sẽ không có
giá trị chứng cứ.
Tuy nhiên cần chú ý là tập quán được sử dụng làm chứng cứ phải không
quyền lợi chính đáng cho đương sự, bảo đảm cho việc giải quyết của Toà án được
đúng đắn, khách quan và để khắc phục tình trạng tài liệu giả; chứng cứ giả. Trong
thời buổi khoa học, kỹ thuật phát triển như hiện nay, thì việc ghép hình ảnh, lồng
ghép tiếng không khó. Do đó các tài liệu đọc được mà không phải là bản chính
hoặc bản sao nhưng không có chứng nhận của cơ quan Công chứng Nhà nước hoặc
không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền thì tài liệu đó không phải là chứng
cứ. Đối với các tài liệu nghe được, nhìn được mà không có văn bản xác nhận xuất
xứ của tài liệu đó hoặc không có văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu
hình đó thì tài liệu nghe được, nhìn được đó cũng không phải là chứng cứ.
Thứ ba, việc khẳng định vai trò quan trọng của chứng cứ, nguồn chứng cứ,
phương tiện chứng minh trong việc giải quyết vụ việc dân sự đã làm tăng thêm
trách nhiệm cho cả người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng. Đối với
người tham gia vào quá trình tố tụng họ có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ gắn liền với
sự thật khách quan của vụ án, không được ỷ lại vào người khác hoặc cơ quan tiến
hành tố tụng. Đối với sự tham gia của tòa án với tư cách là cơ quan tiến hành tố
tụng trong quá trình thu thập chứng cứ luôn luôn phải là chủ thể tích cực, chủ động
Trang 10
trong điều tra và xác minh chứ không phải là “chỉ điều tra, xác minh khi cần thiết”.
Trong quá trình xét xử, Tòa án có trách nhiệm tìm hiểu xem chứng cứ đó có phản
ánh sự thật khách quan của vụ việc hay không và đưa ra phán quyết sao cho đúng
đắn.
Thứ tư, các tình tiết sự việc thuộc đối tượng chứng minh trong các vụ việc
dân sự rất phong phú đã dẫn đến sự đa dạng các phương tiện chứng minh được sử
dụng để làm rõ các vấn đề của vụ việc dân sự.
Có thể nói chứng cứ có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gần như mang
tính chất quyết định trong việc xác định được kết quả thắng – thua của các bên
trong một vụ án. Vì vậy, việc xác định và đánh giá thế nào là chứng cứ và các vấn
đề liên quan đến chứng cứ nhất thiết phải được qui định rõ ràng, chặt chẽ, tránh
tình trạng không phải bất kỳ cái gì, do bất kỳ bên nào đưa ra cũng đều được xem là
chứng cứ
cứ và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, cho sự phản đối yêu cầu của người khác
là thuộc về đương sự. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà
không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả
của việc không chứng minh hoặc chứng minh không đầy đủ. Điều 84 BLTTDS quy
định cụ thể thêm là: Trong quá trình Toà án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có
quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Toà án; nếu đương sự không nộp hoặc
nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ
đó. Như vậy, BLTTDS quy định đương sự có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ và hậu
quả của việc không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ nhưng lại không quy
định về thời hạn mà đương sự phải thực hiện việc giao nộp chứng cứ. Do đó, có
nhiều đương sự sau khi khởi kiện đã không tự giác thu thập chứng cứ để giao nộp
cho Toà án hoặc cố tình trì hoãn việc giao nộp chứng cứ làm kéo dài thời hạn giải
quyết vụ án. Thậm chí có chứng cứ nhưng chỉ chờ đến khi xét xử phúc thẩm mới
Trang 12
chịu nộp, hậu quả dẫn đến việc cấp phúc thẩm huỷ hoặc sửa án sơ thẩm là khó
tránh khỏi. Vấn đề này thực tế đã gây không ít phiền phức cho Toà án. Đây cũng là
một khoảng trống cần phải được lấp đầy.
Một thực tế hiện nay khi giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai khi một
trong các bên đương sự giao nộp cho Toà án các giấy tờ liên quan như giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), trích lục bản đồ địa chính thì bên đương sự
khác lại cho rằng các giấy tờ tài liệu đó là không đúng với thực tế mà có sự sai sót
của cơ quan quản lý đất đai. Với tình huống này có nơi Toà án không cần xem xét
tính xác thực về lời khai của đương sự mà căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu đó để đưa
ra phán quyết. Ngược lại, có Toà án thì lại đi điều tra xác minh, căn cứ vào lời khai
của đương sự, người làm chứng để phủ nhận giá trị pháp lý của các loại giấy tờ tài
liệu này. Vậy, trong hai cách giải quyết đó cách nào là đúng pháp luật?
