LUẬN VĂN
Sự hình thành và phát triển của
Kiểm Toán
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đã trở thành nhu
cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh và nâng cao hiệu quả quản lý của
các Doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh và hội nhập.
Kiểm toán nói chung cũng như kiểm tra kế toán nói riêng đã được
quan tâm ngay từ thời kì bắt đầu xây dựng đất nước. Trong cơ chế kế hoạch
hóa tập trung công tác kiểm tra và bộ máy kiểm tra cũng được tổ chức phù
hợp với cơ chế này, kiểm tra của nhà nước chủ yếu thông qua xét duyệt hoàn
thành kế hoạch, xét duyệt quyết toán và thanh tra các vụ việc. Khi chuyển
sang cơ chế thị trường, cơ chế duyệt quyết toán tỏ ra không phù hợp.
Sự chuyển đổi này có rất nhiều vấn đề bức xúc cần phải giải quyết về mặt lí
luận và thực tiễn, từ quản lí vĩ mô đến quản lí vi mô của nền kinh tế. Một
trong những vấn đề cấp bách đó là: phải đảm bảo các thông tin kinh tế qua
lại trong các mối quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân, thể nhân, trong hoạt
động quản lí vĩ mô và vi mô của Nhà nước về các hoạt động kinh tế xã hội
phải đáng tin cậy, phải có sự đảm bảo về mặt pháp lí và kinh tế đối với độ
tin cậy các thông tin đó Đây chính là vấn đề then chốt nhất để hạn chế các
mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường. Để giải quyết vấn đề này, đồng thời
với việc chuyển đổi cơ chế quản lí của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường, hệ thống bộ máy tổ chức kiểm toán Việt Nam đã ra đời.
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
2
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Để làm rõ những vấn đề nêu ra ở trên ta đi tìm hiểu “Sự hình thành và
phát triển của Kiểm Toán”.
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
3
2. Đối tượng trực tiếp của Báo cáo Kiểm toán là báo cáo tài chính của
một tổ chức hay thực thể kinh tế. Thông thường Báo cáo tài chính là các
BCĐKT, BCKQKD và BCLCTT,….
3. Khách thể của Kiểm toán được xác đinh là các thực thể kinh tế hay
một tổ chức.
4. Người thực hiện Kiểm toán là những KTV Độc lập với khách thể
Kiểm Toán có nghiệp vụ chuyên môn và được cơ quan có thẩm quyền
chứng nhận.
5. Cơ sở để thực hiện Kiểm Toán là những luật định, tiêu chuẩn hay
chuẩn mực chung.
Tuy nhiên những quan điểm này chỉ mới nhìn nhận trên giác độ Kiểm
toán tài chính với đối tượng chủ yếu là các BCTC do KTV độc lập tiến
hành trên các cơ sở chuẩn mực chung.
Một số quan điểm khác cho rằng: “ Kiểm toán đồng nghĩa với việc
kiểm tra kế toán, nó thực hiện chức năng rà soát thông tin và chứng từ kế
toán đến việc tổng hợp Cân đối kế toán. Đây là quan điểm mang tính chất
truyền thống trong điều kiện kiểm tra chưa phát triển và trong cơ chế kế
hoạch hóa tập trung. Trong nền kinh tế thị trường, người quan tâm đến
thông tin kế toán không chỉ có nhà nước mà còn có các nhà đầu tư, nhà
quản lý, khách hàng và người lao động. Vì vậy công tác kiểm tra kế toán
cần được thực hiện rộng rãi đa dạng, song lại phải khách quan và trung
thực, đủ sức thuyết phục và tạo long tin cho người quan tâm. Trong điều
kiện đó việc tách chức năng kiểm toán ra hoạt động độc lập là một xu
hướng tất yếu của lịch sử.
Kiểm toán là quá trình xác minh và bày tỏ ý kiến và thực trạng
hoạt động được kiểm toán bằng các phương pháp kỹ thuật của kiểm toán
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
5
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
chứng từ và ngoài chứng từ do các KTV có trình độ nghiệp vụ tương
- Tư vấn cho quản lí nhà nước trong việc phát hiện sự bất cập của chế
độ tài chính kế toán, qua đó kiến nghị với các cơ quan quản lí nhà
nước xem xét, nghiên cứu, hoàn thiện cho phù hợp.
