Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam phát triển theo xu
hướng mở cửa và hội nhập quốc tế, tỷ giá hối đoái đóng vai trò ngày càng
quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế đối ngoại, có những ảnh
hưởng đến các vấn đề kinh tế - xã hội của Việt Nam. Một trong những tác
động rõ nhất đó là tác động đến xuất nhập khẩu, từ đó ảnh hưởng đến cán cân
thương mại, cán cân thanh toán của Việt Nam. Vì vậy, chính sách tỷ giá hối
đoái luôn là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ trong việc điều hành kinh
tế vĩ mô. Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu việc
hiểu và vận dụng tốt tỷ giá hối đoái sẽ giúp cho họ có được những phản ứng
kịp thời trước những biến động của tỷ giá, làm giảm các rủi ro trong kinh
doanh.
Với những kiến thức đã được học và thực tiễn, tôi quyết định chọn đề
tài: “Tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại ở Việt Nam”.
Trong luận văn này không chỉ nghiên cứu những vẫn đề lý luận về tác động
của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại, mà còn phân tích thực tế tác động
của tỷ giá lên cán cân thương mại của Việt Nam qua các thời kỳ và dựa vào
số liệu thu thập được trong giai đoạn (1996-2007) để phân tích định lượng
mối quan hệ giữa tỷ giá và cân cân thương mại.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và bài học kinh nghiệm về chính sách
tỷ giá ở một số nước, luận văn phân tích tình hình thực hiện chính sách tỷ giá
Page 1
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
Luận văn gồm có 3 phần chính:
Chương I: Những vấn đề lý luận về tác động của tỷ giá hối đoái đến
cán cân thương mại
Chương II: Thực trạng tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại ở Việt
Nam trong thời gian qua
Chương III: Một số định hướng và giải pháp về chính sách tỷ giá hối
đoái trong thời gian tới.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Viện Đào tạo Sau đại học, Khoa
Kinh tế học, Bộ môn Kinh tế vĩ mô trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
hoàn thành luận văn. Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS. TS.
Nguyễn Văn Công đã hướng dẫn rất tận tình và tỉ mỉ trong suốt thời gian tôi
viết luận văn này!
Page 3
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
Chương 1
Những vấn đề lý luận về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán
cân thương mại
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Tỷ giá hối đoái
1.1.1.1. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế
Trước hết, chúng ta cần phân biệt tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá
hối đoái thực tế.
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (ER)
Nhìn chung, các nhà kinh tế thống nhất định nghĩa tỉ giá hối đoái là tỉ lệ
đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa. Khi một đồng tiền lên giá, người ta gọi
đồng tiền đó mạnh hơn vì nó có thể mua được nhiều ngoại tệ hơn. Ngược lại,
khi một đồng tiền giảm giá, người ta gọi đồng tiền đó yếu đi.
Tỷ giá có thể được niêm yết theo hai cách: trực tiếp hoặc gián tiếp.
Cách thứ nhất, yết giá trực tiếp, có nghĩa là giá đồng ngoại tệ tính theo nội tệ
và do đó sự tăng lên của tỷ giá có nghĩa là đồng nội tệ xuống giá. Cách thứ
hai, yết giá gián tiếp, có nghĩa là giá một đồng nội tệ bằng bao nhiêu đồng
ngoại tệ, với hình thức yết giá này thì sự tăng lên của tỷ giá có nghĩa là đồng
nội tệ lên giá. Trong luận văn này, chúng ta ngầm định sử dụng cách yết giá
thứ nhất: tỷ giá hối đoái được tính bằng số đơn vị nội tệ đổi lấy một đơn vị
ngoại tệ và ký hiệu là ER.
