HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI TIỂU LUẬN
LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ
Chuyên đề:
PHÂN TÍCH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC
HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ
Họ và tên: Lê Thị Vân Anh
Sinh ngày: 02/ 06/ 1991
SBD: ĐH15 – 01
LỚP: TP. Đồng Hới- LS khóa XV
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
TP. Đồng Hới, tháng 11 năm 2014
2
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1. Khái niệm Luật sư và nghề luật sư 5
2. Mục đích nghiên cứu đề tài 5
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài 5
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I:
QUY ĐỊNH VỀ CÁC HÌNH THỨC HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ 6
1. Khái niệm về nghề luật sư: 6
2. Người đại diện theo pháp luật của tổ chức hành nghề luật sư 6
3. Các hình thức hành nghề luật sư 6
4. Các hình thức hành nghề luật sư ở Việt Nam khi có pháp lệnh tổ chức
luật sư 1987 7
bảo vệ công lý, công bằng cho xã hội.
Vì vậy nghề luật sư là một loại nghề đặc biệt có tính độc lập có nội
dung và phạm vi pháp luật xác định theo đó người hành nghề luật sư dựa vào
pháp luật để bảo vệ các giá trị liên quan đến con người và nhân phẩm, quyền
và lợi ích hợp pháp góp phần bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ pháp luật.
4
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
MỞ ĐẦU
1. Khái niệm Luật sư và nghề luật sư
Từ những lý luận trên ta có thể hiểu Luật sư và nghề luật sư như sau:
Luật sư là một nghề dựa trên sự am hiểu pháp luật và áp dụng pháp
luật. Nghề luật sư luôn gắn liền với sự hình thành và pháp triển của hệ thống
pháp luật . Có thể nói luật gia đầu tiên xuất hiện trong xã hội chính là nhà lập
pháp, là người định ra các quy phạm pháp luật . Sau đó là sự xuất hiện của
thẩm phán, người có nhiệm vụ bảo đảm các quy phạm pháp luật được tôn
trọng và cũng là người quyết định các hình phạt đối với người vi phạm các
quy phạm pháp luật.
Là một nghề luật có chức danh bổ trợ tư pháp với phương thức hành
nghề tự do tham gia các vụ việc tư vấn pháp luật đại diện khách hàng để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tác, góp phần bảo vệ công lý xã hội
công bằng,dân chủ, văn minh trong nền xã hội thời nay.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài
Mục đích đề tài là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống có
những vấn đề lý luận – thực tiễn về Luật sư và nghề luật sư . với kỹ năng giải
quyết vấn đề trong quá trình hành nghề , mang lại hiệu quả và chất lượng
pháp lý cho khách hàng.
3. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu vấn đề pháp luật về hình thức
hành nghề luật sư , phân tích tổng hợp các vấn đề cần nghiên cứu.
4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu của đề tài
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các luật sư, giám sát việc tuân theo pháp
luật, quy tắc đạo đức nghề nghiệp của luật sư và tham gia việc quản lý hành
nghề luật sư theo quy định của pháp lệnh này.
3. Các hình thức hành nghề luật sư
- Pháp lệnh luật sư 2001, điều 32 khoản 2 quy định hai hình thức hành
nghề luật sư, Văn phòng luật sư hoặc Công ty Luật hợp danh. Văn phòng luật
sư bao gồm hai loại.
6
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
+ Văn phòng luật sư cá nhân do một Luật sư đăng ký thành lập tự quản
lý và điều hành và tự chịu trách nhiệm toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt
động của văn phòng.
+ Công ty luật hợp danh là tổ chức hành nghề luật sư do ít nhất hai luật
sư đăng ký thành lập cùng quản lý và điều hành mọi hoạt động của công ty.
Tổ chức hành nghề luật sư có thể đứng ra thành lập tổ chức hành nghề
cho riêng mình. Do mình tự chịu trách nhiệm hoặc tham gia cùng những luật
sư khác, thành lập tổ chức hành nghề và cùng nhau chịu trách nhiệm.
Một số nước còn quy định hình thức luật sư hành nghề độc lập mà
không cần thành lập tổ chức hành nghề (Mỹ, Anh, Singapore, Canada) hoặc
cho phép hai hay nhiều luật sư biện hộ có chung văn phòng, chia sẻ một số
chi phí văn phòng nhưng không tham gia hợp danh với nhau (Italia, Đài Loan,
Anh, Pháp, Thuỵ Sỹ, Nhật).
4. Các hình thức hành nghề luật sư ở Việt Nam khi có pháp lệnh tổ chức
luật sư 1987
Căn cứ vào hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm
1992 và căn cứ vào nghị quyết của quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 8 về chương
trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2001. Pháp lệnh này quy định về tổ chức
luật sư và nghề luật sư.
Mặc dù nghề luật sư đã tồn tại rất lâu tuy nhiên mãi cho tới năm 1987
mới có một văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên, quy định một số vấn đề về
hành nghề của mình theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo
hiểm.
+ Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân không được cung cấp
dịch vụ pháp lý cho cá nhân, cơ quan, tổ chức khác ngoài cơ quan, tổ
chức mình đã ký hợp đồng lao động, trừ trường hợp được cơ quan nhà
nước yêu cầu hoặc tham gia tố tụng trong vụ án hình sự theo yêu cầu của
8
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
cơ quan tiến hành tố tụng và thực hiện trợ giúp pháp lý theo sự phân
công của Đoàn luật sư mà luật sư là thành viên.”
Với quy định trên luật sư có thể hoạt động với bất kỳ một tổ chức
nào mà không bị ràng buộc ngoại trừ đoàn luật sư .
