i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “ Kế toán hoạt động thu – chi tại BHXH tỉnh Hà
Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Các nội dung nghiên cứu và kết quả
trình bày trong luận văn là trung thực và rõ ràng.
Hà Nam, ngày 20 tháng 03 năm 2014
Tác giả luận văn
Tường Thị Huyền Trang
ii
MỤC LỤC
KCB: Khám chữa bệnh....................................................................................................................vi
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu.............................................................................................2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu........................................................................2
4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................2
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài..............................................................2
6. Kết cấu của luận văn.............................................................................................3
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG THU – CHI
BHXH...............................................................................................................................................4
1.1. KHÁI QUÁT SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA BHXH...........................4
1.1.1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội...............................................................................................4
1.1.2 Bản chất của BHXH...........................................................................................................6
1.1.3 Chức năng của BHXH........................................................................................................8
2.2.1 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại BHXH tỉnh Hà Nam:...............................................51
2.2.2 Chính sách kế toán áp dụng:...........................................................................................53
2.2.3 Kết quả thực hiện công tác thu - chi BHXH giai đoạn năm 2010 – 2012:........................55
2.3 Thực trạng kế toán hoạt động thu – chi BHXH tại BHXH tỉnh:.....................56
2.3.1 Đặc điểm hoạt động thu - chi tại BHXH tỉnh Hà Nam:.....................................................56
2.3.2 Kế toán hoạt động thu BHXH:.........................................................................................60
2.3.3 Kế toán hoạt động chi BHXH...........................................................................................67
2.3.4 Báo cáo kế toán thu – chi BHXH......................................................................................74
2.4 Đánh giá thực trạng kế toán hoạt động thu – chi BHXH tại BHXH tỉnh Hà
Nam.........................................................................................................................76
2.4.1 Những kết quả đạt được:................................................................................................76
2.4.2 Những tồn tại và nguyên nhân........................................................................................77
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN HOẠT ĐỘNG
THU - CHI TẠI BHXH TỈNH HÀ NAM........................................................................................81
3.1 Định hướng về phát triển BHXH và hoàn thiện kế toán hoạt động thu – chi tại
BHXH tỉnh Hà Nam................................................................................................81
3.1.1 Định hướng phát triển của BHXH Việt Nam....................................................................81
3.1.2 Định hướng phát triển và hoàn thiện kế toán hoạt động thu - chi BHXH của BHXH tỉnh
Hà Nam....................................................................................................................................83
3.2 Yêu cầu và nguyên tắc hoàn thiện kế toán hoạt động thu – chi tại BHXH tỉnh
Hà Nam....................................................................................................................83
3.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán hoạt động thu – chi tại BHXH Tỉnh Hà
Nam.........................................................................................................................85
3.3.1 Về hoàn thiện kế toán thu BHXH:....................................................................................85
3.3.2 Về hoàn thiện kế toán chi BHXH:....................................................................................88
3.3.3 Về hệ thống phần mềm kế toán:.....................................................................................91
Sơ đồ 12: Quy trình thu BHXH
Sơ đồ 13: Quy trình chi BHXH
Trang
vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ASXH: An sinh xã hội
BHXH: Bảo hiểm xã hội
BHYT: Bảo hiểm y tế
KPCĐ: Kinh phí công đoàn
BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp
NSNN: Ngân sách nhà nước
CSSKBĐ: Chăm sóc sức khỏe ban đầu
CBCNV: Cán bộ công nhân viên
DSPHSK: Dưỡng sức phục hồi sức khỏe
TNLĐ: Tai nạn lao động
BNN: Bệnh nghề nghiệp
NLĐ: Người lao động
NSDLĐ: Người sử dụng lao động
KCB: Khám chữa bệnh
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
thấp, chưa đáp ứng yêu cầu tiền chi BHXH gây nên sự mất cân đối cho quỹ BHXH.
Tình trạng thu không đủ, còn nợ đọng, chi chưa đồng bộ do còn thiếu thực tế ... đã
làm tăng gánh nặng cho ngân sách Nhà nước.
Xuất phát từ đặc điểm trên, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Kế toán hoạt động thu –
chi tại BHXH tỉnh Hà Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ.
