TÀI LIỆU ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
DỰ ÁN PHÁT TRIỂN GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
LÊ A (Chủ biên)
PHAN PHƯƠNG DUNG – VŨ THỊ KIM HOA
ĐẶNG THỊ KIM NGA – ĐỖ XUÂN THẢO

TIẾNG VIỆT
TÀI LIỆU ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC
TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG VÀ ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM


Chịu trách nhiệm xuất bản:
Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc NGÔ TRẦN ÁI
Giám đốc ĐINH NGỌC BẢO
Phó Tổng Giám đốc kiêm Tổng biên tập NGUYỄN QUÝ THAO
Tổng biên tập LÊ A
Biên soạn:
CAO ĐỨC TIẾN (Chủ biên)
DƯƠNG THỊ HƯƠNG
Biên tập nội dung:
NGUYỄN THỊ NGỌC HÀ
Thiết kế sách và Biên tập mĩ thuật:
TRỊNH CAO KHẢI
Trình bày bìa:
PHẠM VIỆT QUANG


MỤC LỤC

Yêu cầu sử dụng từ trong giao tiếp ............................................................................... 161
Chủ đề 4: Ngữ pháp tiếng Việt ..................................................................................... 167
Giới thiệu nội dung ....................................................................................................... 167
TàI liệu và thiết bị dạy học ........................................................................................... 168
Đại cương về ngữ pháp (Lê A) ..................................................................................... 168
Từ loại tiếng Việt (Phan Phương Dung)....................................................................... 175
Cụm từ tiếng Việt (Phan Phương Dung) ...................................................................... 201
Câu tiếng Việt (Đặng Kim Nga) ................................................................................... 214
Đoạn văn (Lê A) ........................................................................................................... 255
Văn bản (Lê A) ............................................................................................................. 264
Chủ đề 5: Phong cách học tiếng Việt (Phan Phương Dung)......................................... 273
Giới thiệu chủ đề........................................................................................................... 273
Tài liệu tham khảo ........................................................................................................ 273
phong cách chức năng ngôn ngữ .................................................................................. 274
Các phương tiện tu từ.................................................................................................... 296


Các biện pháp tu từ tiếng Việt ...................................................................................... 307
Hướng dẫn học theo băng hình ..................................................................................... 320
Hướng dẫn học theo băng hình ..................................................................................... 321


LỜI NÓI ĐẦU
Để góp phần đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên tiểu học, Dự án phát triển
giáo viên tiểu học đã tổ chức biên soạn các môđun đào tạo theo chương trình Cao đẳng
Sư phạm và chương trình liên thông từ Trung học Sư phạm lên Cao đẳng Sư phạm; biên
soạn các môđun bồi dưỡng giáo viên nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ,
cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả
giáo dục tiểu học theo chương trình, sách giáo khoa tiểu học mới.
Điểm mới của tài liệu viết theo môđun là thiết kế các hoạt động, nhằm tích cực hoá hoạt

Thực hành: 55
Kiểm tra, thi: 5
MỤC TIÊU
1. Kiến thức:
Mô tả, lí giải được bản chất, cấu trúc, hoạt động của hệ thống tiếng Việt hiện đại.
2. Kĩ năng
– Xác định, phân tích được nội dung và hình thức các đơn vị của tiếng Việt
– Giải được các bài tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học.
– Sử dụng tiếng Việt đúng chuẩn mực và đạt hiệu quả.
3. Thái độ:
Yêu quý, giữ gìn và phát triển sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, hăng say học tập
và rèn luyện để trở thành người giáo viên tiếng Việt giỏi ở tiểu học.
GIỚI THIỆU NỘI DUNG
TT
Tên các chủ đề

Số tiết

1

Đại cương về ngôn ngữ và tiếng Việt

15 tiết

2

Ngữ âm tiếng Việt

30 tiết


thống của ngôn ngữ; đối tượng và nhiệm vụ của Ngôn ngữ học.
– Xác định và lí giải được các đặc trưng của tiếng Việt.

