Tiểu luận môn Luật sư và Nghề luật sư: Phân tích các quy định của pháp luật về hình thức hành nghề của luật sư - Pdf 23

MỤC LỤC
2
Tiểu luận môn Luật sư và nghề luật sư
LỜI MỞ ĐẦU
Đối với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, thì công lý và đảm bảo công bằng xã hội
cho tất cả công dân của quốc gia đó là một trong những yêu cầu hàng đầu được đặt ra.
Luật sư với xứ mệnh và chức năng xã hội của mình luôn được đặt niềm tin là người góp
phần bảo vệ cán cân công lý, giúp đỡ những người yếu thế, đảm để tất cả mọi người luôn
được hưởng sự công bằng.
Có thể nói ở Việt Nam, càng ngày luật sư càng chiếm một vị trí, vai trò quan trọng
trong xã hội, đặc biệt trong thời điểm hiện nay khi Luật Luật sư 2006 được sửa đổi bổ
sung năm 2012 đã có hiệu lực. Ngày càng có nhiều luật sư và tổ chức hành nghề luật sư
được thành lập trong cả nước, cùng với đó, người dân cũng dần ý thức được sự cần thiết
của luật sư đối với các vấn đề pháp lý mà họ gặp phải trong cuộc sống hàng ngày. Họ tìm
đến luật sư thường xuyên hơn, thay vì tự mình giải quyết các vấn đề pháp lý, như vấn đề
về thủ tục hành chính, những thỏa thuận hay những hợp đồng kinh tế được ký kết với sự
tư vấn của luật sư ngày càng gia tăng.
Đối với luật sư, việc quy định họ được hành nghề dưới hình thức nào là vô cùng
quan trọng, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển của nghề luật sư, cũng như ảnh hưởng
đến nền tư pháp của cả đất nước. Trải qua một thời gian dài, từ Pháp lệnh tổ chức luật sư
1987, Pháp lệnh Luật sư 2001, và đến nay là Luật Luật sư 2006 đã được sửa đổi bổ sung
năm 2012, luật sư ngày càng được trao quyền tự do hơn trong việc lựa chọn hình thức
hành nghề. Xuất phát từ tầm quan trọng và cần thiết của những quy định về hình thức
hành nghề luật sư ở Việt Nam hiện nay, người học xin lựa chọn đề tài “Phân tích các quy
định của pháp luật về hình thức hành nghề luật sư” làm bài tiểu luận.
Đỗ Đức Trung Lớp Luật sư 15.2 A-Học viện Tư pháp
3
Tiểu luận môn Luật sư và nghề luật sư
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

thành lập một tổ chức hành nghề của riêng mình, do mình chịu trách nhiệm hoặc tham gia
cùng những luật sư khác thành lập một tổ chức hành nghề và cùng chịu trách nhiệm với
họ. Tuy nhiên để có thể làm được điều này thì luật sư phải đảm bảo điều kiện theo quy
định của Điểm a, Khoản 3 Điều 32 Luật Luật sư, theo đó: “Luật sư thành lập hoặc tham
gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm
việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách
cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan tổ chức”. Việc quy định điều kiện này đối
với cá luật sư muốn thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề nhằm mục đích
nâng cao trách nhiệm của người luật sư, cũng như đảm bảo các cá nhân, tổ chức được
hưởng những dịch vụ pháp lý tốt nhất khi tìm đến các tổ chức hành nghề. Thực tế cho
thấy trước khi có quy định này đã có rất nhiều tổ chức được thành lập bởi các luật sư
thiếu kinh nghiệm hành nghề dẫn đến việc cung cấp dịch vụ pháp lý thiếu chuyên nghiệp
cho khách hàng, làm ảnh hưởng đến uy tín của nghề luật sư.
Đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, Điều 49 Luật Luật sư quy định:
“1. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân là luật sư làm việc theo hợp đồng lao
động cho cơ quan, tổ chức không phải là tổ chức hành nghề luật sư.
2. Trường hợp hợp đồng lao động có thỏa thuận thì luật sư hành nghề với tư cách
cá nhân phải mua bảo hiểm trách nhiệm cho hoạt động hành nghề của mình theo quy
định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.
3. Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho
cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động,
trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình
sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân
công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.”
1.2. Các hình thức hành nghề luật sư ở Việt Nam từ khi có Pháp lệnh Tổ chức luật
sư 1987 đến nay.
Mặc dù nghề luật sư đã tồn tại từ rất lâu, trước cả khi nước ta ra đời năm 1945, tuy
nhiên phải mãi cho tới năm 1987 mới có một văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên quy
định một số vấn đề về luật sư và nghề luật sư. Cùng với sự thay đổi của tình hình kinh tế,
Đỗ Đức Trung Lớp Luật sư 15.2 A-Học viện Tư pháp