2. Mục đích nghiên cứu
- Hệ thống hoá và làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về bảo hiểm xã
hội và kế toán hoạt động thu -chi tại các đơn vị BHXH.
- Nghiên cứu và đánh giá thực trạng về kế toán hoạt động thu – chi BHXH tại cơ
quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam. Từ đó làm rõ nguyên nhân của những tồn tại.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện kế toán hoạt động thu - chi
BHXH trong hoạt động quản lý Quỹ BHXH trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động BHXH tại cơ quan
Bảo hiểm xã hội tỉnh Hà Nam, trong đó tập trung chủ yếu vào kế toán hoạt động thu
– chi BHXH trong cơ quan BHXH, từ đó nghiên cứu thực trạng kế toán hoạt động
thu – chi BHXH tại BHXH tỉnh Hà Nam dựa trên cơ sở các nội dung thông tin kế
toán: Chứng từ kế toán, tài khoản kế toán, sổ kế toán, báo cáo kế toán...
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu kế toán hoạt động thu –
chi BHXH tại BHXH tỉnh Hà Nam theo tiếp cận kế toán tài chính giai đoạn 20102012 trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu.
Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống và phân tích thống kê, kết hợp với
phương pháp điều tra xã hội học. Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở Luật BHXH,
Nghị định của Chính phủ, các Thông tư hướng dẫn và các văn bản pháp lý về
BHXH, các Tạp chí và tài liệu của ngành; các số liệu báo cáo về tình hình hoạt
động BHXH trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2010-2012.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về kế toán hoạt động thu - chi BHXH.
biến. Giai cấp công nhân là giai cấp làm thuê cho giới chủ. Lúc đầu giới chủ cam
kết trả tiền lương, tiền công. Người lao động bị bóc lột tàn bạo và bị đối xử không
công bằng. Đứng trước tình hình đó giai cấp công nhân đã liên kết lại với nhau để
tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau; lập ra các quỹ cứu trợ người ốm, người bị tai nạn; lập
các tổ chức tương tế và vận động mọi người tham gia; đấu tranh tự phát với giới chủ
như: đòi tăng lương giảm giờ làm; thành lập các tổ chức công đoàn và sau này là
đấu tranh có tổ chức nhưng bị giới chủ đàn áp thậm tệ. Giai cấp công nhân không
đòi được quyền lợi mà còn bị tổn thất nặng nề. Mâu thuẫn giữa giới chủ và thợ ngày
càng trầm trọng và sâu sắc. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hòa
mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác
buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng đối
với người làm thuê. Nhận thức được lợi ích của việc này nên cả giới chủ và thợ đều
tham gia.
Bảo hiểm xã hội ra đời và lan rộng rất nhanh. Năm 1838 chế độ bảo hiểm tai
nạn lao động và bệnh nghề nghiệp ra đời lần đầu tiên ở nước Phổ (Cộng hòa liên
bang Đức). Ở Mỹ, đạo luật đầu tiên về An sinh xã hội( trong đó BHXH là hạt nhân)
được ban hành vào năm 1935. Trong đạo luật này có quy định về chế độ bảo hiểm
tuổi già, tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp cho người lao động. Ngày 25/6/1952,
hội nghị toàn thể của tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã thông qua công ước số 102
(công ước về an sinh xã hội). Theo định nghĩa của ILO thì “an sinh xã hội là sự bảo
5
vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp công cộng
nhằm chống lại các khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập
gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn, thất nghiệp, thương tật tuổi già và chết, việc
cung cấp y tế và việc trợ cấp cho các gia đình đông con”. Như vậy, đây là một lĩnh
vực có nội dung rộng lớn, được cấu thành bởi các bộ phận: BHXH cho người lao
động (theo nghĩa của từ Social insuarance), trợ giúp xã hội, trợ cấp từ cộng đồng,
89/2003-CP). Đây là giai đoạn đầu của việc chuyển đổi hệ thống BHXH theo cơ
chế mới. Cũng trong thời gian này, hệ thống khái niệm về BHXH được hình thành
và ngày càng phát triển đa dạng, phong phú trên cơ sở các cách tiếp cận và những
góc độ nghiên cứu khác nhau. Đặc biệt, ngày 29/6/2006, Quốc hội nước ta chính
thức ban hành Luật BHXH, đánh dấu bước phát triển mới của BHXH trong điều
kiện kinh tế thị trường. Theo đó khái niệm BHXH theo Luật BHXH được hiểu là sự
đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị
giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH.