Tỷ giá hối đoái thực tế (RER)
Tỷ giá hối đoái thực tế là giá tương đối của hàng hoá và dịch vụ được
trao đổi giữa hai nước. Nói cách khác, tỷ giá hối đoái thực tế cho chúng ta
biết tỷ lệ mà dựa vào đó hàng hoá một nước được trao đổi với hàng hoá của
nước khác. Tỷ giá hối đoái thực tế đôi khi còn được gọi là tỷ lệ trao đổi. Như
vậy khi một nước có giao thương với các nước trên thế giới (có xuất, nhập
khẩu hàng hoá) thì ngoài việc chịu tác dụng của tỷ giá hối đoái danh nghĩa
còn chịu tác động bởi tỷ giá hối đoái thực tế, có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh
Page 5
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
nghĩa được điều chỉnh theo lạm phát tương đối giữa trong nước và nước
ngoài. Ví dụ: giá bán 1 áo sơ mi tại Mỹ là 50đôla, chiếc áo sơ mi tương tự của
Việt Nam giá là 450.000 đồng. Để so sánh được chúng ta chuyển về đồng
Việt Nam theo tỷ giá là 18.000 đồng/đôla, áo sơ mi Mỹ có giá là 900.000
đồng, đem so sánh ta nhận thấy 1 áo sơ mi Mỹ bằng 2 áo sơ Việt Nam..
Vì các nhà kinh tế vĩ mô quan tâm đến nền kinh tế với tư cách một tổng
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
1.1.1.2. Tỷ giá hối đoái bình quân
Trong tiểu mục trước, thực ra chúng ta đã bàn về tỷ giá hối đoái song
phương: mối tương quan giữa tiền của hai quốc gia (tỷ giá hối đoái danh
nghĩa) hay giá tương đối giữa hàng của hai quốc gia (tỷ giá hối đoái thực tế).
Với tư cách là một biến số kinh tế vĩ mô, chúng ta cần hiểu khái niệm này một
cách chính xác hơn. Trước hết, chúng ta nhận thấy rằng một quốc gia có sự
liên kết thương mại và tài chính với nhiều nước trên thế giới và do đó đồng
bản tệ được chuyển đổi với nhiều đồng tiền khác. Ví dụ, đồng Việt Nam
(VND) có thể được chuyển đổi với yên Nhật (JPY), Bảng Anh (GBP), đô la
Mỹ (USD) v.v… Khi nghiên cứu những thay đổi trong tỷ giá, các nhà kinh tế
thường sử dụng các chỉ số mang thông tin trung bình về các tỷ giá này. Cũng
giống như chỉ số giá tiêu dùng chuyển nhiều loại giá trong nền kinh tế về một
loại giá, một chỉ số tỷ giá hối đoái chuyển các tỷ giá hối đoái khác nhau thành
một thước đo duy nhất về giá trị quốc tế của đồng bản tệ. Trong hầu hết các
trường hợp, tỷ giá bình quân được hiểu là số bình quân gia quyền của hầu hết
các tỷ giá song phương quan trọng với mức gia quyền được xác định bởi tỷ
trọng của mỗi loại ngoại tệ trong kim ngạch ngoại thương của nước đó.
EER = ERi x Wi
(1-2)
REER = RERi x Wi
(1-3)
Trong đó EER và REER là tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế bình
quân tương ứng; ERi và RERi là tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực tế song
phương với nước i và Wi là tỷ trọng thương mại của nước i trong tổng giá trị
tiền phải có sức mua như nhau ở tất cả các nước. Nghĩa là, 1 đô la Mỹ có thể
mua được một lượng hàng hoá như nhau ở Mỹ và Nhật và 1 yên có thể mua
được một lượng hàng hoá như nhau ở Nhật và ở Mỹ. Quả thực tên của lý
thuyết này nói rất rõ nội dung của nó. Ngang bằng nghĩa là bằng nhau và sức
mua nói lên giá trị của tiền. Lý thuyết ngang bằng sức mua phát biểu rằng một
đơn vị của tất cả các đồng tiền phải có cùng một giá trị thực tế ở mọi nước.