Kĩ năng:
Vận dụng được những hiểu biết về đại cương ngôn ngữ và tiếng Việt để:
– Lí giải cơ sở khoa học của một số phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ.
– Giải thích một số hiện tượng trong tiếng Việt.
– Bước đầu lí giải cơ sở khoa học của việc xây dựng chương trình, các dạng bài
tập trong sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học.

Thái độ:
– Thấy được hữu ích của việc học Đại cương về ngôn ngữ và tiếng Việt.
– Có ý thức vận dụng các kiến thức được học vào việc nghiên cứu các chủ đề
tiếp theo.

Giới thiệu nội dung
STT

Tên tiểu chủ đề

Số tiết

1

Đối tượng, nhiệm vụ của Ngôn ngữ học

2

2




Thông tin
Người Việt giao tiếp với nhau bằng tiếng Việt. Tiếng Việt được gọi là một ngôn
ngữ. Ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng được tạo thành bởi các bộ
phận: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Khi sử dụng tiếng Việt, phải tuân theo các
quy tắc của nó đã được mọi người Việt chấp nhận. Hoạt động sử dụng tiếng Việt
để giao tiếp được gọi là hoạt động ngôn ngữ. Hoạt động ngôn ngữ tạo ra sản
phẩm hoặc ở dạng âm thanh hoặc ở dạng chữ viết. Sản phẩm này được gọi là lời
nói. Người ta trao đổi được với nhau (trao đổi thông tin và tình cảm) thông qua
phương tiện vật chất là lời nói. Ngôn ngữ, hoạt động ngôn ngữ và lời nói là đối
tượng nghiên cứu của Ngôn ngữ học.

Nhiệm vụ
Nhiệm vụ 1:
Hãy kể tiếp các ngôn ngữ của các dân tộc khác và cho biết chúng được tạo thành
bởi các bộ phận nào.

Nhiệm vụ 2:
Phát biểu quan niệm của bạn về: ngôn ngữ, hoạt động ngôn ngữ, lời nói.

Nhiệm vụ 3:
Thảo luận quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói dựa trên những ý kiến sau đây của
F. đ Saussure.
“Tách ngôn ngữ ra khỏi lời nói, người ta đồng thời cũng tách luôn: 1 cái gì có
tính chất xã hội với cái gì có tính chất cá nhân; 2. cái gì có tính chất cốt yếu với
cái gì có tính chất thứ yếu và ít nhiều ngẫu nhiên”... “Tất nhiên, hai đối tượng
này gắn bó khăng khít với nhau và giả định lẫn nhau: ngôn ngữ là cần thiết để
cho lời nói có thể hiểu được và gây được tất cả những hiệu quả của nó; nhưng
lời nói lại cần thiết để cho ngôn ngữ được xác lập”.

của Ngôn ngữ học
Thông tin
Thông tin 1: F. D. Saussure đưa ra sự đối lập theo hình vẽ sau:

AB là trục của những hiện tượng đồng thời. Trục này liên quan đến những sự vật
đang cùng tồn tại, loại trừ mọi sự can thiệp của thời gian.
CD là trục của những hiện tượng kế tục. Trục này liên quan đến sự vật xét theo
quá trình phát triển của chúng.
Tương ứng với hai trục trên là hai phân ngành: Ngôn ngữ học đồng đại (Ngôn
ngữ học miêu tả) và Ngôn ngữ học hiện đại.
Thông tin 2: Ngôn ngữ gồm ba bộ phận: ngữ âm (âm thanh ngôn ngữ), từ vựng
(tập hợp các từ và các đơn vị tương đương), ngữ pháp (các phương tiện và quy
tắc cấu tạo và hoạt động của từ, cụm từ, câu và các đơn vị trên câu). Tương ứng
với ba bộ phận đó là các bộ môn: Ngữ âm học, Từ vựng học và Ngữ pháp học.
Ngoài ra các thành phần ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp lại được thể hiện cụ thể
trong hoạt động giao tiếp. Đây chính là lĩnh vực nghiên cứu chủ yếu của Phong
cách học.