1.1.2 Bản chất của BHXH
Bảo hiểm xã hội là nhu cầu khách quan, đa dạng, phức tạp của xã hội, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ
thuê mướn lao động phát triển tới một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát triển thì
Bảo hiểm xã hội càng đa dạng và hoàn thiện.BHXH vừa để thực hiện các mục đích
xã hội, vừa để thực hiện các mục đích kinh tế trong mỗi cộng đồng, quốc gia.
1.1.2.1 Bản chất kinh tế của BHXH
Bản chất kinh tế của BHXH thể hiện ở chỗ những người tham gia cùng đóng
góp một khoản tiền trích trong thu nhập (khoản đóng góp này không ảnh hưởng lớn
đến đời sống và SXKD của cá nhân hoặc đơn vị) để lập một quỹ dự trữ. Các khoản
đóng góp vào quỹ BHXH bao gồm: đóng góp của NLĐ, NSDLĐ và sự hỗ trợ của
Nhà nước. Mục đích của việc hình thành quỹ BHXH để trợ cấp cho những NLĐ khi
gặp rủi ro, tránh được những hụt hẫng về thu nhập cho họ. Sự hỗ trợ này được lấy
từ quỹ BHXH nên giảm và tiết kiệm được chi NSNN. Đồng thời, bản chất kinh tế
còn được thể hiện ở chỗ, NLĐ chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình,
nhưng do nhiều nguồn hình thành khác có khoản tiền lớn đảm bảo đủ chi trả tài
chính cho họ khi phát sinh nhu cầu được thanh toán.
7
8
BHXH là công cụ quan trọng và hiệu quả để tạo nên một mạng lưới an toàn cho
con người, hoạt động BHXH không vì mục tiêu lợi nhuận mà hoạt động vì mục
đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy
tiến bộ xã hội.
1.1.3 Chức năng của BHXH
BHXH được xem như là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằm đảm
bảo đời sống cho người lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật
tự xã hội nói chung do vậy BHXH có chức năng:
- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ tham gia BHXH khi họ
bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Đây là chức năng cơ bản
nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cơ chế tổ chức hoạt động của
BHXH.
- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia
BHXH. BHXH cũng dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít, do vậy mọi người lao
động khi tham gia BHXH đều bình đẳng trong việc đóng góp vào quỹ cũng như
được bình đẳng trong quyền lợi nhận được từ các chế độ BHXH.
- BHXH là đòn bẩy, khuyến khích NLĐ hăng hái tham gia lao động sản xuất
và từ đó nâng cao năng suất lao động.
- BHXH thực hiện chức năng điều hoà lợi ích giữa ba bên: NLĐ, NSDLĐ,
Nhà nước đồng thời làm giảm bớt mâu thuẫn xã hội, góp phần ổn định chính trị,
kinh tế, xã hội.
- BHXH còn thực hiện chức năng giám đốc bởi BHXH tiến hành kiểm tra,
giám sát việc tham gia thực hiện chính sách BHXH của NLĐ, NSDLĐ theo quy
định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho NLĐ, góp phần ổn định xã hội.
Với những chức năng trên, BHXH đã trở thành một trong những quyền con
người, được Đại hội đồng Liên hợp quốc thừa nhận và ghi vào Tuyên ngôn Nhân
quyền ngày (10/12/1948): “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có
do chậm nộp BHXH của các cơ quan, doanh nghiệp, thu từ các hỗ trợ của các tổ chức
quốc tế (nếu có) và các khoản thu khác.