7. Các hình thức hành nghề luật sư 2006 sửa đổi bổ sung 2012
Luật luật sư số 20/2012/QH13 ngày 20/11/2012 của Quốc hội sửa
đổi, bổ sung một số điều luật của luật luật sư.
Dự thảo sửa đổi luật bổ sung một số điều của luật luật sư lần thứ 7,
được lấy từ tài liệu phục vụ kỳ họp Quốc hội, trình Quốc hội xem xét
cho ý kiến và thông qua tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII.
Luật sửa đổi bổ sung Luật luật sư nhưng vẫn giữ nguyên những
nội dung cơ bản khi quy định về hình thức hành nghề luật sư, luật sư có
thể hành nghề trong các tổ chức hành nghề luật sư bằng việc thành lập
tham gia các tổ chức hành nghề thông qua các hợp đồng. Mỗi hình thức
đều có một sự thay đổi, luật sư muốn thành lập hoặc tham gia thành lập
tổ chức hành nghề thì phải có tối thiểu hai năm hành nghề liên tục.Tuân
thủ triệt để các quyền và nghĩa vụ,nội dung và trách nhiệm đã cam kết
với khách hàng, không cung cấp dịch vụ pháp lý,thực hiện các hoạt động
nghề nghiệp trái pháp luật, không thực hiện và quản lý dịch vụ pháp lý
cho khách hàng có quyền lợi đối lập.
9
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
nhân. Tổng số Luật sư khoảng 2.200, tổng số người tập sự hành nghề luật sư
khoảng 1.800.
Qua những con số nói trên so với những năm trước số lượng hành nghề
luật sư tăng đáng kể, có được sự phát triển như vậy nhờ pháp luật tạo điều
kiện cho luật sư có cơ hội phát triển tải năng của nghề luật.
+Theo quy định Luật luật sư thì một luật sư chỉ được thành lập Văn
phòng luật sư , thành lập hoặc tham gia thành lập Công ty luật tại địa phương
nơi có đoàn luật sư mà luật sư đó là thành viên.Trong trường hợp luật sư ở
các đoàn luật sư khác nhau cùng tham gia thành lập một Công ty luật có thể
lựa chọn thành lập và đăng ký hoạt động tại địa phương nơi có đoàn luật sư
mà một trong các luật sư đó là thành viên.
+ Trong hoạt động hành nghề luật sư, đây là một nghề tự do bởi người
hành nghề luật sư cũng như các tổ chức hành nghề luật sư không phải các tổ
chức nhà nước . không phải là cán bộ công chức nhà nước.Người và tổ chức
hành nghề luật sư hoạt động trong các chuyên môn và với một loại hình đặc
biệt dịch vụ pháp lý.Là nghề có chức năng xã hội bảo vệ pháp lý phát triển
kinh tế và xây dựng xã hội công bằng dân chủ ăn minh.
+Ở Việt Nam nghề luật sư có từ thời pháp thuộc trước những năm 1930
các luật sư người pháp chiếm độc quyền hành nghề bào chữa.Pháp lệnh luật
sư năm 2001 và luật sư năm 2006 được ban hành với các quy định đầy đủ về
hành nghề luật sư .
+Văn phòng luật bao gồm khoảng từ 10 đến 200 luật sư. Luật sư hành
nghề với danh nghĩa cá nhân 70%. Luật luật sư 2006 có lẽ là phù hợp hơn với
xu thế hiện nay của nghề luật sư, cũng như thúc đẩy sự phát triển của nghề
luật sư.Hơn nữa để tham gia Đoàn luật sư cần phải đáp ứng một số điều kiện
nhất định.
Tìm hiểu tại: http://www.vanphongluatsu.com.vn/danh-gia-ket-qua-
cong-tac-nam-2013-ve-hoat-dong-luat-su/
11
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
chức mình gây ra cho khách hàng trong khi thực hiện tư vấn pháp luật dịch vụ
pháp lý, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác phải mua bảo hiểm trách
nhiệm nghề nghiệp cho luật sư của tổ chức mình theo quy định của pháp luật.
Luật sư có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho
khách hàng tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức
chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để bảo vệ tốt nhất quyền và
lợi ích của khách hàng theo quy định của pháp luật.
Luật sư có nghĩa vụ tôn trọng bảo vệ uy tín, danh dự giữa các giới luật
sư với nhau giữ gìn đoàn kết nội bộ góp phần xây dựng đội ngũ luật sư trong
sạch vững mạnh, xứng đáng với sự tin cậy tôn trọng của xã hội.
4. Những hạn chế của hành nghề luật sư:
Một số hạn chế đối với hành nghề luật sư, trước hết phải nói đến
nguyên tắc bất khả kiêm nhiệm. Theo nguyên tắc này Điều 13 của Luật luật
sư tất cả cán bộ hiện đang làm việc trong cơ quan nhà nước không được hành
nghề luật sư.
Luật sư chỉ được hành nghề tại một văn phòng luật sư chứ không được
phép làm việc cho hai hay nhiều văn phòng luật sư.
Trong trường hợp luật sư được bầu là thành viên của ủy ban thường vụ
hội đồng nhân dân đại biểu các cấp, thì luật sư đó không được hành nghề luật
sư trong nhiệm kỳ của mình.
Ở nước ta số lượng luật sư còn hạn chế tính trên quy mô dân số và nhu
cầu xã hội, nhìn nhận vào thực tế nhiều luật sư không sống được chính nghề
luật sư, nhiều văn phòng luật sư còn ít khách hàng. Do đó việc công tác đào
tạo luật sư phải được quan tâm nhiều hơn và cần có những đổi mới để nâng
cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ luật sư Việt Nam.
13
Luật sư và nghề luật sư – Học viên: Lê Thị Vân Anh
KẾT LUẬN
Tổ chức pháp luật về luật sư là nâng cao vị trí, vai trò và chất lượng