Nhiệm vụ
Nhiệm vụ 1:
Ngôn ngữ học hiện đại và Ngôn ngữ học đồng đại cùng nghiên cứu ngôn ngữ
nhưng chúng khác nhau như thế nào? Cho ví dụ minh họa.

Nhiệm vụ 2:


Bạn hãy liệt kê các bộ môn và nội dung nghiên cứu của chúng.

Đánh giá
Bạn hãy cho biết các phân ngành, các bộ môn và nhiệm vụ nghiên cứu của

Thông tin phản hồi cho hoạt động 2
Ngôn ngữ học có các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
– Miêu tả các hệ thống ngôn ngữ, tìm ra nguồn gốc và quá trình phát triển ngôn
ngữ nói chung và từng ngôn ngữ nói riêng;
– Tìm những quy luật bản chất của ngôn ngữ, rút ra những quy tắc khái quát để
giải thích và sử dụng ngôn ngữ;


– ứng dụng những thành tựu nghiên cứu vào cuộc sống, đặc biệt là việc dạy và
học ngôn ngữ, khắc phục những khuyết tật về ngôn ngữ của con người.
Khi nghiên cứu tiếng Việt, cần giải quyết các nhiệm vụ cơ bản sau:
– Xác định nguồn gốc, quá trình phát triển của tiếng Việt;
– Miêu tả hệ thống tiếng Việt với các đơn vị và quy tắc tổ chức của nó;
– Khái quát các quy tắc sử dụng tiếng Việt vào giao tiếp;
– Nghiên cứu ứng dụng những thành tựu nghiên cứu đạt được vào cuộc sống
(dạy tiếng Việt, chữa bệnh ngôn ngữ, xây dựng mật mã, mã tín hiệu bưu chính–
viễn thông, ...).

Thông tin phản hồi cho hoạt động 3
Ngôn ngữ học gồm hai phân ngành: Ngôn ngữ học đồng đại và Ngôn ngữ học
lịch đại. Đi theo hướng nghiên cứu thứ nhất, người ta sưu tầm, miêu tả, rút ra
quy luật và quy tắc tổ chức nội bộ và hoạt động của ngôn ngữ. Đi theo hướng
thứ hai, người ta nghiên cứu ngôn ngữ theo kiểu so sánh đối chiếu các yếu tố của
ngôn ngữ trong quá trình phát triển của nó. Tuy nhiên, trong thực tế, các nhà
nghiên cứu thường kết hợp giữa hai hướng nghiên cứu trên.
Ngôn ngữ học có bốn bộ môn là: Ngữ âm học, Từ vựng học, Ngữ pháp học và
Phong cách học.
– Ngữ âm học nghiên cứu mặt âm thanh của ngôn ngữ trên cả ba mặt: vật lí học
(âm học), sinh lí học (cấu âm) và mặt chức năng xã hội.
– Từ vựng học nghiên cứu từ và các đơn vị tương đương (ngữ cố định). Trong

người dùng cơ quan phát âm của mình mô phỏng những âm thanh do sự vật phát
ra như tiếng chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng nước chảy... hoặc dùng đặc điểm của
tư thế bộ máy cấu âm, mô phỏng đặc điểm của sự vật khách quan, ví dụ các từ
có âm tròn môi thường biểu thị các sự vật có đặc điểm “hình lõm”, “trống rỗng”,
“hình tròn” hoặc, “kéo dài”.
– Thuyết cảm thán
Ngôn ngữ loài người bắt nguồn từ những âm thanh của các trạng thái tâm lí như
vui mừng, buồn, giận, đau đớn... phát ra lúc tình cảm bị xúc động.
– Thuyết tiếng kêu trong lao động.
Thuyết này cho rằng ngôn ngữ là do con người thỏa thuận với nhau mà quy định
ra.
– Thuyết ngôn ngữ cử chỉ
Thuyết này cho rằng ban đầu con người chưa có ngôn ngữ thành tiếng, để giao
tiếp với nhau người ta dùng tư thế của thân thể và của tay.

Thông tin 2:
Ngôn ngữ loài người luôn luôn phát triển và hoàn thiện. Trước khi có ngôn ngữ
ngày nay, ngôn ngữ loài người đã hình thành và phát triển qua các giai đoạn.
– Ngôn ngữ bộ lạc và các biến thể của nó.
Mỗi bộ lạc bao gồm nhiều thị tộc, vì các thị tộc trong cùng một bộ lạc có quan
hệ chặt chẽ với nhau nên không có ngôn ngữ riêng cho từng thị tộc mà cả bộ lạc
có một ngôn ngữ chung. Do sự phân li của một số bộ lạc, đã hình thành một số
bộ lạc độc lập có quan hệ họ hàng với nhau. Cùng với sự phân li đó, ngôn ngữ
của các bộ lạc cũng hình thành những nét riêng, độc lập, và tạo ra các biến thể.


– Ngôn ngữ khu vực
Các bộ lạc liên minh với nhau theo từng khu vực. Kéo theo đó là sự thống nhất
các ngôn ngữ bộ lạc thành ngôn ngữ chung của khu vực. Ngôn ngữ khu vực là
tiền thân của ngôn ngữ dân tộc.

Nhiệm vụ 3: Các nhà nghiên cứu đều công nhận tính đúng đắn của giả thuyết
duy vật biện chứng về nguồn gốc của ngôn ngữ do Ăng–ghen đề xướng – thuyết
lao động xã hội “Đem so sánh con người với các loài động vật, ta sẽ thấy rõ rằng
ngôn ngữ bắt nguồn từ trong lao động và cũng nảy sinh với lao động, đó là cách


giải thích duy nhất đúng về nguồn gốc của ngôn ngữ”. Bạn hãy dựa vào kiến
thức về nguồn gốc loài người để thảo luận các vấn đề sau:
– Bản chất của lao động – một hoạt động đặc thù của con người.
– Tác dụng của lao động với việc hoàn thiện bộ máy cấu âm – Cơ sở để tạo ra
ngôn ngữ thành tiếng của con người.
– Tác dụng của lao động trong việc tạo ra nhu cầu giao tiếp.
– Tác dụng của lao động đối với việc mở rộng hiểu biết và phát triển tư duy của
con người.

Nhiệm vụ 4: Bạn hãy đọc thông tin 2 và thực hiện một số yêu cầu sau đây:
– Tóm tắt các giai đoạn phát triển của ngôn ngữ loài người.
– Theo bạn, ngôn ngữ loài người hiện nay đang ở giai đoạn nào?
– Kể một số biến thể của ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ văn hóa.

Đánh giá
1. Phân tích mối quan hệ giữa tiếng Việt văn hóa với các phương ngữ. Hãy so
sánh phương ngữ của bạn với tiếng Việt văn hóa.
2. Nêu và phân tích các biến thể của tiếng Việt văn hóa. Các biến thể này có gì
khác với hiện tượng sử dụng tiếng Việt tuỳ tiện không tôn trọng chuẩn mực?

Hoạt động 2:

Phân tích và lí giải các quy luật phát triển
của ngôn ngữ

toàn mới không? Tại sao?
– Các bộ phận ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp thay đổi có đồng đều không? Bộ phận
nào biến đổi nhanh nhất? Bộ phận nào biến đổi chậm nhất? Tại sao?
– Thử tìm các nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của ngôn ngữ.

Đánh giá
Trình bày các quy luật phát triển của ngôn ngữ và các nhân tố chi phối sự phát
triển này.

Hoạt động 3:

Tìm hiểu nguồn gốc và quá trình phát triển
của tiếng Việt

Thông tin
Thông tin 1:
Tiếng Việt là tiếng nói của người Việt, (còn gọi là người Kinh) đồng thời cũng
là ngôn ngữ quốc gia của Việt Nam.
Về nguồn gốc của nó, trong vòng gần một trăm năm qua, khá nhiều giả thuyết đã
được đưa ra. Gần đây, dựa vào những cứ liệu mới, nhiều nhà nghiên cứu lịch sử
và ngôn ngữ đã đưa ra một giả thuyết có nhiều sức thuyết phục: tiếng Việt bắt
nguồn từ một ngữ hệ lớn sinh thành trong khung cảnh Đông Nam á tiền sử: ngữ
hệ Đông Nam á, mà địa bàn của nó bao trùm cả một vùng rộng lớn, từ bờ sông
Dương Tử (Trung Quốc) cho tới vùng Atsam (Mianma), vùng núi và cao nguyên
nay thuộc đất Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia... và về phía nam thì lan tỏa
tới các bán đảo và đảo giáp với châu Đại Dương. Trong nhiều thiên niên kỉ, qua
sự tiếp xúc với các ngôn ngữ thuộc các loại hình khác, ngữ hệ này đã phân chia


thành một số dòng, trong đó đáng chú ý hơn cả là dòng Môn – Khơme phân bố ở

trong

tlong

nước

rák

Một số âm tiết trong một số từ Việt lâu nay vẫn bị coi là không có nghĩa, thực ra
đó lại là những từ có nghĩa gốc Môn – Khơme. Ví dụ:
Xoa trong trắng xóa (Việt) vốn có quan hệ cội nguồn với so là trắng (tiếng
Khơme); đai trong đất đai (Việt) vốn có quan hệ cội nguồn với đay là đất (tiếng
Khơme)...
Cũng theo chiều hướng này và đi sâu thêm, ta thấy một số từ xưa nay vẫn cho là
từ Hán, nhưng gần đây có nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng đó là từ Việt gốc
Tày – Thái. Ví dụ:
– Phụ đạo, một chức vị cai quản địa phương dưới thời các vua Hùng, không phải
là từ Hán mà chính là ptao (hoặc mtao), một từ Tày – Thái, chỉ chức vị thủ
lĩnh, được phiên âm và ghi lại bằng chữ Hán.
– Mị nương, con gái vua Hùng, không phải là từ gốc Hán, mà chính là mênang,
từ Tày – Thái chỉ con gái nhà quý tộc, đã được phiên âm và ghi bằng chữ Hán
v.v...
Vấn đề nguồn gốc tiếng Việt và diện mạo tiếng Việt ở thời kì đầu hiện đang
được giới nghiên cứu trong và ngoài nước tiếp tục đi sâu tìm hiểu. Tuy nhiên, có
một điều có thể khẳng định được, đó là: ngay từ thời dựng nước xa xưa, trong
quá trình giao hòa với nhiều dòng ngôn ngữ trong vùng, tiếng Việt với cội nguồn
Nam á đã sớm tạo dựng được một cơ sở vững chắc để có thể tiếp tục tồn tại và


phát triển trước sự xâm nhập ồ ạt của ngôn ngữ văn tự Hán ở những thế kỉ đầu

ngữ – văn hóa phương Tây (chủ yếu là ngôn ngữ văn hóa Pháp), văn xuôi tiếng
Việt hiện đại đã thực sự hình thành và phát triển. Báo chí, sách vở tiếng Việt
(chữ quốc ngữ) ra đời và ngày càng nhiều. Những câu văn viết theo kiểu biền
ngẫu hoặc gò bó trong những khuôn khổ chật hẹp đã được mở rộng ra, trở nên
rành mạch, trong sáng hơn. Những từ ngữ, thuật ngữ mới đã được sử dụng, tuy
chủ yếu vẫn là từ Hán Việt, như: chính đảng, giai cấp, kinh tế, hiện thực, lãng
mạn... bán kính, ẩn số, hàm số, phương, căn... hoặc gốc Pháp như: xà phòng, cao
su, ôtô, săm lốp, axit, badơ, oxi v.v... Phong trào Thơ mới, tiểu thuyết lãng mạn
và hiện thực nở rộ vào khoảng những năm 30 của thế kỉ này với những hoạt
động sôi nổi của văn chương báo chí làm cho tiếng Việt ngày càng thêm phong


phú, tinh tế, đa dạng, ngày càng tỏ rõ tính năng động và tiềm năng phát triển dồi
dào, đủ sức vươn lên đảm đương trách nhiệm nặng nề trong giai đoạn mới.

Tiếng Việt từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay
Với bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước đồng bào cả
nước và nhân dân toàn thế giới vào ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, tiếng Việt
đã giành lại được địa vị xứng đáng của mình trong một nước Việt Nam độc lập
tự do. Chức năng xã hội của tiếng Việt được mở rộng. Nó đã thay thế hoàn toàn
tiếng Pháp trong các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và của toàn dân, kể cả
lĩnh vực đối ngoại. Tiếng Việt được dùng ở mọi cấp học và ở mọi lĩnh vực
nghiên cứu khoa học từ thấp tới cao. Với vai trò ngôn ngữ quốc gia, tiếng Việt
trở thành một ngôn ngữ đa chức năng như các ngôn ngữ của các nước tiên tiến
trên thế giới, góp phần tích cực vào những hoạt động rộng lớn nhằm phát triển
sự nghiệp văn hóa, khoa học – kĩ thuật chung cho cả khối cộng đồng nhiều dân
tộc trên đất nước Việt Nam, đóng vai trò không thể thiếu được trong sự nghiệp
xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
(Theo Đặng Đức Siêu)


Khảo sát chức năng giao tiếp của ngôn ngữ

Thông tin
Thông tin 1: Sau đây là một hoạt động giao tiếp không sử dụng ngôn ngữ:
Để báo hiệu cho giáo viên và học sinh biết tiết học bắt đầu hoặc kết thúc, nhân
viên thường trực có thể ra hiệu bằng cách đánh trống hoặc bấm chuông điện.

Thông tin 2:
Hoạt động giao tiếp sau đây sử dụng ngôn ngữ làm phương tiện:
Vị đại thần vừa xuất hiện đã vội rập đầu, tâu lạy:
– Muôn tâu bệ hạ, thần xin chịu tội. Thần đã cố gắng hết sức nhưng học không
vào.
Các quan nghe vậy ỉu xìu, còn nhà vua thì thở dài sườn sượt. Không khí của
triều đình thật là ảo não. Đúng lúc đó, một viên thị vệ hớt hải chạy vào:
– Tâu bệ hạ! Thần vừa tóm được một kẻ đang cười sằng sặc ngoài đường.
– Dẫn nó vào! – Đức vua phấn khởi ra lệnh.
Cả triều đình háo hức nhìn con người phi thường vừa xuất hiện. Hóa ra đó chỉ là
một cậu bé chừng mười tuổi, tóc để trái đào. Nhà vua bèn ngọt ngào bảo cậu:
– Hãy nói cho ta biết vì sao cháu cười được!
– Muôn tâu bệ hạ, những chuyện buồn cười không thiếu đâu ạ. Ngay tại đây
cũng có. Bệ hạ tha cho tội chết, cháu sẽ nói.
– Nói đi, ta trọng thưởng.
Cậu bé ấp úng:
Chẳng hạn, sáng nay, bệ hạ đã quên .... lau miệng ạ. Nhà vua giật mình, đưa tay
lên mép. Một hạt cơm lăn xuống áo hoàng bào. Các quan đưa tay bụm miệng
cười. Đến khi cậu bé chỉ quả táo cắn dở dang căng phồng trong túi áo của quan
coi vườn ngự uyển thì ai nấy đều bật cười thành tiếng.
Nhà vua gật gù. Thế rồi, ngắm nhìn cậu bé, ngài bỗng hỏi:
– Này cháu, vì sao nãy giờ cháu cứ lom khom thế?
– Tâu bệ hạ, ban nãy cháu bị quan thị vệ đuổi, cuống quá nên... đứt dải rút ạ.

