HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN LUẬT PHÒNG CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH - Pdf 34

CHƯƠNG TRÌNH HỢP TÁC CHUNG
GIỮA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM VÀ LIÊN HỢP QUỐC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

_______________
BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
Dự án thành phần VNM0014

TÀI LIỆU TẬP HUẤN
“HƢỚNG DẪN THỰC HIỆN LUẬT
PHÕNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH”
(Tài liệu dùng cho học viên)

Hà Nội, 2011


MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC

2

LỜI CẢM ƠN

4

GIỚI THIỆU VỀ TÀI LIỆU

5

PHẦN I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH VÀ LUẬT PHÒNG,
CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

gia đình.

71

PHẦN III: TRÁCH NHIỆM CỦA CÁ NHÂN, GIA ĐÌNH, CƠ QUAN, TỔ CHỨC
TRONG PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

77

Chủ đề 7: Trách nhiệm của cá nhân, gia đình trong phòng, chống bạo lực gia
đình.

78

Chủ đề 8: Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức quần
chúng.

81

Chủ đề 9: Trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nƣớc, cơ quan thực thi pháp
luật, Uỷ ban nhân dân.

86

Chủ đề 10: Vai trò trách nhiệm của của Quốc hội và Hội đồng nhân dân trong
phòng, chống bạo lực gia đình.

96

Chủ đề 11: Vai trò trách nhiệm của các cơ quan Đảng trong phòng, chống bạo


Lời cảm ơn
Tài liệu tập huấn”Hướng dẫn thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia
đình” là một trong các sản phẩm của Dự án thành phần VNM0014, Bộ Văn hóa,
Thể thao và Du lịch thuộc khuôn khổ Chương trình hợp tác chung về bình đẳng giới
giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc. Tài liệu được biên soạn, chỉnh lý và
hoàn thiện với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, các chuyên gia, các cơ quan, tổ
chức trong nước và quốc tế tại Việt Nam.
Chân thành cám ơn các cơ quan đã đóng góp ý kiến tư vấn cho kết cấu, nội
dung tài liệu nhằm đảm bảo tính khoa học, phù hợp thực tiễn trong công tác phòng,
chống bạo lực gia đình tại Việt Nam:
1. Vụ Giáo dục lý luận chính trị, Ban Tuyên Giáo Trung ương
2. Vụ Báo chí Xuất bản, Ban Tuyên Giáo Trung ương
3. Vụ Các vấn đề xã hội, Văn phòng Quốc Hội
4. Trung tâm Bồi dưỡng Đại biểu dân cử, Văn phòng Quốc Hội
5. Vụ Gia đình, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
6. Vụ Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
7. Vụ Pháp chế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
8. Văn phòng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
9. Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
10. Vụ Pháp chế, Bộ Y tế
11. Vụ Bình đẳng giới, Bộ Lao động, Thương bình và Xã hội
12. Vụ Pháp chế, Bộ Giáo dục và Đào tạo
13. Vụ Pháp chế, Bộ Công An
14. Ban Dân chủ và Pháp luật, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc VN
15. Ban Chính sách-Pháp luật, Trung ương Hội LH Phụ nữ Việt Nam
16. Nhóm chuyên gia tư vấn của tổ chức CEPEW
Chân thành cám ơn Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam và các chuyên
gia quốc tế của Chương trình chung về bình đẳng giới đã phối hợp và hỗ trợ kỹ
thuật để hoàn thành tài liệu này.

nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Bạo lực gia đình cũng làm xói mòn các giá trị
truyền thống tốt đẹp, là nguy cơ gây tan vỡ và suy giảm sự bền vững của gia đình
Việt Nam, làm băng hoại các giá trị đạo đức truyền thống, tác động xấu đến môi
trƣờng giáo dục thế hệ trẻ, ảnh hƣởng đến sự an toàn, lành mạnh của cộng đồng và
trật tự xã hội. Ngoài những hậu quả về xã hội, đạo đức và sự bền vững của gia đình,
bạo lực gia đình còn gây ra những tác động tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội và
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nƣớc ta. Thiệt hại do bạo lực gia đình gây
ra cho nền kinh tế bao gồm những chi phí chăm sóc và phục hồi sức khoẻ nạn nhân,
chi phí điều tra, truy tố, xét xử cùng nhiều chi phí gián tiếp khác liên quan đến tình
trạng bệnh tật, mất khả năng tham gia lao động sản xuất của nạn nhân.
Chính vì vậy, công tác phòng, chống bạo lực gia đình là vấn đề có tính chất
chiến lƣợc, là mục tiêu quan trọng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt quan tâm.
Chiến lƣợc Xây dựng gia đình Việt Nam giai đoạn 2005-2010 cũng đã xác định
mục tiêu tăng cƣờng phòng, chống bạo lực trong gia đình và giảm tỷ lệ bạo lực gia
đình, bình quân hàng năm từ 10-15%. Đặc biệt, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá XII
(năm 2007), Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống bạo lực gia đình quy định về
việc phòng ngừa bạo lực gia đình, hỗ trợ, bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình và xử lý
nghiêm minh, kịp thời các hành vi bạo lực gia đình. Luật Phòng, chống bạo lực gia
đình ra đời đã tạo hành lang pháp lý tối cao cho các hoạt động phòng, chống bạo lực
gia đình ở Việt Nam.
Để góp phần đảm bảo cho Luật Phòng, chống bạo lực gia đình đi vào cuộc
sống, nhằm nâng cao hơn nữa trách nhiệm, năng lực, hiệu quả hoạt động của các cơ
quan Nhà nƣớc, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức xã hội trong việc đấu
tranh phòng, chống bạo lực gia đình, trong khuôn khổ Chƣơng trình hợp tác chung
giữa Chính phủ Việt Nam và Liên hợp quốc về bình đẳng giới, với sự hỗ trợ kỹ
thuật của Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam, Dự án thành phần VNM0014,
Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã biên soạn bộ tài liệu tập huấn “Hƣớng dẫn thực
hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình”.
Cuốn tài liệu đƣợc biên soạn nhằm mục đích cung cấp những kiến thức
chung về phòng, chống bạo lực gia đình; công tác chỉ đạo, giám sát tổ chức thực

đình.
Đối tượng sử dụng tài liệu
Tài liệu đƣợc xây dựng hƣớng đến các học viên ở cấp trung ƣơng và cấp
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng trong các khối:
- Cơ quan Đảng (để lãnh đạo, giám sát công tác phòng, chống bạo lực gia
đình) bao gồm Ban Tuyên giáo trung ƣơng, Ban Dân vận trung ƣơng và đội ngũ báo
cáo viên của Đảng ở tuyến tỉnh.
- Quốc hội và cơ quan dân cử cấp tỉnh (để giám sát việc thực hiện Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình) bao gồm các đại biểu dân cử tham gia Quốc Hội và
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
- Cơ quan quản lý Nhà nƣớc (để chỉ đạo, giám sát tổ chức thực hiện Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình) bao gồm các Bộ, Ngành: Văn hoá, Thể thao và Du
lịch, Lao động, Thƣơng binh và Xã hội, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Công an, Tƣ
pháp, Thông tin - Truyền thông ...
Cuốn 1 đƣợc thiết kế và biên tập với những nội dung liên quan về vấn đề bạo
lực gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các nội dung tổ chức thực hiện
Luật để giúp ngƣời học có đƣợc những kiến thức cơ bản về Luật Phòng, chống bạo
lực gia đình và các vấn đề liên quan. Tài liệu cũng đƣợc xây dựng nhƣ một tài liệu
7


tham khảo cho tất cả những ngƣời có nhu cầu hiểu biết và quan tâm về phòng,
chống bạo lực gia đình.
Phạm vi của tài liệu
Tài liệu tập trung cung cấp kiến thức cơ bản về vấn đề bạo lực gia đình, Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình.
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình hƣớng tới mọi cá nhân, các thành viên
gia đình và cơ quan tổ chức có liên quan nên vấn đề bất bình đẳng giới đƣợc đề cập
trong tài liệu nhƣ một trong các yếu tố tác động dẫn đến bạo lực gia đình.
Kết cấu tài liệu