- Tư vấn cho việc quản lí của các đơn vị được kiểm toán. Thông qua
việc chỉ ra những sai sót, yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ,
công tác quản lí tài chính, kiểm toán viên gợi mở, đề xuất các biện
pháp khắc phục hoàn thiện đối với đơn vị. Trong nhiều trường hợp,
thông qua kiểm toán, các tổ chức đơn vị doanh nghiệp đã kịp thời
chấn chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ, chế độ quản lí tài chính ở đơn
vị mình. Qua đó khai thác có hiệu quả hơn năng lực tài chính phát
triển đơn vị.
3.Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán trong quản lí:
Kiểm toán không phải là hoạt động “tự thân” và “vị thân”. Kiểm toán
sinh ra từ yêu cầu của quản lí và phục vụ cho yêu cầu của quản lí. Từ đó có
thể thấy rõ ý nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt:
Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho “những người quan tâm”. Trong
cơ chế thị trường, có nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản
ánh của nó trong tài liệu kế toán, bao gồm:
- Các cơ quan nhà nước
- Các nhà đầu tư
- Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lí khác
- Người lao động
- Khách hàng, nhà cung cấp và những người quan tâm khác
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
7
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Có thể nói việc tạo ra niểm tin cho những người quan tâm là yếu tố quyết
định sự ra đời và phát triển của kiểm toán với tư cách là một hoạt động độc
lập.
Thứ hai, kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp
- Thông qua việc kiểm toán, thực hiện công tác tư vấn, góp ý kiến với các
đơn vị được kiểm toán sửa chữa, khắc phục sai sót, vi phạm, chấn chỉnh
công tác kế toán của đơn vị để đảm bảo chỉ tiêu tiết kiệm và hiệu quả nhất.
Đồng thời đề xuất với thủ tướng chính phủ việc sửa đổi, cải tiến cơ chế quản
lí tài chính kế toán cần thiết.
2. Kiểm toán độc lập ( KTĐL )
KTĐL là quá trình kiểm tra các số liệu, tài liệu của các doanh nghiệp
(DN) do các kiểm toán viên độc lập thực hiện để xác nhận tính trung thực,
hợp lí của các báo cáo tài chính và cung cấp kết quả kiểm toán cho những
người trả phí kiểm toán .
Các số liệu, tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán của đơn vị đã được
kiểm tra, xác nhận của KTĐL là căn cứ tin cậy đáp ứng yêu cầu của đơn vị,
của các cơ quan quản lí nhà nước và của tất cả các tổ chức, cá nhân có quan
hệ và quan tâm tới hoạt động của đơn vị. Ngoài chức năng chính là kiểm tra
xác nhận tính trung thực, hợp lí của các thông tin trong BCTC, các tổ chức
KTĐL còn được thực hiện các chức năng như:
- Giám định tài chính kế toán
- Thực hiện các dịch vụ tư vấn về quản lí tài chính kế toán, thuế
- Xác định giá trị vốn của DN trong các trường hợp góp vốn liên doanh, cổ
phần hoá, phá sản
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
9
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
3. Kiểm toán nội bộ (KTNB)
KTNB là một tổ chức kiểm toán do các đơn vị tổ chức (Bộ, ngành,
đơn vị, tổ chức, DN ) tự lập ra trong bộ máy quản lí của mình nhằm mục
đích phục vụ cho các yêu cầu quản lí, điều hành của các nhà quản lí của đơn
vị.
Nhiệm vụ của KTNB:
- Quản lí và bảo vệ tài sản của đơn vị
Đến cuối thời kỳ cổ đại, sản xuất đã phát triển, của cải dư thừa ngày
càng nhiều, người sở hữu và người quản lý tài sản tách rời nhau. Nhu cầu
kiểm tra tài sản và các khoản thu, chi ngày càng phức tạp, hình thức kế toán
đơn giản không đáp ứng được nhu cầu quản lý. Vì vậy kiểm tr addoocj lập
đã phát sinh trước hết ở La Mã, pháp và Anh.
