Đẩy mạnh huy động vốn tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh vĩnh phúc - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

VŨ THỊ LUYỆN

ĐẨY MẠNH HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH VĨNH PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ


ii
THÁI NGUYÊN - 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

VŨ THỊ LUYỆN

ĐẨY MẠNH HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG
TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐỖ THỊ PHƯƠNG


ii

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Tác giả luận văn

Vũ Thị Luyện


iii
MỤC LỤC


iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
NHTM
NHTW
TMCP
TCTD
BIDV
BIDVVĩnh Phúc
PGD
Agribank
ATM
VIB
MB
NHCSXH
VCB
VIBBank
Vietinbank
VPBank
ACB



v
DANH MỤC CÁC BẢNG


vi
DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất cứ một doanh
nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển được đều cần có một nguồn vốn đủ
mạnh. Vốn là thước đo sức khỏe của cơ thể doanh nghiệp. Doanh nghiệp
muốn mở rộng hay thu hẹp thị phần, muốn nâng cao năng lực cạnh tranh cần
phải có nguồn tài chính vững vàng.Vì vậy, hầu hết các doanh nghiệp đều theo
đuổi mục tiêu duy trì và gia tăng nguồn vốn. Việt Nam đang trên con đường
hội nhập kinh tế quốc tế và gặp khó khăn trong cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ thế giới, suy thoái kinh tế toàn cầu khiến kinh tế Việt Nam đang phải
đối mặt với bài toán hết sức khó khăn về nguồn vốn. Do đó, vốn đang trở
thành một vấn đề cấp thiết cho quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế
nước ta. Nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn vốn, chúng ta cần phát
huy hơn nữa vai trò trong công tác huy động vốn của hệ thống Ngân hàng
thương mại (NHTM) bởi hệ thống NHTM là hệ thống dẫn mạch máu lưu
thông các nguồn vốn.
Trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, hầu hết các NHTM,
ngân hàng cổ phần, ngân hàng có vốn đầu tư nước ngoài đều luôn phải đối mặt
với áp lực tìm kiếm nguồn vốn với chất lượng cao phục vụ cho sự tồn tại và phát

tài: “Đẩy mạnh huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam - Chi nhánh Vĩnh Phúc” làm luận văn thạc sỹ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
- Đề tài nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác huy động vốn, từ đó
đưa ra các giải pháp đẩy mạnh huy động vốn BIDV Vĩnh Phúc nhằm đảm bảo
ổn định và phát triển bền vững.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về huy động vốn của NHTM.
- Đánh giá thực trạng huy động vốn tại BIDV Vĩnh Phúc, từ đó đưa ra
các mặt đạt được và mặt hạn chế trong công tác huy động vốn.


3
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn tại BIDV
Vĩnh Phúc.
- Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại BIDV Vĩnh Phúc
nhằm duy trì và phát triển bền vững trong những năm tiếp theo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác huy động vốn tại BIDV
Vĩnh Phúc.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Phạm vi về không gian
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu tại BIDV Vĩnh Phúc,
địa chỉ số 8 Kim Ngọc- Ngô Quyền- Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc.
3.2.2. Phạm vi về thời gian
Các số liệu trong luận văn được thu thập tại BIDV Vĩnh Phúc trong giai
đoạn từ năm 2010 đến năm 2014.
3.2.3. Phạm vi về nội dung



5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.1. Tổng quan về NHTM
1.1.1. Khái niệm NHTM trong nền kinh tế
Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra khái niệm về NHTM.
Ở Mỹ, NHTM là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ
tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
Ở Pháp, NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường
xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các
hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về
chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Nhìn chung các khái niệm được đưa ra đều dựa trên chức năng, hoạt
động và vai trò của NHTM. Đặc trưng của các NHTM so với các tổ chức tài
chính khác là chuyên về nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ thanh
toán. Bất kỳ NHTM hay TCTC nào đều hoạt động trong phạm vi pháp luật cho
phép và đều hoạt động dựa trên cơ sở sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh
doanh trong nền kinh tế. Cách tiếp cận có tính logic hơn là xem xét NHTM trên
phương diện những loại hình dịch vụ cung cấp. Theo đó, Luật các tổ chức tín
dụng của Việt Nam ban hành năm 2010 (Quốc hội, 2010) đã định nghĩa:
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định Luật
này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm
dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín
dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Và: “Ngân hàng loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ
hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Và vì vậy, trong nghiên cứu này tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của luật

cao do không an toàn, chi phí vận chuyển lớn, tốn nhiều thời gian kiểm
đếm… Nhờ có sự ra đời và phát triển của hệ thống NHTM, phần lớn các
khoản thanh toán đều được thực hiện thông qua chuyển khoản. Ở đây NHTM