Phụ lục 3: Nghị định 110/2009/NĐ-CP.
Hướng dẫn sử dụng tài liệu
8


Cuốn 1 (dành cho học viên): Đƣợc thiết kế để tập huấn riêng biệt cho 3
nhóm đối tƣợng:
- Cán bộ trong cơ quan quản lý nhà nƣớc;
- Cán bộ trong khối cơ quan Đảng;
- Cán bộ trong khối cơ quan Quốc hội và cơ quan dân cử.
Các khóa tập huấn đƣợc triển khai theo từng nhóm đối tƣợng riêng biệt,
giảng viên sẽ biên soạn nội dung phù hợp, Phần 1 và Phần 2 của Cuốn 1 đƣợc sử
dụng chung cho cả ba nhóm đối tƣợng.
Các nội dung trong Phần 3 - Cuốn 1 đƣợc sử dụng chuyên sâu với các chủ
đề phù hợp với đối tƣợng tham gia tập huấn. Ví dụ: Chủ đề 9 dành cho cán bộ từ
các cơ quan quản lý Nhà nƣớc, thực thi Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; Chủ đề
10 dành cho nhóm học viên của khối cơ quan dân cử; Chủ đề 11 dành cho cán bộ
của các cơ quan đảng... tuy nhiên, ngƣời học vẫn có thể đọc tham khảo toàn bộ các
nội dung của tài liệu để có thêm kiến thức.

9


Chữ viết tắt:
BLGĐ:

Bạo lực gia đình

BĐG:


Văn hóa, Thể thao và Du lịch

LHQ:

Đại hội đồng Liên hợp quốc

10


PHẦN I.
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
VÀ LUẬT PHÕNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

11


CHỦ ĐỀ 1:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1 Định nghĩa về bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình theo pháp luật của Việt Nam (LPCBLGĐ, 2007, Điều 1,
Khoản 2) đƣợc định nghĩa là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc
có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong
gia đình .
Trên thế giới, bạo lực gia đình còn đƣợc xem là bất kỳ hành vi lạm dụng nào
trong một mối quan hệ mật thiết (vợ chồng, bạn tình) gây nguy hại về thể chất, tâm
lý hay tình dục cho những ngƣời trong mối quan hệ đó .
Đại đa số nạn nhân của bạo lực gia đình và các hình thức bạo lực khác là phụ
nữ và quyền của họ bị vi phạm nghiêm trọng nhiều trƣờng hợp, Đại hội đồng LHQ
đã đƣa ra Tuyên bố về xoá bỏ bạo lực đối với phụ nữ dƣới mọi hình thức nhằm đảm
bảo các quyền của phụ nữ. Trong Tuyên bố này, bạo lực đối với phụ nữ được định

khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng
phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
Tất cả các hành vi trên đều bị nghiêm cấm theo Luật PCBLGĐ (Điều 8).
Ngoài ra, các hành vi sau đây cũng bị nghiêm cấm:
1. Cƣỡng bức, kích động, xúi giục, giúp sức ngƣời khác thực hiện hành vi
bạo lực gia đình.
2. Sử dụng, truyền bá thông tin, hình ảnh, âm thanh nhằm kích động bạo lực
gia đình.
3. Trả thù, đe doạ trả thù ngƣời giúp đỡ nạn nhân bạo lực gia đình, ngƣời
phát hiện, báo tin, ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình.
4. Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình.
5. Lợi dụng hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình để trục lợi hoặc thực
hiện hoạt động trái pháp luật.
6. Dung túng, bao che, không xử lý, xử lý không đúng quy định của pháp
luật đối với hành vi bạo lực gia đình.
Các cá nhân hay tổ chức vi phạm các hành vi trên sẽ bị phạt theo quy định
của Nghị định 110/2009/NĐ-CP ngày 02/10/2009 (Xem Phụ lục).
Các dạng bạo lực gia đình
Có nhiều cách phân chia các dạng bạo lực gia đình. Sau đây xin giới
thiệu cách phân loại phổ biến nhất. Đó là các loại hình bạo lực gia đình bao gồm:
bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế, sao nhãng.
Bạo lực thể chất
Hành vi bạo lực thể chất là những hành vi ngƣợc đãi gây tổn thƣơng về thực
thể đối với nạn nhân bạo lực gia đình. Loại hành vi này dễ nhận biết nhất bởi nó để
lại dấu vết trên cơ thể.
Một số hành vi bạo lực thể chất nhƣ:
1 Đánh, đấm, đá, tát…
2 Xô đẩy, giật kéo, quăng ném, bóp cổ
3 Sử dụng hung khí gây huỷ hoại làm biến dạng cơ thể

tình dục (dù hành vi đó có thực hiện đƣợc hay không), hoặc hành vi (đã thực hiện
đƣợc hay mới dự định) cố lôi kéo họ vào hoạt động tình dục ngay cả khi họ không
có khả năng từ chối bởi các lý do nhƣ sức khoẻ, bị ảnh hƣởng của chất kích thích,
chƣa đủ năng lực hiểu biết về hậu quả của quan hệ tình dục đó, hoặc sự hăm dọa,
quấy rối tình dục.
Một số hành vi bạo lực tình dục nhƣ:
-

Cƣỡng ép quan hệ tình dục.

-

Sử dụng những hình thức quan hệ tình dục gây đau đớn

-

Sử dụng những lời lẽ liên quan tới dục tính gây khó chịu về tâm lý

-

Bắt phải chứng kiến cảnh sinh hoạt tình dục, bộ phận sinh dục

-

Buộc ở một nhà hay ngủ một giƣờng với ngƣời tình

-

Cƣỡng ép kết hôn, ly hôn.


với những nguy cơ gây thƣơng tích…)
5. Bỏ mặc không chăm sóc
………
Tham khảo thêm về các quy định hành vi BLGĐ trong Nghị định 110/2009.
Mặc dù trong định nghĩa về BLGĐ, Luật PCBLGĐ của Việt Nam không đề
cập tới khái niệm sao nhãng song trong Nghị định có những quy định cụ thể liên
quan tới hành vi sao nhãng gây tổn hại tới thể chất, tinh thần của thành viên gia đình
(ví dụ các Điều 10, Điều 14 Nghị định 110/2009), các hành vi trên cũng đƣợc xem
nhƣ hành vi bạo lực (sao nhãng) với thành viên trong gia đình. Những ngƣời thƣờng
bị sao nhãng nhiều nhất trong gia đình là ngƣời già và trẻ em.
1.3 Chu trình bạo lực gia đình
Ngƣời có hành vi BLGĐ thƣờng gây nên BLGĐ với các thành viên gia đình
(hầu hết là với phụ nữ trong gia đình) theo chu trình sau đây:

15


Sơ đồ 1. Chu kỳ của BLGĐ
Bạo lực

Xung đột

Hối lỗi

Gây sự

Biện minh

Bình thƣờng
(Source: Violence interference program - Duluth - UNODC materials - 2009