Ở La Mã, vào thế kỷ III TCN, các nhà cầm quyền đã tuyể dụng các
quan chức có chuyên môn và độc lập để kiểm tra các báo cáo của ngời quản
lý về tình hình tài sản của họ và đưa ra ý kiến chấp nhận hoặc yêu cầu sửa
đổi các báo cáo này. Hình thức kiểm tra được thực hiện bằng cách người
quản lý đọc to các báo cáo cho người kiểm tra dộc lập nghe rồi chấp nhận
Ở Pháp, vua Charlemagne cũng theo tiền lệ của La Mã đã tuyển dụng
các quan chức cao cấp phụ trách giám sát công việc quản lý, đặc biệt là các
nghiệp vụ tài chính của các quan chức địa phương và trình bày lại kết quả
với Hoàng đế hoặc các vị cận thần
Ở Anh, theo văn kiện của Nghị viện, vua Edouard đệ nhất cho các
Nam tước quyền tuyển dụng kiểm toán viên, bản thân vua cũng cho đối
chiếu lại các tài khoản thuộc di chúc của cố Hoàng hậu Elonor của Ngài
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
11
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
Từ thời Trung đại trở đi, đã có sự hoàn thiện và phát triển dần của kế
toán, chẳng hạn với các khoản giao dịch đã buộc hai bên cùng ghi sổ, do đó
phát sinh quan hệ đối chiếu như một hình thức kiểm tra kế toán
Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi, sự xuất hiện của kế toán kép do một nhà
toán học người Ý là Luca Paciola, đã khiến cho phương pháp tự kiểm tra của
kế toán hoàn thiện hơn, đã đáp ứng đủ nhu cầu quản lý và an toàn tài sản lúc
bấy giờ. Tiếp đó, từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX, các phương pháp kế toán và
kỹ thuật thông tin phát triển đến mức tinh xảo đã đáp ứng ngày càng tốt hơn
yêu cầu của quản lý.
Đến năm 30 của thế kỷ XX sự phá sản của các tổ chức tài chính và
nước theo định hướng XHCN. Điều khác cơ bản so với nền kinh tế thị
trường nói chung ở chỗ, nền kinh tế nước ta do nhà nước XHCN quản lí và
hướng đi lên CNXH.
Vai trò quản lí của nhà nước là giữ đúng định hướng phát triển của nền
kinh tế theo mục tiêu, quan điểm và đường lối của Đảng, phát huy những
mặt tích cực, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực
vốn có của nền kinh tế thị trường. Hơn 10 năm qua đã chứng tỏ đường lối
đổi mới đúng đắn của Đảng ta. Nền kinh tế nước ta đã ra khỏi khủng hoảng
và đạt được những thành tựu đáng kể, nhân dân phấn khởi, thế giới đánh giá
cao và khích lệ. Tuy nhiên, những mặt trái của cơ chế thị trường cũng ngày
càng bộc lộ rõ nét và gây ảnh hưởng không nhỏ, thậm chí có một số biểu
hiện đáng lo ngại về kinh tế xã hội. Mặc dù chúng ta có nhiều cố gắng ngăn
chặn và xử lí, song tình trạng buôn lậu, tham nhũng, hoạt động kinh doanh
trái pháp luật, trốn thuế, gây thất thoát ngân sách, tài sản nhà nước ngày
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
13
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
càng lớn và khá phổ biến ở nhiều nơi. Ví dụ : Vụ Tamexco thất thoát khoảng
400 tỉ đồng, vụ Tân Trường Sanh khoảng vài nghìn tỉ đồng, vụ Epco-Minh
Phụng tới nhiều nghìn tỉ đồng
Một nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên, đó là: Khi đi vào kinh tế thị
trường chúng ta đã quá chậm và chưa tập trung đúng mức cần thiết cho việc
hình thành và tăng năng lực hệ thống kiểm toán bao gồm: KTNN, KTĐL và
KTNB các đơn vị kinh tế cơ sở, trước hết là doanh nghiệp nhà nước. Kinh
nghiệm thế giới cho thấy là ở mọi nước kinh tế thị trường phát triển đều cần
phải có hệ thống kiểm toán mạnh. Có thể nói đây là một công cụ đắc lực
không thể thiếu để quản lí kinh tế của mỗi quốc gia.
Bên cạnh đó, chặng đường gần hai mươi năm chuyển từ nền kinh tế hoạt
động theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hoạt động
theo cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước, tuy ngắn ngủi nhưng đã
kiểm tra và đưa ra lời kết luận là BCTC của DN lập ra có phản ánh đúng
thực trạng tài chính của DN không Và từ đây hoạt động kiểm toán độc lập
thật sự là cần thiết cho các doanh nghiệp trong các hoạt động kinh doanh
trên thương trường vốn có nhiều rủi ro.