Chức năng của quỹ BHXH là để chi trả các trợ cấp BHXH và chi phí cho các
hoạt động của hệ thống BHXH. Quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời cũng là
một quỹ dự phòng. Nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là
10
phương tiện quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát
triển. Tuy nhiên, quỹ BHXH lại độc lập với Ngân sách Nhà nước. Do đó, việc quản
lý quỹ BHXH, thực hiện đầu tư, bảo tồn và tăng trưởng quỹ rất cần thiết, với đặc
thù thời điểm thu và chi không trùng nhau, quỹ BHXH luôn tập trung nguồn tài
chính “nhàn rỗi” tương đối lớn đầu tư lại cho nền kinh tế như cho Chính phủ vay
hoặc trực tiếp được đầu tư vào các dự án phát triển hoặc những công trình phúc lợi
(xây nhà ở cho NLĐ, xây đường xá, cơ sở hạ tầng...) tạo ra nhiều công ăn việc làm
cho NLĐ, góp phần thực hiện những mục tiêu tăng trưởng, bảo toàn, phát triển quỹ
BHXH và phát triển kinh tế đất nước.
Hoạt động BHXH là hoạt động dịch vụ công mang tính xã hội cao, là quá
trình tổ chức triển khai thực hiện các nghiệp vụ thu BHXH đối với NLĐ và
NSDLĐ; giải quyết các chế độ, chính sách BHXH và chi BHXH cho người được
hưởng; nhằm đảm bảo cho mọi NLĐ, mọi tổ chức, đơn vị hoạt động sản xuất kinh
doanh được bình đẳng, công bằng.
Dưới góc độ kinh tế, các hoạt động BHXH đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, góp phần làm tăng thu nhập quốc dân và ngựơc lại kinh tế tăng trưởng đã có
tác động tích cực, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động BHXH.
Đảng và Nhà nước đã khẳng định phát triển kinh tế xã hội dựa trên nội lực là chính
thì nguồn đầu tư từ quỹ BHXH là một kênh quan trọng. Có thể nói BHXH là một
trong những chính sách xã hội quan trọng không thể thiếu của mỗi quốc gia nhằm
bình ổn đời sống kinh tế - xã hội và góp phần làm vững chắc thể chế chính trị. Đồng
hiểm xã hội
- Bảo hiểm xã hội sau chiến tranh thế giới I:
Bảo hiểm xã hội đã được triển khai ở nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹnhư ở
Nga 1917, Phần Lan, NaUy, Anh, Thụy Điển, Mỹ (1935). Đặc biệt sau Công ước số
102 năm 1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), hầu hết các nước trên thế giới
đều tổ chức cho mình hệ thống bảo hiểm xã hội phù hợp. Loại hình bảo hiểm này có
đối tượng là thu nhập của người lao động và đối tượng tham gia là người lao động
và người sử dụng lao động. Hầu hết các nước khi mới triển khai bảo hiểm xã hội
đều thực hiện trước hết đối với người làm công ăn lương. Ngày nay, bảo hiểm xã
hội là loại hình bảo hiểm rất ổn định và phát triển, nó đã được Tuyên ngôn nhân
quyền của Liên Hợp Quốc ghi nhận: Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của
xã hội có quyền hưởng bảo hiểm xã hội
12
- Bảo hiểm xã hội sau chiến tranh thế giới II:
Bảo hiểm xã hội lan rộng ra nhiều nước ở châu Âu, châu Á như Việt Nam,
Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Philippin… BHXH dần dần đã trở thành trụ cột
cơ bản của hệ thống ASXH và được tất cả các nước thừa nhận là một trong những
quyền cơ bản của con người. Hiện nay có trên 180 nước có luật về bảo hiểm xã hội.
1.3.2 Sự phát triển của BHXH ở Việt Nam
* Giai đoạn trước năm 1945:
- Trước năm 1945 ở Việt Nam chưa có pháp luật bảo hiểm xã hội, bởi vì đất
nước bị thực dân Pháp đô hộ. Đời sống của nhân dân vô cùng cực khổ, nghèo đói.
- Tuy nhiên nhân dân Việt Nam có truyền thống cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau
những khi gặp rủi ro hoạn nạn. Đặc biệt là sự che chở của họ hàng làng xã thân tộc.
Cũng có một số nhà thờ tổ chức nuôi trẻ mồ côi, thực hiện tế bần (BHXH sơ khai).
* Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954:
- Tháng 8 năm 1945 Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời. Tháng 12
nước do sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và sự hỗ trợ của
Nhà nước, thành lập cơ quan chuyên trách để quản lý quỹ và giải quyết các chế độ
trợ cấp.
