TRẢ LỜI CÂU HỎI ÔN THI
MÔN: TRIẾC HỌC MÁC – LÊNIN
(Lớp TC LLCT – HC B37)
Câu 1. Trình bày định nghĩa vật chất của Lênin
và ý nghĩa của phương pháp Luận?
a. Định nghĩa vật chất của LêNin:
“Vật chất: là một phạm trù TH dùng để chỉ
thực tại khách quan, được đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép
lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào
cảm giác”.
b. Phân tích định nghĩa :
Vật chất là 1 phạm trù TH, thì nó khác với
vật chất trong KHTN và trong đời sống hàng
ngày: Vật chất trong KHTN, trong đời sống hàng
ngày là các dạng vật chất cụ thể, tồn tại hữu hình,
hữu hạn; có sinh ra có mất đi, chuyển hóa từ dạng
này sang dạng khác. Chúng bao gồm vật chất dưới
dạng hạt, trường, trong TN, XH, dưới dạng vĩ mô, vi
mô rất phong phú đa dạng.
Vật chất với tính cách là 1 phạm trù TH tức
là vật chất đã được khái quát từ tất cả các sinh vật cụ
thể. Do đó, nó tồn tại vô cùng vô tận, không có khởi
đầu, không có kết thúc, không được sinh ra, không
bị mất đi; đây là phạm trù rộng nhất, vì thế không
thể quy nó vào các vật cụ thể để hiểu nó.
Vật chất là “thực tại khách quan”, “tồn tại
không lệ thuộc vào cảm giác”. Nghĩa là vật chất là
tất cả những gì tồn tại thực, tồn tại khách quan ở bên
ngoài, độc lập với cảm giác, ý thức con người,
không lệ thuộc vào cảm giác, ý thức. Đây là thuộc
- “Vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ
thực tại khách quan được đem lại cho con người
trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm
giác”1 .
- Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, ý thức của con người là sản phẩm của quá
trình phát triển tự nhiên và lịch sử - xã hội. Do đó, cần
xem xét nguồn gốc của ý thức trên cả hai mặt tự nhiên
và xã hội.
* VAI TRÒ CỦA VẬT CHẤT ĐỐI VỚI Ý
THỨC:
- Vật chất suy cho cùng quyết định ý thức:
+ Vật chất quyết định sự hình thành ý thức.
Có nghĩa là vật chất có trước , ý thức có sau . Khi
trình độ, bộ ốc con người đạt trình độ sẽ có khả năng
phản ánh được thế giới vật chất khi đó ý thức ra đời.
+ Vật chất quyết định nội dung của ý thức,
vật chất có thuộc tính phản ánh do đó ý thức con
người có thể “chép, chụp lại” những thuộc tính bản
chất đó của sự vật, vật chất ntn thì sẽ cho nội dung ý
thức phản ánh nhu thế đó.
+ Vật chất quyết định sự biến đổi của ý thức,
vật chất luôn luôn vận động, thế giới này là thế giới
vật chất cho nên thế giới luôn luôn vận động biến
đổi không ngừng và thế giới vận động biến đổi thì
sớm hay muộn nhanh hay chậm ý thức cũng thay
đổi theo.
* NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN:
Trong thự nhiên, xã hội và tư duy của con
thực tiễn của con người . Ta hiểu rằng , các sự vật ,
hiện tượng đều có quy luật riêng của nó ta cần phải
nắm bắt đúng những quy luật thì mới thúc đẩy được
sự vận động và phát triển của xã hội . Điển hình là
Bác Hồ đã nắm bắt đúng quy luật phát triển của xã
hội , vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào tình hình
cách mạng Việt Nam nên đã giành được chính
quyền trong cả nước qua cuộc cách mang tháng 8 /
1945.
Như vậy , nên cần phát huy tính sáng tạo của ý thức
bằng cách nâng cao trình độ tri thức khoa học cho
nhân dân và cán bộ , đảng viên …Nhất là trong điều
kiện hiện nay , phải củng cố , bồi dưỡng ý chí cách
mạng cho nhân dân , rèn luyện phẩm chất đạo đức
cho cán bộ , đảng viên nhằm đảm bảo sự thống nhất
giữa tri thức và khoa học . Chống lại tư tưởng bảo
thủ , trì trệ, thụ động , chủ quan, giáo điều, xa rời
thực tiễn .
