Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
TÓM LƯỢC
Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đã đặt ra cho các doanh nghiệp
Việt Nam nói chung cả những cơ hội và thách thức. Việc hội nhập sâu vào kinh tế thế
giới và khu vực đòi hỏi Việt Nam phải mở của thị trường sâu rộng cho doanh nghiệp
và hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam.Chính việc mở cửa thị trường là cuộc cạnh
tranh gay go quyết liệt cho các doanh nghiệp trong nước. Nó đã tạo áp lực làm cho
mức độ cạnh tranh trong hầu hết các ngành kinh doanh của nền kinh tế Việt Nam tăng
mạnh. Và ngành kinh doanh thực phẩm cũng không phải là một ngoại lệ.
Công ty TNHH Hải Hà – Kotobuki là công ty chuyên sản xuất và kinh doanh
bánh kẹo, có trụ sở chính đặt tại số 25 ,đường Trương Định, Quận Hoàng Mai, Hà
Nội. Bên cạnh những khó khăn về vốn và trang thiết bị công nghệ, công ty cũng cần
tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại để quảng bá rộng rãi sản phẩm và tăng
doanh thu trong những năm tới. Nhìn chung hoạt động xúc tiến thương mại của công
ty đã đạt được một số thành công, một số công cụ xúc tiến phát huy hiệu quả tốt. tuy
nhiên cũng còn một số hạn chế và phải điều chỉnh cho phù hợp với tình hình mới của
thị trường và nguồn lực của công ty.
Khóa luận trên đây là kết quả của quá trình nghiên cứu, tổng hợp, phân tích và
đánh giá chính sách xúc tiến thương mại cho sản phẩm bánh tươi của công ty TNHH
Hải Hà – Kotobuki trên thị trường Hà Nội. Trong quá trình nghiên cứu, dựa vào các
kết quả phân tích các dữ liệu sơ cấp qua phiếu điều tra trắc nghiệm và phỏng vấn
chuyên gia cũng như các dữ liệu thứ cấp mà công ty cung cấp, em đã đưa ra các giải
pháp để phát triển chính sách xúc tiến thương mại của công ty trong thời gian tới như:
cụ thể mục tiêu xúc tiến, tăng cường ngân sách và phân bổ hợp lý các công cụ, nhất
quán thông điệp, tăng cường hiệu quả sử dụng cho kênh truyền thông, tăng cường phối
hợp các công cụ. bên cạnh đó khóa luận cũng có một số kiến nghị với nhà nước và các
cơ quan hữu quan tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, có
biện pháp kiềm chế lạm phát và hỗ trợ vốn vay cho các doanh nghiệp.
Sinh viên
Lê Thị Nhuần
2
SVTH: Lê Thị Nhuần
2
2
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
3
SVTH: Lê Thị Nhuần
3
3
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
marketing nhằm thúc đẩy nhận thức của người tiêu dùng Hà Nội. Hơn hết, đó là sự mở
rộng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước như Kinh Đô, Tràng An,
Bibica….
4
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
Trước tình hình đó, trải qua quá trình thực tập tại công ty, em thấy Hải Hà –
Kotobuki đang đối mặt với những thách thức không hề nhỏ tại chính thị trường Hà
Nôi, mà sự cảm nhận của khách hàng Thủ đô về thương hiệu, chất lượng sản phẩm
Bánh Tươi của công ty còn chưa rộng rãi. Vậy để thương hiệu của công ty được người
tiêu dùng biết đến rộng rãi hơn, Hải Hà – Kotobuki cần chú trọng và tập trung vào
hoạt động xúc tiến hỗn hợp hơn nữa để thông tin và hình ảnh của sản phẩm đến gần
hơn với khách hàng, từ đó góp phần tăng số lượng, doanh số, đứng vững về mảng
bánh kẹo trên thị trường Hà Nội đặc biệt là thị phần Bánh Tươi nói riêng.
Chính vì một số lý do đó, em xin chọn đề tài “ phát triển chính sách xúc tiến
hỗn hợp cho sản phẩm Bánh tươi của công ty TNHH Hải Hà-Kotobuki trên thị trường
Hà Nội làm đề tài khóa luận của mình.
Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu công trình của những năm trước
Phát triển hoạt động xúc tiến hỗn hợp nói chung đến nay không còn là vấn đề
1.2.
hơn cho hoạt động XTHH của công ty trên thị trường Hà Nội. Giúp công ty có thể gia
tăng doanh số, lợi nhuận và tăng số lượng tiêu thụ.
-
Các mục tiêu nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về phát triển chính sách xúc tiến hỗn hợp của
-
công ty kinh doanh.
Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển chính sách xúc tiến hỗn hợp cho sản phẩm
-
bánh tươi của công ty TNHH Hải Hà-Kotobuki trên thị trường Hà Nội.
Đề xuất các giải pháp và một số kiến nghị nhằm phát triển chính sách xúc tiến hỗn hợp
-
cho sản phẩm bánh tươi của công ty TNHH Hải Hà-Kotobuki trên thị trường Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu.
Không gian nghiên cứu:Khu vực thị trường Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu: Thu thập dữ liệu thứ cấp và kết quả hoạt động sản xuất kinh
1.3.
1.4.
doanh của công ty trong khoảng thời gian từ 2011-2013.Thu thập dữ liệu sơ cấp thu
được từ phỏng vấn nhà quản trị và điều tra 100 khách hàng mua sản phẩm bánh tươi
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp.
6
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
-
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
Các số liệu về doanh thu, lợi nhuận của công ty trong 3 năm 2012-2014
Các công cụ XTHH mà công ty đang áp dụng và ngân sách dành chi cho hoạt động
xúc tiến hỗn hợp và phần trăm ngân sách phân bổ cho từng công cụ.
Tình hình hoạt động của các đối thủ cạnh tranh của công ty.
1.5.2.2.
Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
Điều tra trắc nghiệm khách hàng:
Đối tượng: là những khách hàng đã từng hoặc chưa từng sử dụng sản phẩm bánh tươi
-
của công ty.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
1.5.2.3.
Sử dụng một số phương pháp phân tích kinh tế đã học như: phương pháp phân
tích và sử lí số liệu, phương pháp thống kê, so sánh số liệu thu thập được để từ đó có
những kết quả thu thập được nhằm phân tích, đánh giá tình hình công ty.
Phân tích và sử lý số liệu được thể hiện theo quá trình: Giá trị hóa dữ liệu và hiệu
chỉnh các câu trả lời- phân tỏ-phân tích dữ liệu theo mục tiêu.
1.6.
Công cụ sử lý: SPSS
Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
7
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
Ngoài các nội dung như tóm lược, lời cảm ơn, mục lục, danh mục bảng biểu,
hình vẽ, danh mục từ viết tắt, tài liệu tham khảo, các phụ lục thì khóa luận gồm kết cấu
4 chương chính sau:
Chương 1: Tổng quan về phát triển chính sách xúc tiến hỗn hợp cho sản phẩm
bánh tươi của công ty TNHH Hải Hà-kotobuki trên thị trường Hà Nội
Chương 2: Tóm lược một số lý luận cơ bản về phát triển chính sách xúc tiến hỗn
hợp của công ty kinh doanh.
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
hoạt động marketing chuyên biệt và có chủ đích hướng vào việc chào hàng, chiêu
khách và xác lập một quan hệ đồng thuận nhất giữa công ty và bạn hàng của nó với tập
khách hàng tiềm năng trọng điểm nhằm phối thuộc triển khai năng động chiến lược và
chương trình marketing – mix đã lựa chọn của công ty.”
Mặt khác, về cơ bản xúc tiến hỗn hợp (XTHH) và xúc tiến thương mại là giống
nhau. Cho nên, với quan điểm định nghĩa về XTTM trên, khóa luận xin đi theo quan
điểm định nghĩa của GS.TS Nguyễn Bách Khoa trong giáo trình Marketing thương
mại.
2.1.1.2. Bản chất của xúc tiến hỗn hợp
- Là yếu tố quan trọng để cho cung và cầu gặp nhau, để người bán thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu của người mua, giảm được chi phí và giảm được rủi ro trong kinh doanh.
- Xúc tiến hỗn hợp làm cho bán hàng dễ dàng và năng động hơn, đưa hàng vào
kênh phân phối và quyết định lấp các kênh phân phối hợp lý và tạo được những lợi thế
về giá bán.