Ngày 16/02/1995, Chính phủ có Nghị định số 19/CP thành lập Bảo hiểm xã
hội Việt Nam trên cơ sở thống nhất chức năng, nhiệm vụ các bộ của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Ngày 24/01/2002, Chính phủ có Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển Bảo
hiểm y tế thuộc Bộ Y tế sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
Nghiên cứu sơ lược về quá trình phát triển và đặc điểm của bảo hiểm xã hội ở
Việt Nam nhằm giúp chúng ta phần nào có cơ sở xem xét một cách có hệ thống và
đánh giá khách quan về chính sách bảo hiểm xã hội. Từ đó có điều kiện thuận lợi để
nghiên cứu hoạt động thu, chi BHXH.
1.4 QUỸ BHXH VÀ NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG THU - CHI BHXH
1.4.1 Nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH là một trong những nội dung cơ bản của hệ thống BHXH. Quỹ
BHXH được hình thành bằng nhiều nguồn khác nhau, hình thành một quỹ tiền tệ
tập trung là quỹ dự trữ tài chính để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu
nhập cho NLĐ và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc bị
14
mất việc làm vì những “rủi ro xã hội” như ốm đau, thai sản, TNLĐ - BNN, tử tuất...
Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời cũng là một quỹ dự
phòng. Nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao và là phương tiện
quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển . Tuy
nhiên, quỹ BHXH lại độc lập với Ngân sách Nhà nước.
BHXH Việt Nam quản lý đồng thời Quỹ BHXH và Quỹ BHYT. Quỹ BHXH
dùng để chi trả các chế độ BHXH cho người lao động, chi phí cho quản lý bộ máy,
chi cho đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ... Quỹ BHYT được sử dụng để thanh
toán chi phí khám chữa bệnh BHYT, chi phí quản lý bộ máy tổ chức BHYT, chi
- Đóng góp của người lao động : người lao động đóng góp BHXH (nộp phí
BHXH) để bảo hiểm cho chính mình, trên cơ sở trích một phần từ tiền lương/thu
nhập nhận được trong quá trình làm việc. Sự đóng góp của người lao động là thực
hiện dàn trải « rủi ro » theo thời gian.
- Đóng góp của người sử dụng lao động : người sử dụng lao động hàng tháng,
trích từ quỹ lương của doanh nghiệp để đóng góp BHXH cho tổng số lao động mà
doanh nghiệp thuê mướn. Sự đóng góp của người sử dụng lao động do luật quy định,
thể hiện trách nhiệm của họ đối với người lao động. Mặt khác, sự đóng góp của người
sử dụng lao động còn vì chính lợi ích của họ. Ở đây, những người sử dụng lao động đã
thực hiện chia sẻ rủi ro lẫn nhau, để khi rủi ro xảy ra đối với người lao động mà họ thuê
mướn, thì họ không phải chi phí những khoản tiền lớn để bồi thường cho người lao
động, mà những chi phí này đã chuyển sang cơ quan BHXH, và vì vậy, tiến trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị ảnh hưởng.
- Đóng góp của Nhà nước : Trong một số hệ thống BHXH, Nhà nước có thể
đóng góp BHXH trực tiếp hoặc gián tiếp. Trường hợp tham gia trực tiếp vì Nhà
nước cũng là người sử dụng số lượng lớn lao động là công chức làm việc ở khu vực
quản lý nhà nước, khu vực sự nghiệp và được nhận lương từ ngân sách. Ngoài ra,
với tư cách quản lý nền kinh tế, quản lý xã hội, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm
giá trị của quỹ BHXH và hỗ trợ cho quỹ trong những trường hợp cần thiết.
+ Thứ hai, là phần tăng thêm do bộ phân nhàn rỗi tương đối của quỹ, được tổ
chức BHXH chuyên trách đưa vào hoạt động đầu tư để sinh lợi. Do tính chất của
các rủi ro xã hội và các sự kiện xã hội phát sinh không đồng đều theo thời gian và
16
không gian, nên trong quá trình hoạt động, có một bộ phận của quỹ chưa sử dụng
đến. Phần nhàn rỗi tương đối được đầu tư vào thị trường tài chính, hoặc thị trường
bất động sản, hoặc các hoạt động đầu tư khác để sinh lợi.