Page 8
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
Chúng ta cần phân biệt PPP tuyệt đối và PPP tương đối. Theo lý thuyết
PPP tuyệt đối, tỷ giá hối đoái sẽ điều chỉnh để đảm bảo cho giá cả như nhau ở
mọi nước trên thế giới. Do đó, đồng nội tệ sẽ giảm giá so với ngoại tệ khi
mức giá trong nước tăng lên so với mức giá ở nước ngoài. Tuy nhiên, giả thiết
này không bao giờ hoàn hảo do có tồn tại những rào cản tự nhiên và nhân tạo
đối với thương mại quốc tế như chi phí vận tải và bảo hiểm quốc tế, thông tin
không hoàn hảo và các chính sách bảo hộ như thuế quan và hạn ngạch. Khi
đó, theo lý thuyết PPP tương đối, tỷ giá hối đoái sẽ điều chỉnh theo chênh lệch
lạm phát giữa trong nước và ở nước ngoài.
%ΔER = π - π*
(1-4)
trong đó:
+ %ΔER là phần trăm thay đổi của tỷ giá hối đoái.
+ π là tỷ lệ lạm phát trong nước.
+ π* là tỷ lệ lạm phát ở nước ngoài.
Lý thuyết ngang bằng sức mua là một mô hình đơn giản nhất cho biết
trái phiếu trong nước tăng một cách tương đối so với trái phiếu ngoại, khoản
bảo hiểm rủi ro sẽ tăng lên đối với tài sản nội, điều này sẽ làm cho đồng nội tệ
giảm giá trên thị trường giao ngay.
Sự gia tăng lãi suất trong nước, sự cắt giảm lãi suất ở nước ngoài, hay
kỳ vọng đồng nội tệ lên giá sẽ làm cho các nhà đầu tư tái phân bổ danh mục
đầu tư của họ: chuyển từ trái phiếu ngoại sang trái phiếu nội và kết quả là
đồng nội tệ lên giá so với ngoại tệ. Sự gia tăng cung tiền làm tăng cầu về trái
phiếu nội và trái phiếu ngoại. Dư cầu về trái phiếu ngoại làm tăng cầu về
ngoại tệ và làm cho đồng nội tệ giảm giá. Cuối cùng, sự gia tăng mức nắm giữ
ròng về trái phiếu ngoại gây ra bởi thặng dư tài khoản vãng lai sẽ làm tăng
cầu về trái phiếu trong nước, làm giảm lãi suất và đồng nội tệ lên giá.
1.1.1.5. Chính sách tỷ giá hối đoái
Mỗi một nước trên thế giới khi bắt đầu mối quan hệ kinh tế và thương
mại hoặc các mối quan hệ khác với một quốc gia nào đó đều phải thiết lập
Page 10
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
mối quan hệ giữa đồng tiền của nước mình với đồng tiền của nước đó. Từ đó
hình thành nên chính sách tỷ giá hối đoái. Chính sách tỷ giá hối đoái là một
công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng. Theo Luật Ngân hàng hàng Nhà nước Việt
Nam, chính sách tỷ giá là một bộ phận quan trọng của chính sách tiền tệ quốc
gia nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát, góp phần phát triển
kinh tế xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.
Chính sách tỷ giá hối đoái là một hệ thống các công cụ dùng để tác
động vào cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, từ đó giúp điều chỉnh tỷ giá hối
đoái nhằm đạt tới những mục tiêu cần thiết. Về cơ bản, chính sách tỷ giá hối
đoái tập trung vào hai vấn đề lớn: i) Lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái (cơ chế
vận động của tỷ giá hối đoái); ii) Điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Chính sách tỷ giá
quan trọng nhất trong tài khoản vãng lai.
+ Cán cân thương mại phản ánh kịp thời xu hướng vận động của cán
cân vãng lai. Điều này xảy ra là vì cơ quan hải quan thường cung cấp kịp thời
các số liệu về xuất nhập khẩu hàng hoá, trong khi đó việc thu thập thông tin
về dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lại thường diễn ra chậm hơn, tức là
có một độ trễ nhất định về thời gian. Do tầm quan trọng của cán cân thương
mại, cho nên hầu hết các nước phát triển thường công bố tình trạng cán cân
này hàng tháng.