- Là công cụ quan trọng, vấn đề cốt tử của bất kỳ tổ chức nào để thực hiện chiến
lược và chương trình marketing. Do vậy, xúc tiến hỗn hợp không chỉ là công cụ, biện
pháp cho các chính sách sản phẩm, giá và phân phối mà còn làm tăng cường kết quả
thực hiện các chính sách đó.
2.1.2. Khái niệm, công cụ và vai trò của chính sách xúc tiến hỗn hợp
-
Khái niệm chính sách XTHH
Trong cuốn “ Giáo trình quản trị chiến lược” nhà xuất bản Đại Học Kinh Tế
Quốc Dân của PGS.TS Ngô Kim Thanh, có đưa ra khái niệm “ Chính sách là một hệ
thống các chỉ dẫn, dẫn dắt doanh nghiệp, trong quá trình đưa ra và thực hiện các quyết
định của chiến lược”.
Mỗi công cụ xúc tiến đều có những nội dung, hình thức và đặc trưng riêng biệt
nên việc sử dụng từng công cụ hay kết hợp giữa các công cụ với nhau là là lựa chọn
riêng của công ty để đạt hiệu quả cao tùy theo đặc thù công ty mình. Các công cụ
XTHH được thể hiện rõ như sau:
Quảng cáo: “ Là hình thức dịch vụ kinh doanh thông tin mang tính chất phi cá nhân
về các ý tưởng hàng hóa và dịch vụ do chủ quang cáo trả tiền nhằm thuyết phục hoặc
ảnh hưởng hành vi mua của một nhóm người nào đó” . Quảng cáo có đặc điểm cơ bản
đó là: Giới thiệu có tính đại chúng, tính lan truyền, sử diễn đạt khuyếch đại, tính vô
cảm. Có thể quảng cáo bằng pano, trên báo chí, trên radio, truyền hình, internet.... vì
vậy thông tin lan truyền rất nhanh, tiếp xúc được với nhiều khách hàng rất tốt trong
việc tạo dựng hình ảnh thương hiệu cho doanh nghiệp. Tuy nhiên quảng cáo không lựa
chọn được tập khách hàng để đánh giá những cảm nhận của họ.
Xúc tiến bán: Những kích thích ngắn hạn, khuyến khích người ta mua hay bán một
sản phẩm hay dịch vụ. Xúc tiến bán hướng tới ba đối tượng: người tiêu dùng, trung
gian phân phối, lực lượng bán của doanh nghiệp. Vì vậy công cụ xúc tiến bán áp dụng
khác nhau đối với mỗi đối tượng khách hàng. Xúc tiến bán có những đặc trưng sau:
truyền thông, khuyến khách, mời chào
Quan hệ công chúng: Xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với các giới công chúng
khác nhau bằng cách làm cho nhiều người có thiện cảm với mình, xây dựng một hình
ảnh tốt đẹp và xử lý hay ngăn chặn những đàm tiếu, câu chuyện, vụ việc bất lợi. Quan
hệ công chúng bao gồm các đặc trưng sau: Tín nhiệm cao, không cần cảnh giác, giới
thiệu cụ thể.
10
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Phép siêu hình do tuyệt đối hóa trạng thái ổn định của sự vật đi đến phủ nhận sự phát
triển. Nếu có thừa nhận sự phát triển thì cũng chỉ là sự tăng giảm về lượng, sự lặp lại
tuần hoàn mà không có sự chuyển hóa về chất, không có sự phá hủy cái cũ và sự ra đời
của cái mới.
Vậy theo quan điểm này cho thấy phép biện chứng duy vật là có cơ sở và thực tiễn hơn
cả về khái niệm phát triển.
Theo quan điểm này, em đưa ra khái niệm phát triển chính sách xúc tiến hỗn hợp
là: “Việc thay đổi, điều chỉnh các chương trình, hoạt động XTHH của công ty so với
hiện tại để thích ứng với sự thay đổi của môi trường và thị trường của sản phẩm nhằm
thực hiện hiệu quả các chiến lược và chương trình marketing-mix công ty đã lựa
chọn”.
11
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
2.2. Một số lý thuyết liên quan đến phát triển chính sách xúc tiến hỗn hợp của
công ty kinh doanh.