Quốc hội (2006) cho thấy 2,3% số gia đình đƣợc hỏi cho biết có hành vi bạo lực
về thể chất (đánh đập); 25% gia đình đƣợc hỏi cho biết có hành vi bạo lực tinh
thần và 30% cặp vợ chồng đƣợc hỏi cho biết đã từng xảy ra hiện tƣợng ép buộc
quan hệ tình dục.
Ngộ nhận: Bạo lực chỉ chủ yếu là sự đánh đập đơn thuần.
Thực tế: Hầu hết bạo lực thể xác luôn đi đôi với bạo lực tinh thần. Ngƣời bị bạo
lực cho rằng họ bị ảnh hƣởng tinh thần còn nhiều hơn so với ảnh hƣởng thể xác
khi bị bạo lực.
Ngộ nhận: Bạo lực trong gia đình là vấn đề riêng tƣ của các cặp vợ chồng, của
gia đình và xã hội.
Thực tế: BLGĐ không chỉ ảnh hƣởng tới bản thân ngƣời gây bạo lực và nạn
nhân bị bạo lực mà nó còn ảnh hƣởng tới xã hội (chi phí xã hội cho chữa trị, can
thiệp bạo lực, vấn đề an ninh trật tự xã hội). Ở Mỹ, dự tính chi phí cho thực hiện
đạo luật PCBLGĐ hàng năm là 1,6 tỷ USD.
Ngộ nhận: Vợ là sở hữu của chồng và anh ta có thể làm bất cứ điều gì đối với
vợ.
Thực tế: Vợ, chồng bình đẳng trƣớc pháp luật. Luật Hôn nhân và gia đình từ
năm 1960 (sửa đổi năm 2000) ở Việt Nam đã quy định sự bình đẳng giữa nam
và nữ.
Ngộ nhận: Bạo lực trong gia đình thƣờng do rƣợu gây ra.
Thực tế: Rất nhiều nam giới đã ngƣợc đãi vợ khi họ không say rƣợu. Rƣợu có
thể làm tăng bạo lực nhƣng đó chỉ là sự bào chữa của nam giới để trốn tránh
trách nhiệm về hành vi bạo lực mà họ gây ra.
Ngộ nhận: Phụ nữ bị bạo lực là do lỗi của họ.
Thực tế: Phụ nữ thƣờng bị bạo lực ngay cả khi họ không mắc sai lầm. Nhƣng dù
có mắc sai lầm họ cũng không thể bị đánh đập hay bị ngƣợc đãi vì đó là vi phạm
quyền con ngƣời.
Ngộ nhận: BLGĐ chỉ xảy ra với phụ nữ trong gia đình.
Thực tế: Nạn nhân bạo lực trong gia đình có thể là bất kỳ thành viên nào, ngay
cả ngƣời già, trẻ em và đàn ông (Hoàng Bá Thịnh, 2005).

trẻ em đƣợc coi là công việc của phụ nữ vì nam giới không có khả năng chăm
sóc trẻ em nhƣng trong thực tế nam giới cũng có khả năng chăm sóc trẻ.
Giá trị giới: đề cập đến những nhận thức của xã hội về việc phụ nữ và nam giới
cần phải nhƣ thế nào. Ví dụ quan niệm rằng: phụ nữ thƣờng tốt bụng, còn nam
giới thƣờng mạnh mẽ.
Định kiến giới: đề cập đến nhận thức xã hội về những gì phụ nữ và nam giới có
khả năng làm, ví dụ đàn ông làm lãnh đạo tốt, và phụ nữ làm việc nhà tốt.
Vai trò giới: đề cập đến các hoạt động mà nam giới và phụ nữ thực sự làm.
Bình đẳng: đề cập đến sự giống nhau của đầu vào.
Công bằng: đề cập đến sự giống nhau của đầu ra.
Bình đẳng giới: đề cập đến sự bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong vấn đề
quyền và cơ hội của con ngƣời và ngƣời lao động, và sự phân chia công bằng
khối lƣợng công việc, việc ra quyết định và thu nhập.
Công bằng giới: đề cập đến sự bình đẳng về đầu ra và kết quả giữa phụ nữ và
nam giới.
Các biện pháp công bằng giới: đề cập đến các biện pháp nhằm chỉ ra và làm
hẹp khoảng cách giữa nam và nữ bằng cách cung cấp đầu vào giống nhau.
Bạo lực trên cơ sở giới: đƣợc định nghĩa là bạo lực hƣớng vào một ngƣời trên
18