Từ những điều phân tích trên, ta thấy, việc hình thành và phát triển hệ
thống bộ máy tổ chức kiểm toán Việt Nam trong điều kiện hiện nay là hết
sức cần thiết. Do đó, để nền kinh tế thị trường hoạt động hiệu quả hơn ngày
13/5/1991 Bộ tài chính đã kí hai quyết định thành lập hai công ty kiểm toán
đầu tiên là Công ty kiểm toán Việt Nam với tên giao dịch là VACO và Công
ty dịch vụ kế toán Việt Nam với tên giao dịch la ASC sau này đổi tên là
công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán – AASC (Quyết định
639 – TC/QĐ/TCCB ngày 14/9/1993). Số lượng công ty kiểm toán đã tăng
lên đáng kể theo sự phát triển của thị trường.
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
15
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
2. Quá trình hình thành và phát triển các hệ thống bộ máy tổ chức kiểm
toán Việt Nam
2.1. Kiểm toán độc lập(KTĐL).
Có thể nói rằng, sự mong muốn có các BCTC trung thực đã tồn tại
ngay từ khi các cá nhân có quan hệ hợp đồng với người khác. Cũng như các
loại kiểm toán khác, KTĐL ra đời xuất phát từ nhu cầu khách quan kiểm tra
và xác nhận độ tin cậy của BCTC theo các chuẩn mực và nguyên tắc đã
được xây dựng. KTĐL ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của nền
kinh tế thị trường. ở nước ta, hoạt động KTĐL đã hình thành và phát triển từ
trước ngày giải phóng miền Nam: Các văn phòng hoạt động độc lập với các
kế toán viên công chứng hoặc các giám định viên kế toán và cả văn phòng
kiểm soát quốc tế như SGV, Arthur Andersen, Price Waterhouse Sau
thống nhất đất nước, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, KTĐL không tồn
tại. Vì vậy, có thể nói KTĐL mới thực sự xuất hiện từ sau khi chuyển đổi cơ
bằng 30 năm phát triển KTĐL ở một số nước.
Sự trưởng thành của KTĐL, trước hết là ở đội ngũ kiểm toán viên
(KTV) chuyên nghiệp. Ngay từ khi thành lập, các công ty kiểm toán đã rất
chú trọng đến việc tuyển chọn KTV và nâng cao chất lượng đội ngũ nhân
viên. Tháng 10/1994, lần đầu tiên Bộ Tài chính tổ chức thi tuyển và cấp
chứng chỉ đặc cách cho 49 người đủ điều kiện , tiêu chuẩn KTV chuyên
nghiệp. Đến 30/11/2001, Bộ Tài chính đã tổ chức 8 kì thi tuyển KTV cho
người Việt Nam, 3 kì thi sát hạch cho người nước ngoài và đã cấp 531
chứng chỉ KTV cho những người đạt tiêu chuẩn. Cũng đến 30/11/2001, cả
nước có 2127 nhân viên làm việc trong 34 công ty kế toán, kiểm toán, trong
đó có: 1395 nhân viên chuyên nghiệp, có 487 KTV gồm: 396 KTV người
Việt Nam và 38 KTV người nước ngoài. Trong các KTV người Việt Nam,.
đã có 16 người đạt trình độ và được cấp chứng chỉ KTV quốc tế. Nhìn chung
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
17
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
đội ngũ KTV người Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Trình độ chuyên môn và
kinh nghiệm nghề nghiệp đã thành thục hơn nhiều. Đặc biệt, để đáp ứng yêu
cầu thực tế phát sinh, tổ chức quốc tế là Viện kế toán viên công chứng Anh
quốc (ACCA) đã thực hiện chương trình đào tạo cơ bản theo tiêu chuẩn
quốc tế cho KTV ở Việt Nam. Tháng 5/2001, ACCA đã cấp chứng chỉ CPA
của Anh cho 9 người Việt Nam đầu tiên đã tốt nghiệp. Chương trình này sẽ
được tiếp tục với sự hợp tác của Bộ Tài chính Việt Nam.