1. Hãy tìm các hoạt động giao tiếp không sử dụng phương tiện ngôn ngữ.
2. Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, có sử dụng các phương tiện phi
ngôn ngữ không? Vai trò của chúng như thế nào?
3. Hoạt động giao tiếp sau đây thuộc dạng nào? Bạn hãy phân tích các nhân tố
tham gia vào hoạt động giao tiếp.
Tan sương đã thấy bóng người,
Quanh tường ra ý tìm tòi ngẩn ngơ.
Sinh đà có ý đợi chờ,
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng:
“Thoa này bắt được hư không,
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về?”
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia:
“Ơn lòng quân tử sá gì của rơi.
Chiếc thoa nào của mấy mươi,
Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao!”
Sinh rằng: “Lân lí ra vào,
Gần đây nào phải người nào xa xôi.


Được rày nhờ chút thơm rơi,
Kể đà thiểu não lòng người bấy nay!
Bấy lâu mới được một ngày,
Dừng chân, gạn chút niềm tây gọi là”.
Vội về thêm lấy của nhà,
Xuyến vàng đôi chiếc khăn là một vuông
(Trích Nguyễn Du, Truyện Kiều)

Hoạt động 5:

Nghiên cứu hội thoại

Hội thoại là gì?
Xét về lượng người tham gia hội thoại thì hai cuộc thoại trên khác nhau như thế
nào? Nếu căn cứ vào nhân vật tham gia giao tiếp thì hội thoại được chia làm
mấy kiểu? Kiểu nào là phổ biến nhất?

Nhiệm vụ 2: Về bản chất, hội thoại luôn vận động. Sự vận động này thể hiện ở
ba phương diện: vận động trao lời, vận động đáp lời và sự vận động tương tác.
Vận động trao lời là vận động tạo ra lời trao hướng tới người nghe để người
nghe có phản ứng trở lại. Còn vận động đáp lời lại nhằm tạo ra lời đáp lại lời
trao của người nghe. Cuối cùng là vận động tương tác thể hiện ở sự vận động
tương tác giữa người trao và người đáp cùng tác động lẫn cho nhau và cho chính
cuộc hội thoại biến đổi.
Bạn hãy suy nghĩ và cho biết:
Các vận động trao lời và vận động đáp lời trong các cuộc thoại.
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến vận động trao lời, vận động đáp lời và sự
biểu hiện của chúng trong hội thoại. (Chú ý đến các nhân tố: đề tài hội thoại,
quan hệ giữa các nhân vật tham gia hội thoại, thái độ cử chỉ và những đặc trưng
về ngôn ngữ trong lời nói).
Phân tích sự biến đổi cũng như sự hoà hợp giữa người trao và người đáp; sự vận
động tương hợp và phát triển giữa lời trao, lời đáp và tính hướng đích của các
cuộc hội thoại.

Nhiệm vụ 3: Hội thoại cũng được phân chia thành các đơn vị: cuộc thoại, đoạn
thoại và cặp thoại. Cuộc thoại là toàn bộ cuộc trò chuyện từ khi bắt đầu cho đến
khi kết thúc. Đoạn thoại là một phần của cuộc thoại. Các đoạn thoại được phân
chia theo đề tài và đích của hội thoại. Cặp thoại là những cặp kế cận gồm một
vận động trao lời và một vận động đáp lời. Bạn hãy tìm:
– Các cuộc thoại trong các hội thoại nêu ở thông tin nguồn cho hoạt động này và
thông tin 2 của hoạt động 4.
– Các cặp thoại trong các cuộc thoại.

đông dân nhất là Trung Quốc: hơn 1 tỉ 200 triệu.
(Tiếng Việt 3, tập 2)
Bạn hãy:
– Tìm các cuộc thoại và các nhân vật tham gia hội thoại.
– Cho biết kiểu hội thoại.
– Phân tích đề tài hội thoại và sự ảnh hưởng của vai giao tiếp đối với cuộc thoại.
3. Tiếp sau đây là hoạt động hội thoại giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và các chiến sĩ
Đại đoàn quân Tiên Phong tại đền Hùng:
– Các chú có khoẻ không?
– Thưa Bác, khoẻ ạ!
– Các chú có biết đền thờ ai đây không?
– Đền thờ một ông vua a!
– Nhưng vua nào?
– Dạ, vua Hùng!
– Thế các chú có biết vua Hùng là ông vua thế nào không? Vua Hùng là ông vua
có công dựng nước, chính là ông tổ của nước Việt Nam ta. Các vua Hùng đã
có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước.
(Theo Tiếng Việt 5, tập 2)
Bạn hãy đọc và:
– Phân tích đề tài, mục đích của cuộc thoại.


– Tìm các cặp lời trong cuộc thoại.
– Phân tích sự thể hiện của các quy tắc hội thoại.
– Cuối cuộc thoại, Bác trao lời nhưng sau đó lại tự trả lời.
Như vậy có vi phạm quy tắc hội thoại không? Tại sao?
4. ở tiểu học, học sinh được học Tập làm văn nói khá nhiều. Theo bạn, khi dạy
kiểu bài này cần phải quan tâm đến những gì nếu xuất phát từ lí thuyết hội thoại.

Hoạt động 6: Tìm hiểu chức năng hình thành

– Phân tích mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tư duy.
– Bạn thử lí giải tại sao trong quá trình giảng dạy Tiếng Việt, cần và có thể phát
triển năng lực ngôn ngữ đi đôi với phát triển tư duy cho học sinh.


Thông tin phản hồi
Thông tin phản hồi cho hoạt động 1:
1. Nguồn gốc của ngôn ngữ
Đi tìm nguồn gốc của ngôn ngữ là công việc nhằm mục đích phát hiện ngôn ngữ
của loài người nói chung ra đời như thế nào. Việc này khác việc tìm nguồn gốc
của một ngôn ngữ cụ thể: Xem ngôn ngữ đó có nguồn gốc là ngôn ngữ nào, nó
có họ hàng thân thích với những ngôn ngữ nào.
Vấn đề nguồn gốc của ngôn ngữ là một vấn đề lớn của Triết học và Ngôn ngữ
học được nhiều nhà khoa học quan tâm. Nguồn gốc của ngôn ngữ cũng cổ xưa
như nguồn gốc loài người nên cho đến nay cũng chỉ có những giả thuyết. Có
nhiều giả thuyết khác nhau về nguồn gốc của ngôn ngữ: thuyết thần ngôn, thuyết
tượng thanh, thuyết cảm thán, thuyết tiếng kêu trong lao động, thuyết ngôn ngữ
cử chỉ. Các lí thuyết trên đều có căn do và có những hạt nhân hợp lí (trừ thuyết
thứ nhất). Tuy nhiên các thuyết đó đều không đủ cơ sở khoa học và có giá trị
thuyết phuc.
Cho đến nay, Thuyết lao động về nguồn gốc của ngôn ngữ, đúng hơn là lí thuyết
xã hội về nguồn gốc của ngôn ngữ do các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác –
Lênin đưa ra là hơp lí, có nhiều cơ sở khoa học nhất. Cơ sở của lí thuyết này
được Ăngghen trình bày trong cuốn “Phép biện chứng của tự nhiên”. Ông cho
rằng: Sự xuất hiện lời nói phân tiết và ngôn ngữ nằm trong bối cảnh chung của
nguồn gốc loài người, nguồn gốc tổ chức lao động xã hội và xã hội hoá tư duy
dẫn đến hình thành ý thức.
Đầu tiên, con người sáng chế ra công cụ sản xuất. Rồi xuất hiện sự cần thiết phải
chấn chỉnh hoạt động tập thể với các mầm mống của sự phân công lao động. Từ
đó xuất hiện nhu cầu và sự cần thiết phải có phương tiện giao tiếp – ngôn ngữ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status