Có rất nhiều lý thuyết về phát triển chính sách xúc tiến hỗn hợp của công ty kinh
doanh, ở đây em xin đưa ra 2 quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa và GS Philip
Kotler
Theo quan điểm của GS.TS Nguyễn Bách Khoa – “Xúc tiến thương mại”
phối thức xúc
tiến thương
Mã
hóa
mại
Quyết định
lựa chọn kênh
Quyết đinh
ngân quỹ
Đáp ứng
12
SVTH: Lê Thị Nhuần
Nhận giải
mã
Truyền tải
thông điệp
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
người có ảnh hưởng. Công chúng có thể là những cá nhân, nhóm, một giới công chúng
cụ thể hay công chúng nói chung. Công chúng mục tiêu sẽ có ảnh hưởng quan trọng
13
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
đến những quyết định của người truyền thông về chuyện gì, nói khi nào, nói ở đâu và
nói với ai?. Đối với mỗi đoạn thị trường khác nhau, mỗi tập khách hàng khác nhau thì
lại có những hoạt động xúc tiến hỗn hợp khác nhau.
2.3.2. Xác lập mục tiêu chính sách xúc tiến hỗn hợp
Bất kỳ chiến lược, hành động nào của doanh nghiệp cần phải có mục tiêu rõ ràng,
cụ thể, xuất phát từ thực tế của doanh nghiệp. Phát triển chính sách xúc tiến hỗn hợp
cũng vậy, mục tiêu chính là cái đích mà toàn bộ hoạt động xúc tiến hướng tới, nó giúp
cho việc xây dựng chiến lược xúc tiến và định phương hướng sử dụng các nguồn lực
hiệu quả. Các mục tiêu này cần được giải trình ở mức cho phép có được các tiêu chuẩn
đánh giá này đồng thời phân định được khi triển khai thực hiện. Mục tiêu của chính
sách xúc tiến hỗn hợp cần thỏa mãn các điều kiện: rõ ràng, cụ thể gắn với một khoảng
thời gian nhất định, phù hợp với khả năng của doanh nghiệp, có tính khả thi, có tính
linh hoạt, có tính đo lường được và có tính thử thách. Các mục tiêu của xúc tiến hỗn
hợp:
Mục tiêu thông tin: thông tin về sản phẩm mới cho khách hàng, thông tin về nhãn hiệu,
công dụng, lợi ích của sản phẩm
Mục tiêu thuyết phục: thuyết phục khách hàng mua sản phẩm, chuyển từ sản phẩm của
Phương pháp tùy khả năng: yêu cầu của phương pháp này là công ty có khả năng đến
đâu thì quyết định ngân sách xúc tiến ở mức đó. Phương pháp này không tính đến sự
tác động của truyền thông đối với lượng hàng hóa tiêu thụ, tới doanh số bán ra. Vì thế
ngân sách này không ổn định hàng năm và gây trở ngại cho việc hình thành chiến lược
dài hạn của công ty.
-
Phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm trên mức doanh số bán: phương pháp này yêu
cầu công ty ấn định ngân sách cho truyền thông bằng một mức tỷ lệ phần trăm nào đó
so với mức doanh số bán dự kiến. Các công ty thường lấy doanh số bán của năm trước
hoặc chu kỳ kinh doanh trước liền kề của công ty để ấn định
-
Phương pháp ngang bằng cạnh tranh: Theo phương pháp này công ty xác định mức ngân
sách xúc tiến của công ty mình ngang bằng với mức ngân sách của các đối thủ cạnh trong
khu vực thị trường và trong chu kỳ kinh doanh.
-
Phương pháp mục tiêu và công việc: theo phương pháp này yêu cầu các doanh nghiệp phải
hình thành ngân sách truyền thông của mình trên cơ sở những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể
cần giải quyết. Nghĩa là trước hết phải xác định chi phí cho các hoạt động truyền thông đó.
2.3.4 Phát triển phối thức xúc tiến hỗn hợp và lựa chọn thông điệp, kênh
truyền thông.
2.3.4.1. Phát triển phối thức xúc tiến hỗn hợp.
Mỗi công cụ xúc tiến hỗn hợp đều có đặc điểm riêng và tạo ra hiệu ứng truyền
thông khác nhau, người làm marketing phải căn cứ vào bản chất và tầm ảnh hưởng của
từng công cụ xúc tiến để phối hợp hiệu quả với tình hình của công ty. Bản chất của
người trung gian của kênh để kích thích họ đặt hàng cùng kinh doanh sản phẩm đó và
quảng cáo nó cho người sử dụng cuối cùng. Ngược lại, cơ chế kéo đòi hỏi hoạt động
Marketing hướng vào những người tiêu dùng để kích thích họ yêu cầu những người
trung gian cung ứng sản phẩm và nhờ vậy kích thích những nhà trung gian đặt hàng
của nhà sản xuất.
Hình 2: mô hình các cơ chế kéo-đẩy trong xúc tiến tổng quát
Giao tiếp năng động
cơ chế đẩy
Công ty
Công ty
Công ty
sản xuất
Bán buôn
Bán lẻ
Công ty
Công ty
Bán buôn
Bán lẻ
Người tiêu
dùng
Các công cụ của XTHH cũng có hiệu quả của chi phí khác nhau trong những giai
đoạn khác nhau của chu kì sống sản phẩm.
Trong giai đoạn xâm nhập thị trường thì quảng cáo và quan hệ công chúng rất
cần thiết để tạo ra sự biết đến, còn việc xúc tiến bán thì hữu ích trong việc kích thích
mua hàng dùng thử đối với khách hàng.
Trong giai đoạn tăng trưởng, quảng cáo và quan hệ công chúng tiếp tục có hiệu
lực, với xúc tiến bán có phần giảm bớt và ít cấn đến những kích thích nhất thời.
Giai đoạn bão hòa thì xúc tiến bán khôi phục lại tầm quan trọng so với quảng
cáo. Lúc này khách hàng đã biết đến sản phẩm của công ty nên chỉ cần quảng cáo ở
mức nhắc nhở.
Quan hệ công chúng cũng giảm dần, xúc tiến bán vẫn có thể tiếp tục tăng cường,
nhất là trong trường hợp mặt hàng có cải tiến.
Cuối cùng là trong giai đoạn suy thoái của sản phẩm, xúc tiến bán vẫn tiếp tục có
tác dụng mạnh, quảng cáo và quan hệ công chúng thì có chiều hướng thuyên giảm và
nhân viên bán hàng chỉ thu hút sự chú ý tối thiểu đến sản phẩm.
17
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
2.3.4.2. Lựa chọn thông điệp và kênh truyền thông
Lựa chọn thông điệp:
Lựa chọn thông điệp XTHH bao gồm các nội dung cơ bản như sau
Về nội dung thông điệp: Người truyền thông điệp phải hình dung được những điều sẽ
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
quảng cáo in ấn, người truyền thông phải quyết định về tiêu đề, lời lẽ, minh họa và
mầu sắc. Để thu hút sự chú ý, thông điệp cần mang tinh mới lạ, tương phản, hình ảnh
tiêu đề lôi cuốn, kích cỡ và vị trí đặc biệt...
Về nguồn thông điệp: Những thông điệp được phát ra từ nhưng nguồn hấp dẫn sẽ được
chú ý và ghi nhớ nhiều hơn. Nguồn có độ tin cậy cao sẽ tăng cường tính thuyết phục,
có ba yếu tố làm tăng độ tin cậy của nguồn là: tính chuyên môn, sự tín nhiệm, tính khả
ái.
Lựa chọn kênh truyền thông:
Lựa chon phương tiện truyền thông hiệu quả là vấn đề rất quan trọng. Hiện tại
phương tiện truyền thông bao gồm hai loại hình la kênh truyền thông có tính cá biệt và
kênh truyền thông mang tính đại chúng.
- Kênh truyền thông có tính cá biệt: Trong kênh này hai hay nhiều người sẽ trực
tiếp giao tiếp lẫn nhau. Họ có thể giao tiếp mặt đối mặt, qua điện thoại hoặc qua thư từ
trên cơ sở giao tiếp cá nhân.
- Kênh truyền thông đại chúng: Là tập định hướng các phương cách truyền
thông, truyền đi các thông điệp mà không có sự tiếp xúc hay phản hồi cá nhân. Bao
gồm các phương tiên truyền thông đại chúng và chọn lọc bao gồm những phương tiện
ấn phẩm(báo, tạp chí, thư trực tiếp), những phương tiện truyền thông điện tử(radio,
tivi), những phương tiện trưng bày (bảng quảng cáo, bảng hiệu..) nhằm hướng tới tập
hiệu quả sử dụng các kênh truyền thông, nó có tác động đến khách hàng như thế nào?