Vậy điều gì quyết định giá trị xuất khẩu, giá trị nhập khẩu và cán cân
thương mại của một quốc gia? Chúng ta có thể dễ dàng đưa ra các yếu tố
chính có thể ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu, giá trị nhập khẩu và cán cân
thương mại của một quốc gia.
+ Xuất khẩu chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi thu nhập và sản lượng của các
nước khác, và do đó liên quan đến thực tế là nền kinh tế thế giới đang ở trong
thời kỳ bùng nổ hay suy thoái. Kim ngạch xuất khẩu của một quốc gia có xu
hướng tăng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới bùng nổ do ký được nhiều hợp
đồng ngoại hơn với giá cao hơn. Ngược lại, kim ngạch xuất khẩu của một
quốc gia có xu hướng giảm trong bối cảnh nền kinh tế thế giới lâm vào suy
Page 12
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
thoái do khó ký được hợp đồng ngoại hơn và giá cả trên thị trường thế giới
nhìn chung thấp hơn.
+ Nhập khẩu lại phụ thuộc vào GDP trong nước. Nhập khẩu của một
nước có xu hướng tăng khi kinh tế trong nước tăng trưởng mạnh và giảm
trong bối cảnh suy giảm kinh tế.
+ Cả xuất khẩu và nhập khẩu đều phụ thuộc vào giá cả tương đối của
hàng nội so với hàng ngoại được biết đến với tên gọi là tỷ giá hối đoái thực tế.
nhập khẩu là hoàn toàn co dãn. Điều này có nghĩa sự thay đổi nhu cầu không
ảnh hưởng đến giá cả, tức là mọi giá cả đều cố định, chỉ có giá cả tương đối
thay đổi do sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái.
Tư tưởng chính của cách tiếp cận hệ số co dãn là phá giá tiền tệ có ảnh
hai mặt đến cán cân vãng lai : một mặt nó làm giảm thâm hụt, mặt khác nó
cũng góp phần làm tăng thâm hụt.
+ Hiệu ứng giá cả - so với trước khi phá giá, xuất khẩu trở nên rẻ hơn
tính bằng ngoại tệ, trong khi đó nhập khẩu trở nên đắt hơn tính bằng nội tệ.
Hiệu ứng giá cả rõ ràng làm cán cân tài khoản vãng lai xấu đi.
+ Hiệu ứng số lượng - xuất khẩu trở nên rẻ hơn sẽ được mở rộng và
nhập khẩu trở nên đắt hơn sẽ bị hạn chế về số lượng. Như vậy, hiệu ứng số
lượng có tác dụng cải thiện cán cân tài khoản vãng lai.
Ảnh hưởng ròng của phá giá đến cán cân vãng lai phụ thuộc vào phải
chăng là hiệu ứng giá cả hay hiệu ứng số lượng có ảnh hưởng mạnh hơn.
Giả sử ban đầu cán cân vãng lai ở trạng thái cân bằng. Theo điều kiện
Marshall-Lerner, phá giá tiền tệ sẽ cải thiện cán cân tài khoản vãng lai chỉ khi
tổng hệ số co dãn của nhu cầu xuất khẩu và nhập khẩu lớn hơn 1. Ngược lại,
nếu tổng của những hệ số co dãn này nhỏ hơn 1 thì phá giá tiền tệ sẽ làm cán
cân tài khoản vãng lai chuyển từ cân bằng sang thâm hụt.
Page 14
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
Thặng dư
cán cân
thương mại
0
hàng nhập khẩu từ các nước phá giá.
+ Sự chậm trễ trong phản ứng của người sản xuất. Ngay cả khi phá giá
cải thiện được khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu, những người sản xuất
trong nước cũng cần có thời gian để mở rộng sản xuất. Hơn nữa, các đơn đặt
hàng thường được đặt trước và những hợp đồng như vậy không thể huỷ bỏ
trong ngắn hạn. Các nhà máy không thể huỷ bỏ hợp đồng đối với đầu vào và
nguyên liệu thô quan trọng.
+ Sự cạnh tranh không hoàn hảo. Sự thâm nhập và gây được ảnh hưởng
trên thị trường thế giới là một công việc khó khăn và mất nhiều thời gian. Các
nhà xuất khẩu nước ngoài có thể không chịu chia sẻ thị trường và có thể phản
ứng trước sự suy giảm khả năng cạnh tranh của họ bằng cách giảm giá hàng
xuất khẩu của họ sang nước phá giá. Tương tự, những ngành công nghiệp
nước ngoài phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ các nước phá giá có thể
phản ứng trước sự suy giảm của khả năng cạnh tranh bằng cách giảm giá cả
trên thị trường trong nước, và do đó hạn chế khối lượng nhập khẩu từ các
nước phá giá. Những ảnh hưởng này có thể dựa trên sự cạnh tranh không
hoàn hảo cho phép những doanh nghiệp nước ngoài thu được một mức lợi
nhuận siêu ngạch nào đó và do vậy có thể cắt giảm giá cả để đối phó với sự
suy giảm của khả năng cạnh tranh. Song trong môi trường cạnh tranh gay gắt,
các doanh nghiệp chỉ thu được mức lợi nhuận trung bình và không thể cắt
giảm giá cả cho các sản phẩm của mình.
+ Giá cả của hàng xuất khẩu tính bằng đồng nội tệ có xu hướng tăng
lên cùng với phá giá. Nhiều hàng nhập khẩu được sử dụng làm đầu vào của
các ngành công nghiệp xuất khẩu. Công nhân có thể cũng đòi hỏi tăng lương
để bù đắp sự gia tăng giá cả nhập khẩu. Điều này phần nào làm tăng giá cả
xuất khẩu và do đó làm giảm lợi thế cạnh tranh của phá giá tiền tệ.
Page 16
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
TB = X - M = Y - A
(1-6)
Page 17
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
Phương trình này chỉ ra rằng cán cân vãng lai chính là sự chênh lệch
giữa sản lượng trong nước và chi tiêu trong nước. Thặng dư cán cân vãng lai
hàm ý rằng sản lượng trong nước cao hơn chi tiêu trong nước, ngược lại thâm
hụt cán cân vãng lai hàm ý rằng sản lượng trong nước thấp hơn chi tiêu trong
nước. Chuyển phương trình trên thành dạng thay đổi chúng ta có thể viết :
dCA = dY - dA
(1-7)
Theo phương trình này, ảnh hưởng của phá giá tiền tệ đến cán cân vãng
lai tuỳ thuộc vào hiệu ứng tương đối của nó đến thu nhập quốc dân và chi tiêu
trong nước. Nếu phá giá làm tăng thu nhập trong nước nhiều hơn so với chi
tiêu trong nước thì cán cân vãng lai sẽ được cải thiện. Trong trường hợp
ngược lại, cán cân vãng lai sẽ bị xấu đi. Điểm mấu chốt của cách tiếp cận chi
tiêu đối với cán cân thanh toán là xem xét ảnh hưởng của phá giá đến cả thu
nhập và chi tiêu trong nước.
Ảnh hưởng của phá giá đến chi tiêu trong nước bao gồm hai mặt. Một
mặt, phá giá ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu trong nước, ký hiệu là Ad. Mặt
khác, phá giá ảnh hưởng gián tiếp đến chi tiêu trong nước thông qua sự thay
đổi của thu nhập thực tế theo xu hướng chi tiêu cận biên a. Do vậy, sự thay
đổi của tổng chi tiêu trong nước dA có thể được xác định bởi phương trình
sau:
Ảnh hưởng của phá giá đến thu nhập quốc dân
Khi nền kinh tế ở dưới mức toàn dụng nhân công, phá giá tiền tệ có thể
làm tăng hoặc giảm thu nhập quốc dân. Có hai ảnh hưởng quan trọng của phá
giá đến thu nhập cần phải xem xét: hiệu ứng việc làm và hiệu ứng tỷ lệ trao
đổi.
Hiệu ứng việc làm: Nếu nền kinh tế ở dưới mức toàn dụng nhân công
và khi điều kiện Marshall-Lerner được thoả mãn, phá giá sẽ làm tăng cán cân
thương mại và do đó làm tăng thu nhập quốc dân. Tuy nhiên, nếu điều kiện
Marshall-Lerner bị vi phạm thì cán cân thương mại sẽ giảm và do đó thu nhập
quốc dân cũng giảm. Do vậy, chúng ta chưa có câu trả lời rõ ràng rằng hiệu
ứng việc làm làm tăng hay giảm thu nhập quốc dân.
Hiệu ứng tỷ lệ trao đổi (terms of trade): Tỷ lệ trao đổi được tính bằng
tỷ lệ giữa giá xuất khẩu và giá nhập khẩu. Phá giá làm cho hàng nhập khẩu trở
nên đắt hơn tính bằng đồng nội tệ. Trong khi giá xuất khẩu chưa thay đổi, tỷ
lệ trao đổi sẽ xấu đi và thu nhập quốc dân sẽ giảm bởi vì cần khối lượng xuất
khẩu nhiều hơn để đổi được một đơn vị nhập khẩu.
Tóm lại, ảnh hưởng của phá giá đến thu nhập trong nước là không rõ
ràng. Ngay cả khi cán cân thương mại tăng lên, ảnh hưởng ngược chiều của tỷ
lệ trao đổi cũng có thể làm giảm thu nhập quốc dân.
Page 19
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
Khi thu nhập quốc dân tăng, điều đó cũng không có nghĩa là cán cân
thương mại sẽ được cải thiện. Điều này phụ thuộc vào giá trị của xu hướng
chi tiêu cận biên. Trường hợp thứ nhất: Nếu a nhỏ hơn 1, sự gia tăng thu nhập
do cán cân thương mại tăng dẫn đến sự cải thiện cán cân vãng lai. Trường
hợp thứ hai: Nếu a lớn hơn 1, thu nhập tăng làm chi tiêu trong nước tăng
nhiều hơn và cán cân vãng lai sẽ bị xấu đi. Tất nhiên, khi nền kinh tế đang ở
chủ doanh nghiệp.
(iii)
Hiệu ứng ảo giác tiền tệ: xảy ra khi người tiêu dùng quyết định
mua một khối lượng hàng hoá dịch vụ như cũ bất chấp giá cả tăng lên. Khi
đó, họ sẽ chi tiêu nhiều hơn trước kia.
(iv)
Hiệu ứng dự tính: Các tác nhân kinh tế có thể cho rằng sự gia
tăng giá cả do phá giá còn tiếp diễn trong tương lai. Điều này, một mặt, có thể
làm tăng chi tiêu và cán cân thanh toán trở nên xấu hơn. Nhưng, mặt khác, nó
có thể làm giảm đầu tư, và do đó giảm chi tiêu trong nước.
Tóm lại, ảnh hưởng của phá giá đến chi tiêu trực tiếp là không rõ ràng,
do vậy ảnh hưởng của phá giá đến cán cân vãng lai là không xác định. Thực
ra, bức tranh sẽ trở nên phức tạp hơn một khi chúng ta thừa nhận rằng tất cả
các hiệu ứng diễn ra với tốc độ khác nhau và một số hiệu ứng trở nên đặc biệt
quan trọng ở một số nền kinh tế nhất định. Nhìn chung, cách tiếp cận chi tiêu
chỉ ra ảnh hưởng của phá giá đến cán cân vãng lai rất khác nhau và đôi khi
trái ngược nhau.
Từ cách tiếp cận chi tiêu, chúng ta có thể rút ra một số bài học cho việc
hoạch định chính sách. Thứ nhất, việc tăng thu nhập trong nước một cách
tương đối so với chi tiêu trong nước sẽ cải thiện cán cân vãng lai. Hai là, phá
giá sẽ thành công hơn nếu đi kèm với các công cụ chính sách có tác dụng làm
tăng thu nhập và giảm chi tiêu trong nước.