+ Thứ ba, là phần thu từ tiền nộp phạt của những cá nhân và tổ chức kinh tế,
- Tiền sinh lời từ việc thực hiện các hoạt động đầu tư bảo tồn và tăng trưởng
quỹ BHXH.
- Hỗ trợ của Nhà nước.
- Các khoản thu hợp pháp khác.
1.4.1.2 Sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung an toàn về tài chính, là một quỹ tích
lũy và tiêu dùng, là tập hợp những phương tiện nhằm thỏa mãn những nhu cầu phát
sinh về BHXH đồng thời là một quỹ dự phòng, là điều kiện hay cơ sở vật chất quan
trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển. Quỹ BHXH
được sử dụng chủ yếu để chi trả cho các mục đích sau đây:
- Trả các chế độ BHXH cho người lao động theo quy định của Luật BHXH
- Đóng Bảo hiểm y tế cho người đang hưởng lương hưu hoặc nghỉ việc
hưởng trợ cấp tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp hàng tháng
- Chi quản lý
- Khen thưởng theo quy định của Luật BHXH
- Đầu tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ theo quy định của Luật BHXH
Để đảm bảo sử dụng quỹ BHXH một cách hiệu quả nhất cần đảm bảo chi trả
chính xác số tiền, số đối tượng cụ thể. Đặc biệt đối với vấn đề tăng trưởng và bảo
toàn quỹ nên có những kế hoạch cụ thể luôn phải tuân thủ nguyên tắc đầu tư, đó là:
“ Hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH phải bảo đảm được an toàn, hiệu quả và thu hồi
được khi cần thiết.
Cụ thể:
- Đối với chi BHXH là:
+ Đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng các chế độ BHXH. Theo quy định
hiện hành, chủ sử dụng lao động và người lao động thuộc đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc phải đóng BHXH thì người lao động mới được hưởng trợ cấp của
các chế độ BHXH. Tương ứng với các chế độ đó có các hoạt động chi khác nhau
như: lương hưu, tử tuất, trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề
độ luôn có một lượng tiền nhàn rỗi. Số tiền nhàn rỗi này được chính phủ cho phép
19
đầu tư tăng trưởng quỹ nhưng phải an toàn, không bị thất thoát, không để ảnh
hưởng đến quyền lợi của người tham gia.
Nguyên tắc hiệu quả: Hiệu quả trong hoạt động đầu tư quỹ BHXH phải được
thể hiện ngay trong hoạt động của ngành BHXHVN. Hoạt động đầu tư phải có lãi,
lãi đầu tư là nguồn thu quan trọng của quỹ làm cho quỹ ngày càng phát triển, đảm
bảo cân đối, lâu dài của quỹ.
Nguyên tắc thu hồi vốn nhanh khi cần thiết: nguyên tắc này không hề mâu
thuẫn với khả năng cho vay vốn trung hạn và dài hạn của quỹ BHXH vì quỹ BHXH
chủ yếu dùng để chi trả cho các chế độ BHXH nhằm đảm bảo quyền lợi của người
tham gia BHXH. Khi cần tiền chi trả cho các chế độ phải có ngay, nếu chậm sẽ ảnh
hưởng đến quyền thụ hưởng của người tham gia. Khi quỹ có số dư, đảm bảo cân đối
lâu dài quỹ thì quỹ hoàn toàn có khả năng cho vay dài hạn.
1.4.2 Tổ chức và quản lý hoạt động thu BHXH
Thực hiện Luật BHXH có hiệu lực thi hành từ tháng 1/2007, các Nghị định
của Chính phủ và các văn bản dưới Luật, ngành BHXH hiện nay đang thực hiện các
loại hình thu như sau:
- Thu BHXH bắt buộc: gồm thu BHXH gắn liền với BHYT bắt buộc.
- Thu BHYT tự nguyện
- Thu BHXH tự nguyện, bắt đầu thực hiện từ tháng 1/2008
- Thu BH thất nghiệp, bắt đầu thực hiện từ tháng 1/2009.
Trong phạm vi Luận văn này chỉ đi sâu phân tích về thu BHXH bắt buộc.
1.4.2.1 Vai trò của công tác thu BHXH.
Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một công quỹ
độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ
BHXH cho NLĐ. Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng