1
LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Trọng Tản
Sinh ngày: 30/08/1981 – Nơi sinh: Tiền Hải - Thái Bình
Là học viên cao học lớp: CH18B – Chuyên ngành Quản lý kinh tế.
Niên khóa: 2012 – 2014. Khoa sau đại học – Trường Đại học Thương Mại.
Tôi xin cam đoan:
1. Luận văn Thạc sỹ kinh tế: “ Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn
thành phố Yên Bái - tỉnh Yên Bái ” là do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
Tiến sỹ Thân Danh Phúc.
2. Các số liệu, tài liệu, dẫn chứng mà tôi sử dụng trong đề tài là do chính tôi
thu thập, xử lý mà không có sự sao chép không hợp lệ nào.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này.
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Tản
1
2
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình cao học và bản luận văn này, bên cạnh những nỗ
lực của bản thân tác giả đã nhận được sự quan tâm, động viên, giúp đỡ tận tình của
các thầy cô, bạn bè, gia đình trong suốt quá trình học tập, công tác.
Nhân đây, tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Người hướng dẫn khoa học: Tiến sỹ Thân Danh Phúc
- Các thầy cô giáo Khoa sau đại học – Trường Đại học Thương Mại
- Tập thể lãnh đạo, phòng TNMT, sở kế hoạch đầu tư thành phố Yên Bái
Chỉ tiêu
Mã
1
2
TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN
NNP
Trong đó:
LUA
Trong đó:Đất chuyên trồng lúa nước
CLN
RPH
RDD
RSX
NTS
PNN
Trong đó:
3
1
1.1
1.2
1.3
1.4
1.5
1.6
2
Đất khu công nghiệp
CTS
CQP
CAN
SKK
Đất xây dựng khu công nghiệp
Đất xây dựng cụm công nghiệp
SKS
DDT
DRA
TTN
NTD
DHT
Trong đó:
DVH
DYT
DGD
DTT
ODT
CDS
CDS
CDS
DTD
DBT
DDL
Đất cho hoạt động khoáng sản
Đất di tích danh thắng
Đất bãi thải, xử lý chất thải
Yên Bái................................................................................................................... 44
Bảng 2.8 Kế hoạch sử dụng đất phân theo từng năm của thành phố Yên Bái..53
Bảng 2.9 Kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp theo các chỉ tiêu cấp trên phân bổ
như sau:.................................................................................................................. 59
Bảng 2.10 Kế hoạch sử dụng đất phi nông nghiệp theo các chỉ tiêu cấp trên phân
bổ như sau:.............................................................................................................62
Bảng 2.11 Chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp kỳ cuối giai đoạn 2016-2020.........75
5
6
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt đối
với sản xuất nông lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống,
là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh
quốc phòng. Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
quy định: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật,
đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả".
Thực hiện Quyết định số 516/QĐ-UBND ngày 07/11/2006 của Uỷ ban nhân
dân tỉnh Yên Bái về việc xét duyệt Dự án quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015, kế
hoạch sử dụng đất năm 2011-2013 thành phố Yên Bái. Ủy ban nhân dân thành phố
Yên Bái đã lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2015, kế hoạch sử dụng đất năm
2011-2013, được UBND tỉnh Yên Bái phê duyệt tại Quyết định số 1380/QĐ-UBND
ngày 10/9/2011.
Quy hoạch sử dụng đất đai thành phố, cụ thể hoá các chỉ tiêu của quy hoạch
sử dụng đất đai cấp tỉnh, làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất đai các phường, xã
và các quy hoạch sử dụng đất chuyên ngành. Công tác quản lý đất đai trên địa bàn
- Thông tư số 19/2009/TT- BTNMT ngày 02/11/2009 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về việc quy định việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất;
- Chỉ thị số 01/2010/CT-BTNMT ngày 17/3/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường về tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Công văn số: 2778/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 04/8/2009 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế
hoạch sử dụng đất 5 năm (2011-2015);
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XVII nhiệm kỳ 20102015; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XVIII nhiệm kỳ 2010-2015;
- Nghị quyết số 24/2011/NQ-HĐND ngày 05/8/2011 của Hội đồng nhân dân
tỉnh Yên Bái về việc Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh
Yên Bái thời kỳ 2006-2020;
- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Yên Bái giai
đoạn 2006-2020;
7
8
- Văn bản số: 795/UBND-XD ngày 08/03/2011 của UBND tỉnh Yên Bái về
việc “Phê duyệt nhiệm vụ dự án điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Yên Bái
đến năm 2030”;
- Kế hoạch số: 88/KH-UBND ngày 5/10/2010 của UBND tỉnh Yên Bái về việc
triển khai Quy hoạch sử dụng đất các cấp giai đoạn 2011-2020 trên địa bàn tỉnh Yên Bái;
- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (20112015) của tỉnh Yên Bái;
- Tài liệu, báo cáo quy hoạch phát triển của các Bộ, Ngành ở Trung ương và
Đề án phát triển của các ngành ở trong tỉnh đến năm 2020 có sử dụng đất trên địa
bàn thành phố (các quy hoạch xây dựng đô thị, Quy hoạch quốc phòng, Quy hoạch
phát triển công nghiệp… Đã làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất của thành phố so với
lý Nhà nước về đất đai, từ đó đánh giá những thuận lợi, khó khăn, đề xuất những
giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý Nhà nước về đất đai, tôi đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: “ Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Yên
Bái – tỉnh Yên Bái”.