Mục tiêu của công tác kiểm tra, đánh giá hiệu quả của các chính sách xúc tiến hỗn hợp
chính là tìm ra những mặt làm được và chưa làm được so với mục tiêu ban đầu và so
sánh giữa các giai đoạn kinh doanh khác nhau để từ đó điều chỉnh cho phù hợp. Các
biện pháp điều chỉnh phải phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh và nguồn lực
hiện có của doanh nghiệp, các nhà quản trị cần phải thận trọng, không nên nóng vội.
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ THỰC TRẠNG
PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN HỖN HỢP CHO SẢN PHẨM BÁNH
TƯƠI CỦA CÔNG TY TNHH HẢI HÀ-KOTOBUKI TRÊN THỊ TRƯỜNG HÀ
NỘI.
3.1. Đánh giá tổng quan tình hình kinh doanh của công ty TNHH Hải HàKotobuki.
3.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Tên công ty viết tắt bằng tiếng Việt: CÔNG TY TNHH HẢI HÀ-KOTOBUKI
Tên công ty viết bằng tiếng Anh: HAIHA-KOTOBUKI COMPANY
Tên giao dịch: Hải Hà-Kotobuki Co.Ltd
Trụ sở chính: Số 25- Đường Trương Định- Quận Hai Bà Trưng- TP.Hà Nội.
Vốn điều lệ: 4.000.000 USD
Số điện thoại: 04. 3621007-04.36249394- 04.38631764
Website: http://www.haiha-kotobuki.com.vn/Tin-tuc-haiha-kotobuki-2120.aspx
Email: [email protected], [email protected],
[email protected].
Năm 1992, Hải Hà-Kotobuki được thành lập là liên doanh sản xuất bánh kẹo đầu
tiên ở miền Bắc, trên cơ sở 71% số vốn góp của tập đoàn Kotobuki( Nhật Bản) và 29%
vốn góp của công ty bánh kẹo Hải Hà( Việt Nam) với thời gian hoạt động 20 năm. Với
số vốn đầu tư ban đầu 4.000.000 USD, thì một dây chuyền sản xuất hiện đại với công
20
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Chức năng
Chức năng chủ yếu của Công ty TNHH Hải Hà-Kotobuki là sản xuất, kinh doanh
các loại bánh kẹo đảm bảo vệ sinh và an toàn thực phẩm.
Nhiệm vụ
Nhiệm vụ của công ty TNHH Hải Hà – Kotobuki:
Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước về các khoản thuế và lệ
phí. Ưu tiên sử dụng lao động trong nước, phải đảm bảo lợi ích và quền lợi cho người
21
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4
Khóa luận tốt nghiệp
GVHD: Nguyễn Hoàng Giang
lao động theo quy định của Luật Lao động. Đảm bảo chất lượng hàng hóa theo tiêu
chuẩn quy định và tích cức tham gia chống nạn hàng giả, hàng kém phẩm chất trên thị
trường và ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Tiến hành ghi chép sổ sách kế toán theo
quy định và chịu sự kiểm soát của cơ quan tài chính. Doanh nghiệp phải luôn thực
hiện tốt khâu kiểm tra chất lượng, tránh tình trạng làm bừa làm ẩu, mất vệ sinh gây tổn
hại đến uy tín của công ty và khách hàng.
Lĩnh vực kinh doanh
Công ty TNHH Hải Hà – Kotobuki được thành lập ngày 24/12/1992 theo giấy
phép đăng kí kinh doanh số 489 – GP của ủy ban nhà nước về hợp tác và đầu tư với
chức năng chính là sản xuất và kinh doanh bánh kẹo. Ngoài sản xuất và kinh doanh
bánh kẹo ra, cho đến nay công ty không tập trung vào kinh doanh lĩnh vực nào khác.
marketing
Nhân
viên Nhân
viên Nhân
viên Nhân viên phụ
phụ trách mặt phụ trách mặt thiết kế đồ trách
nhân
hàng
bánh hàng
bánh họa
diện cửa hàng
tươi.
khô
Nhân
viên
phụ
trách
Marketing
online
Chức năng nhiệm vụ của phòng Marketing
• Chức năng:
- Tham mưu, giúp việc cho Tổng giám đốc trong việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện
các chương trình Marketing theo định hướng chiến lược của công ty đã được Tổng
giám đốc phê duyệt.