nào ngoại trừ hình thức hành nghề cho các tổ chức hành nghề luật sư. Điều 17 Pháp lệnh
Luật sư quy định: “Hình thức tổ chức hành nghề luật sư
1. Văn phòng luật sư.
2. Công ty luật hợp danh.
Luật sư có thể lựa chọn một trong hai hình thức quy định tại Điều này để hành nghề
luật sư.”
Từ đây có thể thấy, các nhà làm luật đã gián tiếp thông qua quy định về hình thức tổ
chức hành nghề luật sư để quy định về hình thức hành nghề của luật sư. Trong toàn bộ
Đỗ Đức Trung Lớp Luật sư 15.2 A-Học viện Tư pháp
6
Tiểu luận môn Luật sư và nghề luật sư
văn bản của Pháp lệnh không hề có một Điều nào quy định về việc luật sư có thể hành
nghề với tư cách cá nhân, điều này dẫn tới một hệ quả là khi các tổ chức muốn luật sư tư
vấn cho mình hoặc tham gia đại diện cho to chức trước tòa thì họ phải thông qua các tổ
chức hành nghề luật sư hoặc thông qua đoàn luật sư để cử luật sư tham gia vụ việc. Các
cơ quan, tổ chức có nhu cầu không được phép ký hợp đồng lao động với luật sư để họ làm
việc cho mình. Đây thực sự là một bất cập đối với việc hành nghề của các luật sư trong
giai đoạn này.
Thêm vào đó, trong giai đoạn này không có sự xuất hiện của hình thức công ty luật
trách nhiệm hữu hạn, việc không quy định hình thức kể trên là nhằm nâng cao tối đa trách
nhiệm của các luật sư khi tham gia hành nghề, nhằm đảm bảo cho quyền và lợi ích của
các khách hàng khi tìm đến các tổ chức hành nghề.
1.2.3. Các hình thức hành nghề luật sư theo Luật Luật sư 2006
Luật Luật sư là một bước tiến lớn trong việc quy định các vấn đề liên quan đến luật
sư, lần đầu tiên một nghề nghiệp được quy định trong luật. Các quy định về luật sư đã có
hệ thống rõ ràng hơn, từ việc quy định về luật sư, đào tạo nghề luật sư, hành nghề luật sư
đến việc quy định về tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức xã hội-nghề nghiệp của luật sư.
Luật Luật sư ra đời đánh dấu một cột mốc quan trọng đối với các luật sư, đó là việc
quy định tại Điều 23 về hình thức hành nghề luật sư, theo đó lần đầu tiên đã có một sự
công nhận chính thức về việc hành nghề luật sư với tư cách cá nhân cụ thể như sau:

Luật sửa đổi, bổ sung Luật Luật sư, vẫn giữ nguyên những nội dung cơ bản khi quy
định hình thức hành nghề luật sư đó là, luật sư có thể hành nghề trong các tổ chức hành
nghề luật sư bằng việc thành lập, tham gia thành lập tổ chức hành nghề hoặc làm việc cho
các tổ chức hành nghề thông qua hợp đồng lao động, luật sư có thể hành nghề với tư cách
cá nhân. Tuy nhiên trong mỗi hình thức lại có những sự thay đổi, đối với luật sư muốn
thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề thì phải có tối thiểu hai năm hành
nghề liên tục. Đối với luật sư hành nghề với tư cách cá nhân, mức độ tự do lựa chọn hình
thức hành nghề đã bị giảm đi khi các luật sư lựa chọn hình thức này chỉ có thể hành nghề
thông qua việc ký kết các hợp đồng lao động với các cơ quan, tổ chức không phải là tổ
chức hành nghề luật sư. Khi đã làm việc cho các cơ quan, tổ chức này thì luật sư không
được không được cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ
quan, tổ chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước yêu
cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng
và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành
viên.
Đỗ Đức Trung Lớp Luật sư 15.2 A-Học viện Tư pháp
8
Tiểu luận môn Luật sư và nghề luật sư
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI TRONG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH VỀ HÌNH
THỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
.1. Những vấn đề tồn tại trong việc áp dụng các quy định của pháp luật về hình
thức hành nghề luật sư
Tính đến hết năm 2013, Sở Tư pháp thành phố Hà Nội đang quản lý 855 tổ chức
hành nghề luật sư (trong đó có 440 Văn phòng luật sư, 276 Công ty Luật trách nhiệm hữu
hạn một thành viên, 83 Công ty luật trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên, 32 Công ty
luật hợp danh và 24 tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài). Ngoài ra có 34 Chi nhánh tổ
chức hành nghề luật sư trong nước, 14 Chi nhánh của Công ty luật nước ngoài và 15 luật
sư hành nghề với tư cách cá nhân. Tổng số Luật sư khoảng 2.200, tổng số người tập sự
hành nghề luật sư khoảng 1.800