2 Tiếp cận và xác lập các vấn đề nghiên cứu
2.1 Tiếp cận nghiên cứu
Đề tài tiếp cận nghiên cứu trên tầm vĩ mô về công tác quản lý nhà nước đối với
đất đai. Việc hoạt động sử dụng đất diễn ra trên địa bàn tỉnh và được phân cấp trách
nhiệm quản lý của địa phương chủ yếu là hướng dẫn thực thi, thanh tra, kiểm soát
và xử lý vi phạm đối với hoạt động sử dụng đất.
2.2 Xác lập các vấn đề nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung quản lý nhà nước về đất đai trên địa
bàn thành phố Yên Bái – Tỉnh Yên Bái. Do vậy cần xác lập rõ các vấn đề nghiên cứu
sau:
- Việc sử dụng đất có quan hệ và ảnh hưởng như thế nào đến chính sách và các
công cụ quản lý nhà nước.
- Các quy định quản lý nhà nước đối với đất đai (thể hiện cở các thể chế chính sách
pháp luật)
- Trách nhiệm thực thi quản lý nhà nước phân cấp cho chính quyền địa phương
( UBND tỉnh). Phối hợp về tổ chức và quản lý, hướng dẫn thực thi, cấp phép kinh
doanh, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm.
9
10
- Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành
phố và thực trạng quản lý nhà nước có tác động như thế nào đến đất đai trên địa bàn
11
4.1 Phương pháp luận
- Dựa trên cơ sở phương pháp luận biên chứng và quan điểm lịch sử. Nghiên cứu
các vấn đề quản lý kinh tế và sử dụng đất trong mối quan hệ tương tác giữa các cơ
quan quản lý bởi các công cụ và chính sách quản lý nhà nước về đất đai.
- Đồng thời nghiên cứu các vấn đề đó trong những bối cảnh cụ thể của đất nước và địa
phương.
4.2 Phương pháp cụ thể
- Khai thác xử lý và tổng quan các tư liệu, dữ liệu thứ cấp tại các cơ quan quản lý
đất đai trên địa bàn thành phố Yên Bái, các trung tâm thông tin, phòng tài nguyên
môi trường và trên các website…..
- Minh hoạ bằng bản đồ biểu đồ.
- Tham vấn ý kiến chuyên gia, nhà quản lý chuyên ngành về đất đai trên địa bàn
thành phố Yên Bái – Tỉnh Yên Bái.
- Sử dụng các phương pháp thống kê, phân tích so sánh, các phương tiện công nghệ
thông tin hỗ trợ.
5 Phạm vi nghiên cứu
5.1 Về nội dung
Tập trung nghiên cứu những quy định chính sách chủ yếu của chính phủ, các
cơ quan chuyên ngành liên quan đến quản lý đất đai. Trên bình diện địa phương đặt
trọng tâm nghiên cứu vào công tác thực thi chính sách pháp luật nhà nước của tỉnh
Yên Bái và thành phố Yên Bái đối với viêc quản lý đất đai.
Làm rõ trách nhiệm các cơ quan chức năng sở ngành cũng như chính quyền cấp
thành phố, cấp phường trong thực thi công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn.
5.2 Về thời gian
Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố
13
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ ĐẤT ĐAI
1.1 Khái niệm, sự cần thiết của quản lý nhà nước về đất đai.
1.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về đất đai.
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc
phòng. Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy
định: "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm
bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả"
Các quan hệ đất đai là các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, bao gồm:
quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các
sản phẩm do sử dụng đất mà có...
Bộ luật Dân sự quy định "Quyền sở hữu bao gồm quyền chiêm hữu, quyền
sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật ".