1.2.3.3. Cách tiếp cận cơ cấu
Thuật ngữ “chủ nghĩa cơ cấu” lần đầu tiên được sử dụng để chỉ một
loại kinh tế học mô tả phân tích của các nhà kinh tế Mỹ La tinh về lạm phát ở
các quốc gia này. Những tư tưởng này được phổ biến rộng rãi vào những năm
trường hợp này phá giá sẽ có ảnh hưởng thu hẹp bất chấp điều kiện MarshallLerner được thoả mãn.
Hai là, một số người cho rằng phá giá có thể có ảnh hưởng quan trọng
đến phân phối lại. Phá giá có thể làm tăng thu nhập của các nhà tư bản (bằng
Page 22
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
cách tăng tỷ lệ của các hàng hoá có thể thương mại) và giảm thu nhập thực tế
của lao động (nếu tiền lương chậm điều chỉnh). Nếu lao động có xu hướng
tiêu dùng cận biên lớn hơn các nhà tư bản thì tổng cầu sẽ giảm.
Ba là, phần lớn các nước đang phát triển đều có các khoản nợ nước
ngoài lớn. Phá giá làm tăng chi phí trả nợ nước ngoài tính bằng đồng nội tệ.
Nếu giá cả trong nước không tăng kịp tốc độ phá giá, thì giá trị thực tế của
các khoản nợ nước ngoài sẽ tăng. Do đó, nó có ảnh hưởng thu hẹp đối với
tổng cầu.
Bốn là, các nước đang phát triển thường được coi là các nền kinh tế
nhỏ, mở cửa. Trong ngắn hạn, sản xuất các sản phẩm xuất khẩu bị hạn chế bởi
năng lực sản xuất hiện có và bất cứ khối lượng xuất khẩu nào đều có thể bán
trên thị trường thế giới tại mức giá cho trước. Việc sản xuất hàng xuất khẩu và
khối lượng nhập khẩu không phản ứng trước sự thay đổi của giá cả trong ngắn
hạn. Tiền lương và lãi suất danh nghĩa giả thiết cố định. Giả sử chính phủ
đánh thuế xuất nhập khẩu. Nếu chính phủ có xu hướng tiết kiệm cận biên lớn
hơn trong ngắn hạn (xấp xỉ bằng 1) thì ảnh hưởng phân phối lại do phá giá
làm giảm tổng cầu. Nếu bắt đầu với thâm hụt cán cân thương mại, phá giá sẽ
làm tăng chi phí nhập khẩu tính bằng nội tệ so với việc tăng thu nhập từ việc
xuất khẩu một khối lượng không đổi. Do vậy, trong ngắn hạn, tổng cầu, sản
xuất các sản phẩm trong nước, và do đó sản lượng thực tế sẽ giảm.
Kết luận trở nên thuyết phục hơn khi đưa thêm mặt cung vào mô hình.
Phá giá làm giảm tổng cung qua 3 kênh:
sức ép để đồng nhân dân tệ tăng giá. Cuối cùng Trung Quốc đã phải điều
chỉnh tỷ giá vào năm 2005.
Page 24
Tác động của tỷ giá hối đoái lên cán cân thương mại
Bảng 1.1: Diễn biến tỷ giá, cán cân thương mại và dự trữ ngoại tệ của
Trung Quốc 2002-2007
năm
TGHĐ
Cán cân thương mại
Dự trữ ngoại tệ
(CNY/USD)
(triệu USD)
(triệu USD)
2002
8,277
44.167
286.407
2003
8,277
44.652
403.251
2004
tỷ giá song phương CNY/USD giảm giá nhưng tỷ giá đa phương danh nghĩa
của CNY lại có xu hướng tăng dần. Như vậy, Trung Quốc vẫn duy trì được
2
Bài phát biểu khai mạc trụ sở thứ 2 của NHTW tại Thượng Hải, Thống đốc NHTW Trung Quốc ZhouXia
Chuan.
3
Chế độ tỷ giá BBC có biên độ dao động rộng quanh tỷ giá trung tâm, có thể là 5, 10 và 15%
Page 25