Chính sự phát triển đông đảo của đội ngũ KTV đã mở rộng và làm
phong phú thêm các loại hình dịch vụ kiểm toán và kế toán. Cùng với sự
phát triển về số lượng công ty và quy mô từng công ty, các dịch vụ do các
công ty kiểm toán cung cấp đã không ngừng đa dạng hoá theo hướng mở
rộng từng loại dịch vụ chi tiết trong dịch vụ kiểm toán (như kiểm toán
BCTC, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán soát xét, kiểm
toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB), mở rộng dịch vụ tư vấn (như tư
một trong 5 hãng kiểm toán hàng đầu thế giới. VACO hiện tại là công ty
kiểm toán duy nhất tại Việt Nam đạt trình độ quốc tế, là đại diện của DTT
tại Việt Nam. Thông qua hình thức hợp tác tối ưu với DTT, đồng thời biết
khai thác tốt lợi thế của mình (tập thể đội ngũ KTV tinh nhuệ đạt trình độ
quốc tế được đào tạo có hệ thống trong và ngoài nước; bộ máy quản lí là ban
giám đốc của VACO am hiểu sâu sắc về tập quán kinh doanh, luật pháp Việt
Nam). VACO đã đạt được những thành tựu đáng kể trong 9 năm kể từ ngày
thành lập, góp phần vào sự thành công của ngành kiểm toán còn non trẻ tại
Việt Nam .
Trong 9 năm qua, VACO đã kí kết và thực hiện hợp đồng cho hơn
3000 khách hàng trong và ngoài nước. Riêng năm 1999, VACO đã kí hơn
450 hợp đồng cung cấp dịch vụ kiểm toán và tư vấn cho nhiều loại hình
khách hàng, tăng 134% so với năm 1998 và tăng gấp nhiều lần so với những
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
19
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
năm đầu phát triển. Các dịch vụ kiểm toán của công ty chủ yếu tập trung vào
các dự án do ngân hàng và các tổ chức quốc tế tài trợ (ngân hàng thế giới,
ngân hàng phát triển châu á); các tổng công ty lớn đầu ngành ở Việt Nam
như: Tổng công ty Điện lực Việt Nam, tổng công ty Hàng không Việt Nam,
tổng công ty Dầu khí, tổng công ty Than, tổng công ty Ximăng, tổng công ty
Thuốc lá, tổng công ty Cao su, tổng công ty Bưu chính viễn thông, tổng
công ty Xăng dầu, tổng công ty Dệt may Việt Nam
Nhằm đa dạng hóa khách hàng và dịch vụ, VACO đã mở rộng dịch vụ
kiểm toán cho các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, các công ty
cho thuê tài chính, các công ty bảo hiểm và mở rộng dịch vụ tư vấn thuế,
quản lí, kế toán, tư vấn đầu tư, đặt văn phòng đại diện, chi nhánh công ty
nước ngoài, trợ giúp cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước hoạt động có
hiệu quả. Với phương châm cung cấp dịch vụ có chất lượng tốt nhất cho
khách hàng, tranh thủ sự giúp đỡ về kĩ thuật của các chuyên gia nước ngoài,
hiện luật thuế GTGT và thuế TNDN, công ty cũng phải cạnh tranh gay gắt
với các công ty kiểm toán có hạng trên thế giới của các hãng kiểm toán thế
giới tại Việt Nam như công ty Price Water House Coopers; công ty KPMG;
công ty E+Y; công ty A+A nhưng VACO vẫn được đánh giá là con chim
đầu đàn của ngành kiểm toán Việt Nam .
b. Công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán, kiểm toán AASC
Ra đời cùng với VACO năm 1991, lúc mới thành lập, AASC gặp rất
nhiều khó khăn. Toàn công ty chỉ có 5 cán bộ nhân viên và vốn liếng kinh
doanh chưa đầy 200 triệu đồng, trong khi đó thị trường dịch vụ kế toán,
kiểm toán tuy mới hình thành nhưng đã tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Các
công ty kiểm toán nước ngoài với kinh nghiệm hoạt động hàng trăm năm đã
mở văn phòng đại diện quảng bá uy tín thương hiệu, còn các công ty kiểm
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
21
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
toán trong nước thì nhanh chóng chiếm thị phần, AASC phải chịu một sức
ép cạnh tranh rất lớn. Trước những khó khăn đó, bằng nhiều biện pháp tháo
gỡ và được sự giúp đỡ công tâm của lãnh đạo bộ Tài chính, AASC đã từng