Từ khi Luật đất đai thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại tài sản dân sự đặc
biệt (1993) thì quyền sở hữu đất đai thực chất cũng là quyền sở hữu một loại tài
sản dân sự đặc biệt. Vì vậy khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các
quyền năng của sở hữu nhà nước về đất đai bao gồm: Quyền chiếm hữu đất đai,
quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai. Các quyền năng này được Nhà
nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử
dụng đất đai. Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông
qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ
chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định,theo sự giám sát của Nhà nước.
Hoạt động trên thực tế của các cơ quan nhà nước nhằm bảo vệ và thực hiện
quyền sở hữu nhà nước về đất đai rất phong phú và đa dạng, bao gồm các nội
dung đã quy định ở Điều 6, Luật Đất đai 2003.
của mỗi loại đất như đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, v.v...; nắm về diện tích của
từng chủ sử dụng và sự phân bố trên bề mặt lãnh thổ...
-Về chất lượng đất: Nhà nước nắm về đặc điểm lý tính, hoá tính của từng loại đất,
độ phì của đất, kết cấu đất, hệ số sử dụng đất v.v.., đặc biệt là đối với đất nông
nghiệp.
*Thứ ba: Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử
14
15
dụng đất đai. Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do
người sử dụng cụ thể thực hiện. Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với
yêu cầu và lợi ích của Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình
phân phối và sử dụng đất Trong khi kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện các vi phạm
và bất cập trong phân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi
phạm, bất cập đó.
*Thứ tư. Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai. Hoạt
động này được thực hiện thông qua các chính sách tài chính về đất đai như: thu tiền
sử dụng đất (có thể dưới dạng tiền giao đất khi Nhà nước giao đất có thu tiền sử
dụng đất, có thể dưới dạng tiền thuê đất, có thể dưới dạng tiền chuyển mục đích sử
dụng đất), thu các loại thuế liên quan đến việc sử dụng đất (như thuế sử dụng đất,
thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế thu nhập cao có được từ việc chuyển quyền sử
dụng đất...) nhằm điều tiết các nguồn lợi hoặc phần giá trị tăng thêm từ đất mà
không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại.
Các mặt hoạt động trên có mối quan hệ trong một thể thống nhất đều nhằm
mục đích bảo vệ và thực hiện quyền sở hữu Nhà nước về đất đai. Nắm chắc tình
hình đất đai là tạo cơ sở khoa học và thực tế cho phân phối đất đai và sử dụng đất
đai một cách hợp lý theo quy hoạch, kế hoạch. Kiểm tra, giám sát là củng cố trật
đất không đúng mục đích hoặc bỏ hoang….
Quản lý nhà nước về đất đai nhằm mục đích:
-Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người sử dụng đất, đảm bảo tính hợp pháp của người sử dụng đất, tạo điều kiện
thuận lợi cho việc sử dụng đất có hiệu quả hơn góp phần tích cực vào vấn đề bảo vệ
môi trường.
- Quản lý đất đai là phải thường xuyên đo đạc, thành lập nên các hồ sơ địa chính
thống kê đầy đủ các chủ sở đất để chính quyền địa phương quản lý dễ dàng hơn.
Theo Hiến pháp 1992 quy định đất đai là sở hữu toàn dân mà đại diện là Nhà nước,
chính vì vậy nên Nhà nước có quyền định đoạt số phận của đất đai thông qua việc
nhà nước giao đất, cho thuê, thu hồi đất khi cần thiết. Các đối tượng sử dụng đất chỉ
có quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Nhà nước quản lý đất đai nhằm ngăn chặn các hành vi xâm lấn và tư hữu đất
đai, sử dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các phát sinh trong xã hội. Các
quan hệ xã hội đối với đất đai bao gồm quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về sử
dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm tạo ra do sử dụng đất.
Đất đai là sở hữu toàn dân mà đại diện cao nhất là nhà nước vì vậy Nhà nước
dung quyền nhất thống nhất đât đai của mình bằng các quy phạm pháp luật
về quản lý đất đai của các cơ quan quyền lực, được thực hiện thông qua hệ thống
các cơ quan nhà nước do nhà nước lập ra.
16
17
Đất đai được sử dụng bằng cách Nhà nước giao cho các hộ dân và các thành
phần kinh tế trong xã hội đảm bảo được sử dụng lâu dài phục vụ cho quá trình kinh
doanh và sản xuất trên mảnh đất của mình. Việc sử dụng đúng mục đích đất đai sẽ
tạo điều kiện tốt hơn cho quá trình quản lý, đất đai được sử dụng được xác định
17
18
văn bản Luật bao gồm Hiến pháp, Luật, pháp lệnh. Các quy định của Hiến pháp là
căn cứ cho tất cả các ngành luật. Còn luật là các văn bản có giá trị sau Hiến pháp
nhằm cụ thể hoá các quy định của Hiến pháp.