• Nhiệm vụ của phòng Marketing:
- Nghiên cứu thị trường để đưa ra kế hoạch sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu khách
218.647
2013/2012
2014/2013
Số
lượng
Số
lượng
Tỷ
trọng
Tỷ
trọng
4.812
3.628 1.69%
%
Chi phí
44.743
45.884
46.985
1.141 2.55% 1.101 2.39%
Lợi
nhuận 10.316
11.559
11.743
-
Doanh thu: năm 2013 tăng 4.812% so với năm 2012, năm 2014 tăng 1.69% so với năm
-
2013.
Chi phí: chi phí năm 2013 tăng 2.55% so với năm 2012, năm 2014 tăng 2.39% so với
-
năm 2013.
Lợi nhuận sau thuế: lợi nhuận sau thuế năm 2013 tăng 1.205% so với năm 2012, năm
2014 tăng 1.59% so với năm 2013.
Qua đó ta thấy, không những doanh thu lợi nhuận liên tục tăng mà hoạt động
kinh doanh của công ty lại có xu hướng hiệu quả đi lên. Nguyên nhân chính của điều
này là do công ty mở rộng thêm một số sản phẩm mới với mẫu mã hấp dẫn, và sự đầu
tư ngân sách cho hoạt động xúc tiến mỗi năm một thay đổi. Đã khiến cho doanh thu
của công ty thay đổi qua các năm, và đây sẽ là tiền đề thúc đẩy Hải Hà – Kotobuki
phát triển mạnh mẽ hơn trong những năm tiếp theo.
3.2. Phân tích sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sự phát triển
chính sách XTHH cho sản phẩm bánh tươi của công ty TNHH Hải Hà-Kotobuki
trên thị trường Hà Nội
3.2.1. Sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường Vĩ mô
-
Môi trường kinh tế:
Biểu hiện: Nền kinh tế nước ta được đặc trưng bởi trạng thái ổn định ở cấp vĩ mô
năm 2013 và ổn định sau mức suy giảm kép vào năm 2012, tăng trưởng 5.42%(2013)
hỗn hợp:
Nghị định số 37/2006/NĐ-CP nghị định quy định chi tiết về luật thương mại và hoạt
động xúc tiến thương mại.
Quy định về sử phạt hành chính an toàn vệ sinh thực phẩm ban hành ngày 25/4/2012,
số hiệu 38/2012 NĐ-CP. Luật an toàn vệ sinh thực phẩm ban hành ngày 17/6/2010 số
hiệu 55/2010 QH12.
Theo các quy định này, công ty đã luôn tuân thủ các quy định của nhà nước
khi tham gia các chương trình xúc tiến, khuyến khích tất cả các khách hàng tham gia
các chương trình khuyến mại từ phía công ty, và công ty luôn đảm bảo chất lượng sản
phẩm, dịch vụ khuyến mại đến tay người tiêu dùng…tạo ra những phản hồi tích cực từ
phía khách hàng đối với công ty. Khó khăn mà Hải Hà – Kotobuki vấp phải khi thực
hiện chương trình khuyến mại, một số ý kiến từ phía khách hàng đã đem so sánh sản
phẩm của công ty với một số thương hiệu khác về chất lượng sản phẩm đã gây ảnh
hưởng đến thương hiệu của công ty.
-
Môi trường tự nhiên
Người tiêu dùng ngày càng đòi hỏi cao hơn đối với chất lượng sản phẩm. Để sản
phẩm có chất lượng tốt, ngoài việc có trang bị máy móc thích hợp, sản phẩm bánh tươi
của công ty còn phụ thuộc chính vào nguồn nguyên liệu cung cấp. Chịu sự ảnh hưởng
của vấn đề thời tiết mà các sản phẩm của công ty sẽ không để được lâu, phải có chế độ
bảo quản hợp lý, do đó công ty cần nghiên cứu các chính sách xúc tiến phù hợp, và
25
SVTH: Lê Thị Nhuần
Lớp: K47C4