Điều 80 BLTTDS còn quy định về những tình tiết, sự kiện mà đương sự
không phải chứng minh trong đó có các tình tiết, sự kiện được xác định trong các
bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; những tình tiết, sự kiện đã được
có quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ. Nếu cá nhân, cơ
quan, tổ chức không cung cấp được chứng cứ cho đương sự, thì phải thông báo
bằng văn bản có ghi rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ cho đương
sự biết để họ chứng minh với Toà án là họ đã thu thập chứng cứ nhưng không có
kết quả và yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ”. Thực tế khi giải quyết các vụ án mà
có các tài liệu, chứng cứ đang do cơ quan, tổ chức lưu giữ, quản lý thì việc thu thập
chứng cứ không hề đơn giản. Trong rất nhiều vụ án mặc dù đương sự đã cất công đi
lại nhiều lần yêu cầu cơ quan, tổ chức cung cấp các chứng cứ liên quan đến việc
giải quyết vụ án để họ giao nộp cho Toà án nhưng đều bị từ chối với đủ mọi lý do
và việc từ chối đó cũng chỉ bằng lời nói, thái độ, cử chỉ. Với cách từ chối này
Trang 14
đương sự khó có thể chứng minh việc họ đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn
không thu thập được chứng cứ để làm cơ sở yêu cầu Toà án thu thập.
2. Một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy
định của pháp luật về chứng cứ, nguồn của chứng cứa và phương tiện chứng
minh.
Thứ nhất: Để bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp của đương sự được đầy đủ và
toàn diện hơn thì pháp luật tố tụng dân sự không nên quá coi trọng đến mức tuyệt
đối hoá nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh của đương sự như hiện nay.
Bởi lẽ trong quá trình tố tụng, do thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng hoặc vì
nguyên nhân nào đó mà các đương sự không thể đưa ra được tất cả các chứng cứ để
chứng minh sẽ đồng nghĩa với việc các quyền lợi hợp pháp của họ sẽ không được
bảo đảm đầy đủ. Vì vậy, sự tham gia của tòa án với tư cách là cơ quan tiến hành tố
tụng luôn luôn phải là chủ thể tích cực, chủ động tham gia thu thập chứng cứ và
điều tra, xác minh chứ không phải là “chỉ điều tra, xác minh khi cần thiết” như quy
định của pháp luật tố tụng hiện nay. Điều đó cho thấy rằng “qua công tác kiểm tra,
xét xử, công tác xét xử phúc thẩm và xét xử giám đốc thẩm cho thấy trong công tác
giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình cũng còn nhiều thiếu sót, chủ yếu
là do việc điều tra, thu thập chứng cứ, tài liệu của vụ án chưa đầy đủ, chưa chính
xác, thậm chí còn có những trường hợp thiếu khách quan” (Báo cáo công tác ngành
không, và ai phải chứng minh (nếu có).
Thứ tư: Trên thực tế, trong tố tụng hình sự có quy định đầy đủ về các
phương tiện chứng minh (Khoản 2, Điều 64, Bộ luật Tố tụng Hình sự), trong khi
đó, Bộ luật Tố tụng Dân sự lại không có quy định nào về phương tiện chứng minh.
Vì vậy trong tố tụng dân sự, các chủ thể sẽ sử dụng những phương tiện nào để
chứng minh và chứng minh như thế nào thì được coi là hợp pháp. Do đó, nếu
không được giải thích đầy đủ, các chủ thể sẽ rất dễ nhầm lẫn, thậm chí là đồng nhất
giữa các khái niệm “nguồn chứng cứ”, “phương tiện chứng minh” và “chứng cứ.
Trang 16
C. KẾT THÚC VẤN ĐỀ
Chứng cứ, nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là một trong những yếu tố
quan trọng nhất của pháp luật tố tụng dân sự. Rút kinh nghiệm từ thực tiễn đạt được,
trong thời gian tới, các nhà làm luật cần phát huy những ưu điểm đạt được và có những
biện pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại, những lỗ hổng, sự chồng chéo của luật
hiện hành. Để nâng cao chất lượng điều tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ có đầy
đủ, chính xác và khách quan là tiền đề cho những cơ sở của những bản án, quyết định
đúng đắn.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nxb
Tư pháp, Hà Nội 2005.
2. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004.
3. Bộ luật Tố tụng hình sự 2003.
4. Kỷ yếu Hội thảo về pháp luật Tố tụng Dân sự năm 1999 tại Nhà
pháp luật Việt - Pháp.
5. Báo cáo công tác của ngành Tòa án năm 2001.
6. Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng
thẩm phán TANDTC
Trang 17