Cần chống lại bệnh chủ quan , duy ý chí cũng như
thái độ thụ động , chờ đợi vào điều kiện vật chất ,
hoàn cảnh khách quan quan . Đây là một căn bênh
gây tác hại khá nghiêm trọng dối với sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội , điển hình là sự sụp đổ của
Liên Xô và các nước Đông Âu trong thập kỷ 80 và
đầu thập kỷ 90. Bệnh chủ quan , duy ý chí có nguồn
gốc từ nhận thức , sự yếu kém về tri thức khoa học ,
tri thức lý luận , không đáp ứng đòi hỏi của thực
tiễn . ngoài ra còn do cơ chế quan liêu , bao cấp
cũng tạo diều kiện cho sự ra đời của bệnh quan
liêu , duy ý chí . Để khắc phục , chúng ta phải sử
quy luật khách quan thì có tác dụng thúc đẩy vật
chất phát triển.
+ Tiêu cực: Nếu ý thức phản ánh không đúng
quy luật khách quan thì sẽ kiều hãm phát triển của
vật chất.
- Ý thức tác động trở lại vật chất chỉ xảy ra khi
thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
* NGUYÊN TẮC KHÁCH QUAN:
Trong thự nhiên, xã hội và tư duy của con
người đều tồn tại những quy luật khách quan vốn có
của nó nên:
- Trong nhận thức cũng như trong hoạt động
thực tiễn cần tôn trọng quy luật khách quan, làm
đúng theo quy luật khách quan. (mọi đường lối chủ
trương chính sách đề ra phải dụa vào thực tế khách
quan, phản ánh đúng đắn điều kiện kinh tế của đất
nước, địa phương).
- Cần phát huy vai trò năng động sáng tạo của
ý thức.
- Cần chống lại những tư tưởng và hành động
chủ quan duy ý trí cũng như thái độ thụ động trông
chờ ỷ lại điều kiện khách quan.
Câu 4: Nội dung ý nghĩa nguyên lý về mối liên hệ
phổ biến
a) Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến:
- Mối liên hệ: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự
quy định sự tác động và chuyển hoá lẫn nhau giữa
các sự vật hiện tượng hay giữa các mặt các yếu tố
- Tính phổ biến của các mối liên hệ:Có nghĩa là tất
cả các sự vật hiện tượng trong TG đều có liên hệ với
nhau và ngay trong mỗi sự vật cũng có mlh giữa các
bộ phận cấu thành.mlh giữa các sự vật hiện tượng là
phổ biến vì TG là một thể thống nhất trong đó mỗi
sự vật hiện tượng là một hệ thống cấu trúc chặt chẽ
vì thế mà chúng luôn có mlh hữu cơ với nhau hay
nói cách khác mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng
là
phổ
biến.
- Tính đa dạng, phong phú của mlh có nghĩa là nó
diễn ra đa dạng cả vệ hình thức trình độ, phạm vi
tính chất…Mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là
đa dạng , phong phú bởi vì các sự vật hiện tượng
đều có những mlh cụ thể khác nhau mặt khác cùng
một mlh nhất định của sự vật nhưng trong những
điều kiện cụ thể khác nhau ở những giai đoạn phát
triển khác nhau thì cũng có những tính chất và vai
trò
khác
nhau.
- Biểu hiện đa dạng phong phú của các mlh của các
sự vật hiện tượng:Có mối liên hệ bên trong và bên
ngoài sự vật mlh bản chất và hiện tượng mlh chủ
yếu và thứ yếu, mlh trực tiếp và gián tiếp.