Văn bản pháp quy là các văn bản dưới luật, chứa đựng các quy tắc sử sự chung
được áp dụng nhiều lần do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo một
trình tự thủ tục nhất định nhằm cụ thể hoá luật, pháp lệnh. Văn bản pháp quy được
ban hành nhằm cụ thể hóa hoạt động, thực hiện văn bản pháp luật. Đó là phương
tiện để quản lý nhà nước, để thể chế hoá và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, quyền
làm chủ của nhân dân.
2.2.1 Điều tra khảo sát đo đạc đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính
Là một trong những công việc quan trọng nhất của quản lý đất đai, vì sau khi đo
đạc, đánh giá, phân hạng đất sẽ xây dựng nên được bản đồ địa chính từ đó xây dựng
bản đồ hiện trạng sử dụng đất, xây dựng bản đồ quy hoạch sử dụng đất để phục
vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai. Việc này hết sức có ý nghĩa trong
chiến lược phát triển kinh tế xã hội nói chung, Căn cứ vào kết quả này, Nhà
nước và các cấp, các ngành ở địa phương mới có cơ sở để hoạch định chính
sách phát triển nông lâm nghiệp phục vụ cho chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước, bên cạnh đó công tác đo đạc, khảo sát sẽ cho biết quỹ đất là như thế
nào để có những phương án sử dụng đất đai cho hợp lý và khoa học.
Mặt khác, hoạt động này còn là cơ sở để hàng năm Nhà nước thu thuế sử
dụng đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất và quy định giá trị của quyền sử dụng
đất làm cơ sở thực hiện khi bồi thường, khi giao đất, khi cho thuê đất, khi cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất.
Để có những quy hoạch và hoạch định chiến lược kinh tế của đất nước thì
hay một địa phương nào đó, tạo thuận lợi cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nước.
+ Việc quy hoạch đất đai nhằm mục đích thống kê được quỹ đất của thành
phố khi đo sẽ tránh được sự phân bổ quỹ đất chồng chéo và sử dụng đạt hiệu quả
cao.
Quy hoạch phải đảm bảo được 3 yếu tố: Kỹ thuật, kinh tế và pháp lý để lập
ra được bản đồ địa chính theo đúng kết quả đo đạc, tiết kiệm chi phi, và phải tuân
theo quy đinh của pháp luât.
2.2.3 Quản lý việc giao đất, cho thuê và thu hồi đất
Nhà nước là đại diện sở hữu toàn bộ đất đai nên việc giao đất và thu hồi đất
19
20
tuỳ vào từng thời điểm và các yếu tố lịch sử cụ thể đất mà người dân hoặc các tổ
chức đang sử dụng nhà nước có thể thu hồi để phục vụ cho các mục đích quan trọng
hơn như quốc phòng, an ninh…. hoặc phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng thì Nhà nước thu hồi đất hoặc có thể trưng dụng đất mà không quy định việc
cho người sử dụng thuê đất hoặc cho người sử dụng chuyển mục đích sử dụng
đất. và việc gia đất cũng chỉ thực hiện dưới hình thức "cấp đất", tức là giao đất
nhưng có thể không tương đương với giá trị của quyền sử dụng đất.
Luật Đất đai 2003 ra đời thì "Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi
đất, chuyển mục đích sử dụng đất" mới được hoàn thiện được thể hiện như sau:
-Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết định
hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
-Nhà nước cho thuê đất tà việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp đồng
cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
-Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
theo các phương án đã được duyệt từ trước, trừ các doanh nghiệp sử dụng vào mục
đích nông nghiệp. Ngoài ra còn có các nhân và các tổ chức nước ngoài
Theo điều 37 Luật đất đai năm 2003 đã quy định rõ ràngtrách nhiệm của Nhà
nước trong việc giao đất và cho thuê đất cụ thể như sau:
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định:
+ Giao đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước
ngoài;
+ Cho thuê đất đối với tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ
chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài.
+ Cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức. Uỷ ban nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định:
+Giao đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư
+Cho thuê đất đối với hộ gia đình, cá nhân;
+ Cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân.
- Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông
nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.
- Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển
mục đích sử dụng đất quy định trên đây không được ủy quyền.
- Cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất quy định trên đây là cơ
quan có thẩm quyền quyết định điều chỉnh đối với trường hợp người sử dụng đất
21
22
đã có quyết định giao đất, cho thuê đất trước ngày 1 tháng 7 năm 2004.