cơ sở giới hoặc giới tính. Nó bao gồm các hành vi gây ra tác hại hoặc đau khổ về
thể chất, tâm thần hoặc tình dục, đe dọa, áp bức hay xâm hại quyền tự do cá
nhân.
Lạm dụng hay hành hạ trẻ em: đề cập đến tất cả các hình thức ngƣợc đãi về
vật chất và tình cảm, lạm dụng tình dục, bỏ bê, và bóc lột trẻ dẫn đến gây hại
hoặc có khả năng gây hại tới sức khoẻ và sự phát triển nhân cách của trẻ.
Lạm dụng ngƣời cao tuổi: có thể đƣợc định nghĩa là một hành vi đơn lẻ, lặp đi
lặp lại hay, hoặc việc thiếu hành động thích hợp khiến cho gây hại hoặc đau khổ
cho ngƣời cao tuổi trong mối quan hệ cần có sự tin tƣởng .

Một trong những nguyên nhân của BLGĐ đƣợc đề cập tới nhiều nhất đó là ngƣời
có hành vi bạo lực. Hành vi BLGĐ của họ thƣờng khởi phát từ nhiều lý do tình
trạng tâm lý xã hội nhƣ thái độ, nhận thức hay trải nghiệm quá khứ.
- Tƣ duy bất bình đẳng giới, thái độ gia trƣởng, tƣ tƣởng trọng nam khinh nữ ở
một số nam giới. Yếu tố này khiến họ tin vào quyền lực của mình để đòi hỏi mọi
ngƣời trong gia đình đặc biệt là ngƣời vợ phải tuân thủ yêu sách của họ.
- Đòi hỏi sự hoàn hảo đối với các thành viên trong gia đình và vì vậy họ thƣờng
đƣa ra sự kiểm soát gắt gao và những kỷ luật nặng nề. Nếu thành viên nào trong gia
đình không làm theo họ sẵn sàng phạt các thành viên trong gia đình. Ví dụ nhƣ họ
đƣa ra yêu cầu cho con cái về kết quả học tập phải cao, ngƣời vợ phải hoàn hảo
trong nội trợ hay ứng xử...
- Những trải nghiệm về bạo lực trong gia đình khi còn nhỏ tuổi. Ngƣời ta cho
rằng những ngƣời khi còn nhỏ đã bị bạo lực hay chứng kiến cảnh bạo lực trong gia
đình thì khi lớn lên họ thƣờng có xu hƣớng bạo lực với ngƣời khác đặc biệt là với
ngƣời trong gia đình.
- Việc thiếu kỹ năng làm cha/ mẹ hay kỹ năng trong giao tiếp, kỹ năng quản lý
bản thân cũng khiến cho ngƣời có hành vi BLGĐ không hiểu đặc điểm nhu cầu và
tâm lý của vợ/chồng hay con cái hay ngƣời già, không biết kiểm soát bản thân từ đó
dễ có ứng xử thô bạo trong gia đình.
- Thiếu hiểu biết về quy định pháp luật nhƣ Luật Bình đẳng giới, Luật Hôn nhân
và Gia đình, Luật PCBLGĐ.
- Say và nghiện rƣợu của ngƣời thực hiện bạo lực thƣờng là nguyên nhân thứ cấp
của hành vi bạo lực. Nhiều khi rƣợu là con đƣờng để họ giải tỏa tâm trạng ức chế
nảy sinh do nhiều yếu tố trong cuộc sống.
- Thiếu hiểu biết về huy động và sử dụng nguồn lực trong gia đình, cộng đồng để
giải quyết những khó khăn trong gia đình (ví dụ thiếu việc làm, thu nhập thấp...).
Về phía nạn nhân bạo lực gia đình
Không ít ngƣời khi xem xét nguyên nhân của BLGĐ chỉ đề cập tới lý do từ ngƣời
có hành vi BLGĐ. Thực tế những đáp ứng từ nạn nhân BLGĐ cũng tác động tới sự
gia tăng hay thuyên giảm của hành vi BLGĐ. Sau đây là một số yếu tố cụ thể:

trong những yếu tố nguy cơ dẫn đến BLGĐ. Một nghiên cứu chỉ ra số phụ nữ trong
gia đình thu nhập thấp (dƣới 7.500 USD/năm) thƣờng là nạn nhân của bạo lực cao
gấp 5 lần so với những phụ nữ trong gia đình với thu nhập cao (trên 30.000
USD/năm) (Rennison &Welchans, 2000).
- Những cuộc hôn nhân không theo ý muốn tạo nên sự nặng nề trong gia đình
giữa ngƣời vợ và ngƣời chồng, giữa bố mẹ và con cái cũng là nguy cơ của BLGĐ.
- Những căng thẳng trong gia đình nhƣ bất hoà giữa bố mẹ, xung đột tâm lý
giữa các thế hệ hay áp lực từ công việc, sự ốm đau lâu ngày của một thành viên...
nếu không đƣợc giải quyết thì có thể là nguyên nhân tiềm tàng của sự bạo lực trong
gia đình.
- Những gia đình có bạo lực thƣờng cách biệt với xã hội, hoặc họ tự cô lập để
tránh điều tiếng cho gia đình vì thế BLGĐ tiếp tục diễn ra trong gia đình họ.
1.6.1.3 Về phía cộng đồng
- Sự chấp nhận hành vi bạo lực ở cộng đồng thì ngƣời dân nơi đó sẽ có khuynh
hƣớng ủng hộ hành vi bạo lực hay thờ ơ với hiện tƣợng bạo lực.
- Cộng đồng nghèo đói, kém phát triển, các tệ nạn xã hội cao, thất nghiệp nhiều
cũng là nguy cơ của sự gia tăng bạo lực.
21


- Sự thiếu vắng của những dịch vụ trợ giúp nạn nhân bị bạo lực trong cộng
đồng làm gia tăng sự cam chịu của các nạn nhân, thiếu thông tin để xử lý và răn đe
hành vi BLGĐ.
- Mối quan hệ lỏng lẻo giữa gia đình, họ hàng hay hàng xóm cũng làm cho sự
phát hiện và can thiệp các vụ bạo lực giảm đi hay không có hiệu quả.
1.4.1.4 Về phía xã hội
- Bất bình đẳng giới, phân biệt nam nữ, cho rằng đàn ông là ngƣời quyết định
trong gia đình và ngƣời vợ phải lệ thuộc vào ngƣời chồng... khiến xã hội, gia đình
và bản thân ngƣời vợ dễ bỏ qua những hành vi bạo lực của đàn ông.
- Tồn tại quan niệm không đúng đắn của xã hội cho rằng sử dụng hình phạt là

 Xã hội hóa quan niệm bất bình đẳng giới
 Nhận định mang tính văn hoá về vai trò của phụ nữ và
nam giới
22


 Quan niệm rằng gia đình là không gian riêng tƣ và dƣới
sự kiểm soát của nam giới
 Tin vào các ƣu thế vốn có của đàn ông
 Kỳ thị về văn hóa và truyền thống trong tín ngƣỡng và
thực tế
 Tín ngƣỡng tôn giáo

Yếu tố chính trị

Khung pháp lý và
thực tiễn.

 Cho rằng phụ nữ không có thế mạnh trong ra quyết định
hay quyền lực ở mọi mức độ.
 BLGĐ không đƣợc xem là vấn đề cần đƣợc quan tâm
nhƣ các vấn đề khác
 Phân biệt đối xử, không quan tâm tới bạo lực tình dục và
bạo lực trên cơ sở giới
 Thiếu sự bảo hộ về pháp lý đối với quyền phụ nữ và trẻ
em
 Thiếu luật chống lại bạo lực tình dục và bạo lực trên cơ
sở giới
 Thiếu sự tin cậy đối với các cơ quan thi hành pháp luật.
 Áp dụng luật tục cho việc phân biệt đối xử giới tính