c)Ý
nghĩa
phương
pháp
Những người theo quan điểm siêu hình xem sự phát
triển như là một quá trình tiến lên liên tục, không có
những bước quanh co, thăng trầm, phức tạp. Đối lập
với quan điểm siêu hình, quan điểm biện chứng xem
xét sự phát triển là một quá trình tiến lên từ thấp đến
cao. Quá trình đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt,
đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ. Dù
trong hiện thực khách quan hay trong tư duy, sự
phát triển diễn ra không phải lúc nào cũng theo
đường thẳng, mà rất quanh co, phức tạp, thậm chí có
thể có những bước lùi tạm thời. Theo quan điểm
biện chứng, sự phát triển là kết quả của quá trình
thay đổi dần
dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, là quá
trình diễn ra theo đường xoáy ốc và hết mỗi chu kỳ
sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở cấp
độ cao hơn. Quan điểm duy vật biện chứng đối lập
với quan điểm duy tâm và tôn giáo về nguồn gốc
của sự phát triển. Quan điểm duy vật biện chứng
khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm trong
bản thân sự vật. Đó là do mâu thuẫn trong chính sự
vật quy định. Quá trình giải quyết liên tục mâu
thuẫn trong bản thân sự vật, do đó, cũng là quá trình
tự thân phát triển của mọi sự vật. Trên cơ sở khái
quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại
trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng do chúng được thừa hưởng những thành quả, những
khẳng định, phát triển là một phạm trù triết học điều kiện thuận lợi mà xã hội mang lại. Trong thời
dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến đại hiện nay, thời gian công nghiệp hóa và hiện đại
luôn phát triển. Vì thế sự phát triển là tiến trình phải thấy rõ khuynh hướng phát triển trong tương lai
khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con của chúng, phải thấy được những biến đổi đi lên
người.
cũng như những biến đổi có tính chất thụt lùi. Song
- Sự phát triển mang tính phổ biến. Tính phổ điều cơ bản là phải khái quát những biến đổi để vạch
biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi ra khuynh hướng biến đổi chính của sự vật.Xem xét
lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân
hiện tượng nào của thế giới khách quan. Ngay cả chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những
các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực giai đoạn. Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp
cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển; chỉ nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy
trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát
duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có
thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và hại đối với đời sống của con người.
phát triển.
Quan điểm phát triển góp phần khắc phục tư
- Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến trong
phú. Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Với tư
vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan
tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau. điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan
Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt
nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau. Đồng thời động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện
trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu thực, cải tạo chính bản thân con người. Song để thực
sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất hiện được chúng, mỗi người cần nắm chắc cơ sở lý
nhiều yếu tố, điều kiện. Sự tác động đó có thể thúc luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng
có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự một cách sáng tạo trong hoạt động của mình.
vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi. Chẳng hạn, nói
chung, ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về Câu 6: Trình bày nội dung cặp phạm trù cái
thể chất lẫn trí tuệ so với trẻ em ở các thế hệ trước chung và cái riêng, ý nghĩa phương pháp luận?
sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái
cũ và nhường chỗ cho sự ra đời của cái mới.
3. Phân tích nội dung quy luật
a. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan và
mang tính phổ biến, là nguồn gốc của sự vận động
và phát triển
Những nhà triết học theo quan điểm siêu
hình phủ nhận mâu thuẫn bên trong của sự vật hiện
tượng, chỉ thừa nhận có sự đối kháng, sự xung đột
bên ngoài giữa các sự vật hiện tượng với nhau,
nhưng không cho đó là có tính quy luật.
Phép biện chứng duy vật khẳng định rằng,
mọi sự vật hiện tượng trong thế giới đều tồn tại
mâu thuẫn bên trong; mỗi sự vật hiện tượng đều là
một thể thống nhất giữa các mặt, các thuộc tính,
các khuynh hướng đối lập nhau, những mặt đối lập
nhau nhưng lại ràng buộc nhau nên nó tạo thành
mâu thuẫn.
Mâu thuẫn chẳng những là hiện tượng khách
quan mà còn là hiện tượng phổ biến; mâu thuẫn tồn
tại khách quan trong thế giới tự nhiên, xã hội và tư
duy con người; tồn tại phổ biến chẳng những ở mọi
sự vật hiện tượng mà còn phổ biến trong suốt quá
trình vận động và phát triển của chúng; mâu thuẫn
này mất đi thì mâu thuẫn khác lại được hình thành.
b. Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
đối lập
Khái niệm "thống nhất" trong quy luật mâu
thuẫn có nghĩa là 2 mặt đối lập liên hệ nhau, ràng
mặt có khuynh hướng trái ngược nhau; trong quá
trình phát triển của mâu thuẫn, sự khác nhau đó
biến thành sự đối lập, khi 2 mặt đối lập xung đột
nhau gay gắt, nếu có điều kiện chín muồi sẽ chuyễn
hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết; kết quả là
sự thống nhất giữa 2 mặt đối lập cũ bị phá hũy, sự
thống nhất của 2 mặt đối lập mới được hình thành
cùng mới mâu thuẫn mới.