7
đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh
toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ
để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ.
Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán
tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ
tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức
thanh toán phù hợp. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông
hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp
phần phát triển kinh tế.
c. Chức năng tạo tiền
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của
NHTM là chức năng trung gian tín dụng và chức năng thanh toán. NHTM sử
dụng số tiền huy động vốn có được để cho vay, số tiền cho vay lại được khách
hàng sử dụng để thanh toán, mua hàng hóa dịch vụ. Với chức năng này, hệ
thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp
ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội .
Khả năng tạo tiền của NHTM phụ thuộc vào các yếu tố như: tỉ lệ dự trữ
bắt buộc, tỉ lệ dự trữ dư thừa và tỉ lệ giữa tiền mặt so với tiền gửi thanh toán.
1.1.3. Vai trò của NHTM
a. NHTM là trung gian cung cấp vốn cho nền kinh tế
Bằng các kênh huy động vốn khác nhau, NHTM đã thu hút được một
khối lượng vốn nhàn rỗi từ dân cư, tổ chức kinh tế, định chế tài chính. Trên
cơ sở nguồn vốn huy động được tiến hành cấp tín dụng cho các doanh nghiệp,

gian thanh toán. Lượng tiền trong lưu thông được ngân hàng kiểm soát.
Thông qua các khoản mục của NHTM, NHTW sẽ xác định được lượng tiền
mặt đang lưu thông trong nền kinh tế, từ đó để có các biện pháp kiểm soát
nhằm đề phòng và hạn chế những ảnh hưởng xấu có thể xảy ra. Trường hợp
nếu xảy ra lạm phát thì bằng các nghiệp vụ của mình, NHTW sẽ tiến hành


9
điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất chiết khấu hoặc tái chiết khấu, tham
gia vào thị trường mở để tác động tới NHTM qua đó làm thay đổi lượng tiền
trong lưu thông.
d. Ngân hàng là cầu nối nền tài chính quốc gia và quốc tế, thúc đẩy
phát triển thương mại quốc tế.
Trong bối nền kinh tế thế giới hội nhập, NHTM cũng đóng vai trò rất
quan trọng trong việc đưa nền kinh tế của quốc gia mình hội nhập với nền kinh
tế thế giới. NHTM là cầu nối giữa nền kinh tế tài chính quốc gia với nền tài
chính quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Bằng các
hoạt động của mình như tài trợ xuất nhập khẩu, thực hiện các hình thức thanh
toán, bảo lãnh, huy động vốn nước ngoài, đã góp phần thúc đẩy việc luân
chuyển hàng hoá dịch vụ giữa các quốc gia với nhau một cách thuận lợi và
nhanh chóng.
1.1.4. Các hoạt động cơ bản của NHTM
- Hoạt động huy động vốn: NHTM muốn tồn tại và phát triển được phải
có nguồn vốn. Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm:
a.Vốn tự có: Vốn tự có của NHTM bao gồm vốn điều lệ, các quỹ dự trữ
và một số tài sản nợ khác theo quy định của NHTW. Vốn tự có thường chiếm
tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.
b. Vốn huy động: Huy động vốn nhàn rỗi là một trong những hoạt động
quan trọng hàng đầu của NHTM. Nó tạo ra nguồn vốn chủ lực trong kinh
doanh. NHTM thường huy động vốn nhàn rỗi của xã hội qua các hình thức

tiền đó với nhau. Qua nghiệp vụ này, ngân hàng được hưởng lợi nhuận từ kinh
doanh ngoại tệ là chênh lệch giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán. Số lượng ngoại tệ mà
ngân hàng mua được có thể dùng để cho vay đối với các khách hàng có nhu cầu
vay bằng ngoại tệ hoặc dùng để thanh toán trong các giao dịch bằng ngoại tệ.
c. Cung cấp các dịch vụ ngân hàng
Thông qua các tài khoản giao dịch tại ngân hàng, NHTM cung cấp các
dịch vụ đi kèm theo các tài khoản đó như dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo
lãnh, dịch vụ môi giới và kinh doanh chứng khoán, dịch vụ tư vấn đầu tư,
dịch vụ ngân quỹ, bảo quản giấy tờ có giá và nhiều dịch vụ khác.


11
1.2. Tổng quan về huy động vốn của NHTM
1.2.1. Khái niệm về huy động vốn
Như chúng ta đã biết NHTM muốn hoạt động được phải có vốn, nhưng
vì hàng hóa mà các ngân hàng kinh doanh là hàng hóa đặc biệt- đó là tiền nên
buộc các nhà đầu tư phải tìm cách mua bán vốn trên thị trường tài chính,
thông qua thị trường, vốn được chu chuyển rộng rãi và thể hiện được vai trò
và bản chất của mình. Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM, quyết định
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Vốn kinh doanh của NHTM được hình
thành từ nhiều nguồn khác nhau như: vốn tự có, vốn huy động, vốn trong
thanh toán, vốn ủy thác, … Theo luật của TCTD năm 2010 cho ta hiểu rằng
Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho NHTM, là những giá trị tiền tệ
mà ngân hàng huy động được từ tiền nhàn rỗi của tổ chức kinh tế và các các
nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn
từ nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các TCTD và vay vốn
của NHTW làm nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình.
1.2.2. Vai trò của huy động vốn đối với NHTM
Vốn phản ánh năng lực tài chính của một doanh nghiệp, là thước đo
cho “sức khỏe” của một “cơ thể” doanh nghiệp, quyết định khả năng cạnh