Những quan niệm xã hội về thân phận ngƣời phụ nữ là tài sản của ngƣời đàn
ông hay mọi quyền lực thuộc về đàn ông đã khiến cho nam giới xem nhƣ cách ứng
xử của họ với phụ nữ thế nào là quyền của nam giới trong gia đình.
Với tính gia trƣởng, nam giới tự cho mình có quyền “dạy vợ”, nam giới có
quyền đòi hỏi vợ con phục vụ, thực hiện những yêu cầu của mình. Ngƣời phụ nữ
với vị thế lệ thuộc, phải phục tùng, làm theo. Nếu trái ý hoặc chậm trễ họ dễ bị
ngƣời chồng đối xử thô bạo, xúc phạm nhân phẩm.
Thực tế phụ nữ cũng nhƣ đàn ông, họ sinh ra, lớn lên đều là con ngƣời. Họ
cần đƣợc bình đẳng với nam giới về nhiều khía cạnh. Không có sự khác biệt gì giữa
nam và nữ ở góc độ giới, nếu có chăng thì chỉ là sự khác biệt về giới tính.
Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc
điểm, vị trí, vai trò, về năng lực của nam hoặc nữ vì vậy định kiến giới cũng là một
trong những nguyên nhân gây nên BLGĐ.
Xã hội phong kiến với tƣ tƣởng “trọng nam khinh nữ” đã đề cao vai trò và
địa vị của nam giới, hạ thấp vai trò của phụ nữ. Ngƣời phụ nữ bị trói buộc trong
phạm vi gia đình và hoàn toàn bị lệ thuộc vào nam giới. Tƣ tƣởng trọng nam khinh
nữ trong định kiến giới đã hình thành nên tính gia trƣởng của nam giới khiến cho họ
tăng thêm cho mình uy quyền ngoài xã hội và uy lực trong gia đình khi đối xử với
phụ nữ.
Các định kiến giới nhiều khi đã trở thành áp lực đối với hai giới và cản trở
các cá nhân thực hiện công việc mà ngƣời đó có đủ khả năng đảm nhận.Ví dụ: quan
niệm cho rằng nội trợ là việc của phụ nữ, không phải việc của nam giới.
Bình đẳng giới và công tác phòng, chống bạo lực gia đình ở Việt Nam
Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, đƣợc tạo điều
kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia
đình và thụ hƣởng nhƣ nhau về thành quả của sự phát triển đó.
Bình đẳng giới có nghĩa là phụ nữ và nam giới có vị trí nhƣ nhau và có cơ
hội nhƣ nhau để làm việc và phát triển, có cơ hội nhƣ nhau để đóng góp và hƣởng
lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của quốc gia.
Bình đẳng giới trong gia đình là nam nữ trong gia đình có sự bình đẳng với

BĐG là nền tảng của sự công bằng, tôn trọng lẫn nhau của nam giới và phụ nữ
trong gia đình, có trách nhiệm với nhau, cùng tạo điều kiện cho nhau phát triển. và
nhƣ vậy không có BLGĐ.
Những khó khăn trong quá trình thực hiện bình đẳng giới và chính sách pháp
luật liên quan tới PCBLGĐ, những việc cần làm để thúc đẩy bình đẳng giới và
PCBLGĐ ở Việt Nam
Mặc dù Việt Nam đã thông qua Luật Bình đẳng giới, tuy nhiên trong thực tế vẫn
có nhiều khó khăn khi thực hiện luật pháp này. Sau đây là một số cản trở:
- Chƣa thay đổi nhiều về nhận thức trong xã hội.
25


Trích đoạn Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến cơng tác phịng, chống và ứng phó vấn đề BLGĐ Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến xử lý vi phạm BLGĐ Quy định liên quan tới công tác PCBLGĐ Quy định liên quan tới đáp ứng can thiệp BLGĐ Khuôn khổ chung
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status