bước ổn định và phát triển đi lên. Nếu doanh thu của công ty năm 1992 là
840 triệu thì năm 1995 là 4 tỉ 378 triệu và năm 2000 tăng lên 17,5 tỉ. Số lợi
nhuận tương ứng là: 245 triệu năm 1992, 924 triệu năm 1995 và 4,5 tỉ năm
2000. Có được những kết quả như vậy là nhờ AASC đã biết chú trọng đến
việc mở rộng khách hàng. Đến nay, AASC đã trở thành đối tác của các tổng
công ty 91 như: tổng công ty Bưu chính viễn thông, tổng công ty Hàng
không Việt Nam, tổng công ty Than Việt Nam, tổng công ty Dệt may Việt
Nam, tổng công ty Điện lực Việt Nam, tổng công ty Thép Việt Nam, tổng
công ty Ximăng ; các tổng công ty 90 như: tổng công ty Công trình giao
thông I, tổng công ty Xăng dầu, tổng công ty Xây dựng Hà Nội Ngoài ra
còn hàng loạt DN liên doanh, các ngân hàng thương mại và các dự án đầu tư
phát triển như: Dự án cải tạo quốc lộ 1 (WB 1 và WB 2); dự án quốc lộ 5, dự
công tác kiểm toán , công ty đã tư vấn cho nhiều DN khắc phục những sai
sót trong công tác quản lí kinh tế tài chính, từng bước hoàn thiện hệ thống
kiểm soát nội bộ và hệ thống kế toán. Cùng với việc thực hiện nhiệm vụ
chính trị mà Nhà nước và bộ Tài chính giao cho, bằng vốn tích luỹ của mình,
AASC đã xây dựng và mua sắm trụ sở làm việc mới và mở thêm nhiều chi
nhánh, văn phòng đại diện tại nhiều tỉnh trong nước. Qua hơn 10 năm hoạt
động, sự trưởng thành của công ty đã được ghi dấu. Hiện nay, AASC đã có
hơn 200 cán bộ, nhân viên, trong đó có 60 người đã được cấp chứng chỉ
CPA Việt Nam. Cán bộ nhân viên của công ty là những chuyên gia có trình
độ đại học và trên đại học đã qua đào tạo thực tế, có khả năng đáp ứng tốt
các yêu cầu của công việc. Ngoài số cán bộ trên, công ty còn có một đội ngũ
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
23
GVHD: THS NGUYỄN THỊ HỒNG MINH
các công tác viên là các giáo sư, tiến sĩ, các giảng viên giàu kinh nghiệm
trong nhiều lĩnh vực.
2.2. Kiểm toán nhà nước(KTNN)
Trong bất cứ một chế độ xã hội nào, ngân sách nhà nước (NSNN) bao
giờ cũng là nguồn lực quan trọng nhất bảo đảm tài chính cho mọi lĩnh vực
hoạt động của bộ máy Nhà nước. Để tăng cường sự kiểm soát của nhà nước
trong việc sử dụng NSNN và công quỹ quốc gia, bảo đảm tính trung thực,
chính xác, hợp pháp và hợp lệ của việc sử dụng nguồn lực tài chính công,
ngăn ngừa sự xâm hại đối với tài sản nhà nước, xây dựng nhà nước pháp
quyền có hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lí kinh tế xã hội, đòi hỏi phải
thành lập một cơ quan độc lập với cơ quan trực tiếp quản lí ngân sách và tài
sản nhà nước để kiểm tra tính tuân thủ của việc sử dụng tiền của nhân dân
theo những quy định của pháp luật hiện hành, bảo đảm sự minh bạch về tài
chính và hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính này. Vì vậy, ngày 11/7/1994,
KTNN chính thức được thành lập trên cơ sở nghị định 70/CP của chính phủ.
Theo đó, KTNN là cơ quan thuộc chính phủ và là cơ quan kiểm tra tài chính
kiểm toán chuyên ngành, 1 văn phòng, 1 trung tâm KH&BDCB, 1 phòng
thanh tra và kiểm tra nội bộ thuộc tổng KTNN và 4 KTNN khu vực (phía
Bắc, miền Trung, miền Nam và Tây Nam Bộ). Từ chỗ ban đầu chỉ có hơn ba
chục người, đến nay, KTNN có gần 500 CBCNV, trong đó hơn 400 người là
KTV. Tuy còn thiếu nhiều so với nhiệm vụ lâu dài của ngành nhưng số cán
bộ hiện có đã đáp ứng được nhiệm vụ trong giai đoạn đầu thành lập. Nhìn
chung, đội ngũ cán bộ đều được đào tạo có hệ thống, số tốt nghiệp đại học
trở lên chiếm 88%, riêng KTV 100% đều đã tốt nghiệp đại học chuyên
ngành tài chính kế toán và một số chuyên ngành kinh tế kĩ thuật khác.
Nhìn lại những năm qua, KTNN đã có bước phát triển đáng kể trong
việc triển khai kế hoạch kiểm toán hàng năm với quy mô và chất lượng năm
SVTH: NGUYỄN THỊ VÂN K13KKT3
25