đảm bảo uy tín và năng lực trên thị trường.
1.2.3. Các hình thức huy động vốn
a. Phân loại theo các công cụ huy động vốn của NHTM
* Huy động các khoản tiền gửi của khách hàng.
Đây là bộ phận chủ yếu trong cơ cấu tài sản nợ của các NHTM. Tiền
gửi của NHTM bao gồm:
-Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền gửi mà khách hàng có thể rút
ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng phải thoả mãn yêu cầu đó của khách hàng,
thực chất đó là khoản tiền gửi dùng để đảm bảo trong thanh toán. Họ có
quyền lấy ra hoặc chuyển nhượng cho bất kỳ ai và bất kỳ thời gian


13
nào. Khách hàng được sử dụng số tiền của mình bằng các phương tiện thanh
toán dùng để chi trả như séc, uỷ nhiệm chi, thư chuyển tiền…
Đối với ngân hàng đây là một khoản nợ mà ngân hàng có nghĩa vụ thực
hiện lệnh thanh toán chi trả cho người thụ hưởng loại tiền gửi này, lãi suất
thường thấp hơn lãi suất trả cho các khoản tiền gửi có lãi khác. Nhưng khi
khách hàng mở và sử dụng các loại tài khoản này thì được ngân hàng cung
ứng các loại dịch vụ miễn phí hoặc thu với tỷ lệ thấp, lượng tiền vốn ở tài
khoản thanh toán thường chiếm gần 1/3 tiền gửi ngân hàng.
Ngày nay do điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, nhiều công nghệ
mới được ứng dụng vào hoạt động ngân hàng. Vì vậy đã có nhiều doanh
nghiệp, cá nhân mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng, làm cho lượng tiền gửi
này ngày càng gia tăng. Đó là những nguồn vốn dùng để cho vay hết sức quan
trọng của ngân hàng, đồng thời lợi nhuận thu về từ nguồn vốn này cũng ngày
càng tăng.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi
của doanh nghiệp, chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định, mà
khoảng thời gian này được xác định trước. Do đó cá doanh nghiệp thường gửi

lãi suất thấp hơn lãi suất tiền gửi.
* Huy động vốn thông qua thị trường
Huy động vốn thông qua thị trường bao gồm hình thức phát hành giấy
tờ có giá (kỳ phiếu, trái phiếu) và huy động vốn thông qua việc vay các
NHTM, TCTD và NHTW.
- Phát hành giấy tờ có giá: Khi các NHTM có nguồn vốn tài chính
dồi dào để tài trợ cho các nguồn vốn có qui mô lớn, nhằm phát triển kinh
tế địa phương, chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc liên doanh, liên kết với các tổ
chức kinh tế mà các nguồn vốn tự có chưa đáp ứng được, NHTM trình
NHTW xin phép phát hành kỳ phiếu để tạo nguồn vốn tín dụng tương đối lâu
dài cho các hoạt động này. Trái phiếu ngân hàng thực chất là giấy nhận nợ có
kỳ hạn của ngân hàng đối với những người mua trái phiếu (nhà đầu tư). Trái


15
phiếu được các NHTM hay các TCTD phát hành nhằm huy động vốn cho
chính bản thân ngân hàng hoặc các TCTD có liên quan. Thời hạn của trái
phiếu thường lớn hơn một năm. Lãi suất của trái phiếu thường cao hơn lãi
suất của tiền gửi tiết kiệm, kỳ phiếu. Các NHTM phát hành trái phiếu trên cơ
sở nhu cầu sử dụng vốn thông qua các dự án đầu tư của các doanh nghiệp mà
ngân hàng cam kết cho vay.
- Huy động vốn từ các NHTM, TCTD khác và NHTW: Các NHTM khi
xuất hiện trên thị trường để vay vốn thường do một số nguyên nhân cấp thiết
như thiếu hụt dự trữ tại NHTW, thiếu tiền mặt... nên ngoài việc phát hành
phiếu nợ, các NHTM có thể đi vay lẫn nhau giữa các ngân hàng tại những
khoản dự trữ tại NHTW. Thời hạn vay mượn giữa các NHTM rất linh hoạt có
thể ít ngày cũng có thể dài ngày phù hợp với nhu cầu về vốn của NHTM trong
từng giai đoạn cụ thể.
Trong trường hợp vốn vay trên tiếp tục không đáp ứng được đủ nhu cầu
sử dụng của NHTM thì NHTM sẽ đi vay của NHTW. Trong quan hệ với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status