và độc lập. Bởi vậy quy định hiện hành về các hình thức hành nghề luật sư có thể là rào
cản của sự phát triển đội ngũ luật sư cũng như nghề luật sư.
Có thể thấy rằng sự tự do trong hoạt động hành nghề của luật sư ảnh hưởng rất lớn
đến sự phát triển của nghề luật sư và đội ngũ luật sư, tuy nhiên hiện nay việc hành nghề
của luật sư còn chịu sự chi phối từ phía Đoàn luật sư. Dù luật sư lựa chọn bất kỳ hình
thức hành nghề nào thì họ cũng phải gia nhập, đăng ký tại Đoàn luật sư nơi mình muốn
hành nghề. Trong khi đó về bản chất Đoàn luật sư là tổ chức xã hội-nghề nghiệp, các
thành viên tham gia Đoàn luật sư là trên cơ sở tự nguyện. Chẳng hạn tại Hoa Kỳ, tổ chức
xã hội-nghề nghiệp của luật sư là Hiệp hội luật sư, và các thành viên tham gia hiệp hội
một cách tự nguyện, ngay cả các đối tượng không phải luật sư cũng có thể tham gia tổ
chức này bằng việc đóng một khoản phí theo quy định và nộp đơn xin vào hiệp hội.
.2. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hình thức hành nghề của
luật sư
Đối với hình thức Công ty luật trách nhiệm hữu hạn, cần phải có quy định nâng cao
trách nhiệm của trưởng tổ chức hành nghề hoặc thay đổi, cần xem xét có nên hủy bỏ hình
thức tổ chức hành nghề này để trách sự so sánh từ phía người sử dụng dịch vụ pháp lý
cũng như tránh việc xã hội có cái nhìn không đúng về tổ chức hành nghề luật sư rằng
trưởng Văn phòng luật sư thì chịu trách nhiệm vô hạn nên Văn phòng luật sư cung cấp
dịch vụ tốt hơn còn Giám đốc Công ty luật trách nhiệm hữu hạn chỉ chịu trách nhiệm
trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên dịch vụ của Công ty luật trách nhiệm hữu hạn
kém hơn. Đối với vấn đề này có thể tham khảo mô hình của các tổ chức hành nghề luật sư
tại một số quốc gia có nghề luật sư phát triển như, Mỹ, Anh, Đức…
Về việc nới rộng hơn sự tự do lựa chọn hình thức hành nghề của các luật sư, như đã
trình bày ở trên vấn đề này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nghề luật sư và đội
ngũ luật sư của nước ta. Bản chất nghề luật sư là một nghề tự do, vì vậy cần để luật sư
được tự do chọn hình thức hành nghề cho mình, không nhất thiết bắt buộc các luật sư phải
làm việc cho một tổ chức, cơ quan nào đó (thông qua ký kết hợp đồng lao động với cơ
quan, tổ chức đó). Ở một quốc gia có nghề luật sư cực kỳ phát triển như Hoa Kỳ, đa số
các luật sư hành nghề với danh nghĩa cá nhân (70%) hoặc liên kết với duy nhất một đồng
nghiệp khác (15%). Tuy nhiên, ở những thành phố lớn, luật sư thường làm việc trong một

cao của luật sư.
Bên cạnh những điểm tích cực đó, nghề luật sư vẫn còn gặp phải những vấn đề tồn
tại như đã nêu ở trên, đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền, các nhà làm luật cần có những
điều chỉnh sao cho phù hợp nhất với thực tiễn của việc hành nghề luật sư. Những thay đổi
đúng đắn từ những quy định pháp luật về luật sư sẽ góp phần không nhỏ cho sự phát triển
của đội ngũ luật sư, nâng cao trình độ, chất lượng của luật sư. Trong phạm vi nghiên cứu,
tự tìm hiêu và tầm hiểu biết có hạn, người thực hiện đề tài xin nêu ra những vấn đề trên
đây như một đóng góp nhỏ cho sự phát triển của nghề luật sư trong tương lai.
Đỗ Đức Trung Lớp Luật sư 15.2 A-Học viện Tư pháp
12
Tiểu luận môn Luật sư và nghề luật sư
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đỗ Hoàng Yến và Nguyễn Văn Bốn, “Luật sư và pháp luật về luật sư Việt Nam”, Đặc
san tuyên truyền pháp luật số 4.
2. Th.S Nguyễn Hữu Ước và TS. Nguyễn Văn Điệp, Tập bài giảng Luật sư và nghề luật
sư-Học viện Tư Pháp.
3. Website http://www.vanphongluatsu.com.vn/danh-gia-ket-qua-cong-tac-nam-2013-ve-
hoat-dong-luat-su/
4. Nghề luật sư ở Mỹ - Luật sư Di trú Mỹ, http://www.dautumy.us/usa/554/nghe-luat-su-
o-my-luat-su-di-tru-my
Đỗ Đức Trung Lớp Luật sư 15.2 A-Học viện Tư pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status