*Chính sách thu hồi đất:
Nhà nước là đại diện sở hữu toàn bộ đất đai do vậy quyền quyết định thu hồi
đất hoặc xử lý các sai phạm về đất đai trong các trường hợp sau:
2.2.5 Thống kê, kiểm kê đất đai
-Thống kế đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính về
hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kế và tình hình biên động đất đai giữa
hai lần thống kê. Thống kê đất đai thường phải diễn ra thường xuyên lien tục, còn
kiểm kê đất đai thì diễn ra 5 năm một lần để kịp thời bổ sung biến động về đất đai.
-Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và
trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biên động
đất đai giữa hai lần kiểm kê.( được quy đinh trong điều 22 Luật đất đai năm 2003)
2.3 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất đai
2.3.1 Cơ chế chính sách pháp luật.
*Cơ chế.
Trong xu thế vận động của nền kinh tế diễn ra theo kinh tế thị trường, các tổ
chức, cá nhân và các doanh nghiệp đều có mục đích riêng làm thế nào để tối đa hoá
lợi nhuận và lợi ích của mình do vậy nó sẽ làm ảnh hưởng đến lợi ích của người
khác dẫn đến các xung đột cá nhân và tập thể làm cho nền kinh tế bị ảnh hưởng
chậm phát triển khi đó đòi hỏi phải có một cơ quan, tổ chức đứng ra mà chỉ có cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền mới có thể giải quyết được các mâu thuẫn này.
Nước ta là một nước xuất phát từ nền nông nghiệp do vậy nền kinh tế còn có
nhiều hạn chế so với khu vực và thế giới, từ đai hội VI đã đề ra các phương châm
hành động để đưa đất nước ta lên một vị trí và tầm cao mới thì bên cạnh đó chúng ta
phải xây dựng nhà nước pháp quyền để quản lý mọi lĩnh vực đặc biệt là trong lĩnh
vực đất đai. Nhà nước giao đất cho các hộ gia đình sử dụng lâu dài ổn định, nhà
nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở. Khi tham gia
vào nền kinh tế thị trường, đất đai có sự thay đổi và nó trở thành tài sản vô cùng
quý giá của cá nhân và tập thể và trở thành một hang hoá đặc biệt có giá trị cao. Do
vậy dẫn đến các vần đề về tranh chấp, lấn chiếm và sử dụng đất đai không đúng
mục đích làm ảnh hường đến kinh tế chính trị của cả nước. Chính vì vậy việc điều
chỉnh và hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai là hết sức cần thiết nhằm phát huy
những ưu thế của cơ chế thị trường và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi
cũng chính là giúp cho công tác quản lý được thuận lợi hơn.
2.3.2 Môi trường vĩ mô trong nước và quốc tế.
Trong xu thế hội nhập giữa các quốc gia và trên toàn thế giới làm cho nền
kinh tế có những biến đổi sâu sắc và quan trọng, nó chi phối toàn bộ các lĩnh vực
24
25
phát triên trong nước nói chung và ngành quan lý đất đai nói riêng. Do các nguyên
nhân khách quan và chủ quan nói chung làm cho đất đai dần cạn kiệt, tài nguyên
khoáng sản bị xói mòn, đất đai thì và môi trường sống bị ô nhiễm… và quá trình sa
mạc hóa, biến đổi khí hậu và nước biển dâng... Chính vì vậy, việc quản lý, sử dụng, tài
nguyên đất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững là mục tiêu cực kỳ quan trọng
của các quốc gia.
2.3.3 Các chủ thể sử dụng đất.
Luật Đất đai 2003, đã quy định rõ các chủ thể sử dụng đất đai là các cá nhân
các tổ chức và các thành phần kinh tế trong xã hội…người nước ngoài, người việt Nam
định cư ở nước ngaòi.
Do chủ thể sử dụng đất đai là rất lớn nó ảnh hưởng đến công tác quản lý đất đai
của Nhà nước chưa kể đến các tình trạng mà các cá nhân tổ chức vi phạm về quyền sử
dụng đất đai…
.3.4 Nhân tố khác.
Nhân tố kinh tế: Là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến công tác
quản lý về đất đai vì nhân tố này nó quyết định các yếu tố về công nghệ máy móc hiện
đại đáp ứng nhu cầu hiện nay như trong khâu đo đạc và lập bản đồ đại chính.
Công tác quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng phải có cơ sơ vật chất kỹ thuật,
máy móc hiện đại để đáp ứng yêu cầu quản lý hiện nay. Ngoài ra nó còn phục vụ cho
quá trình đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân viên có đầy đủ trình đọ