Bất cứ sự thống nhất của các mặt đối lập cụ
thể nào cũng đều có tính chất tạm thời tương đối,
nghĩa là nó tồn tại trong trạng thái đứng im tương
đối của sự vật hiện tượng; còn sự đấu tranh giữa
các mặt đối lập là có tính chất tuyệt đối, nghĩa là nó
phá vỡ sự ổn định dẫn đến sự chuyển hóa về chất
của các sự vật hiện tượng, làm cho vật chất luôn
vận động và phát triển.
c. Các loại mâu thuẫn
mâu thuẫn trong tự nhiên, xã hội và tư duy tồn
tại rất đa dạng; tính đa dạng được quy định bởi đặc
điểm của các mặt đối lập, điều kiện thực hiện sự
tác động qua lại giữa các mặt đối lập, bởi trình độ
tổ chức của hệ thống mà trong đó mâu thuẫn tồn
tại.
Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập,
người ta phân loại thành mâu thuẫn bên trong và
mâu thuẫn bên ngoài; trong đó, mâu thuẫn bên
trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các
khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật hiện
thuẫn chủ yếu.
Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập trong
xã hội, người ta phân chia thành mâu thuẫn đối
kháng và mâu thuẫn không đối kháng; mâu thuẫn
đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những
tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích
cơ bản đối lập nhau (ví dụ); mâu thuẫn không đối
kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, những
khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích những
mang tính cục bộ, tạm thời (ví dụ: mâu thuẫn trong
các bộ phận công nhân, giữa thành thị-nông thôn).
Phân biệt được các loại mâu thuẫn trên sẽ góp phần
xác định chính xác phương pháp giải quyết phù
hợp: bằng bạo lực cách mạng hay bằng giáo dục
thuyết phục.
4. Ý nghĩa phương pháp luận
Phải thừa nhận tính khách quan của mâu
thuẫn, yêu cầu này đòi hỏi chúng ta phải biết phân
tích các mặt đối lập của mâu thuẫn, nắm được bản
chất của sự vật, khuynh hướng vận động và phát
triển của chúng.
Hoạt động thực tiển nhằm biến đổi sự vật là
quá trình giải quyết mâu thuẫn của nó, muốn vậy
phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu
thuẫn, tìm ra phương thức, phương tiện và lực
lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn; không
nên giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi
chưa đủ điều kiện.
Mâu thuẫn phải được giải quyết bằng con
nhân duy nhất, là nguồn gốc của mọi sự vật, hiện
tượng, quá trình. Và mỗi sự vật, hiện tượng, quá
trình đều có căn cứ của nó trong những sự vật, hiện
tượng, quá trình khác. Cho nên không có sự vật hiện
tượng nào không có nguyên nhân mà chỉ có chúng
ta chưa tìm ra nguyên nhân của hiện tượng đó, và
cũng không có một hiện tượng nào không sinh ra kết
quả mà chỉ có chúng ta chưa tìm ra được kết quả của
nó.
- Tính phổ biến:
Tính phổ biến của quan hệ nhân quả thể hiện ở chỗ
mọi sự vật và hiện tượng đều nảy sinh từ những sự
vật hiện tượng khác. Trong đó cái sản sinh ra cái
khác được gọi là nguyên nhân và cái được sinh ra
gọi là kết quả.
3. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả
- Nguyên nhân sinh ra kết quả vì vậy nguyên nhân
bao giờ cũng có trước kết quả, còn kết quả bao giờ
cũng xuất hiện sau nguyên nhân, khi nguyên nhân
đã xuất hiện, đã bắt đầu tác động.
Tuy nhiên không phải mọi sự nối tiếp nhau về mặt
thời gian của các sự vật hiện tượng cũng là biểu hiện
của mối liên hệ nhân quả. Cái để phân biệt quan hệ
nhân quả với quan hệ nối tiếp nhau về mặt thời gian
là ở chỗ quan hệ nhân quả bao giờ cũng là quan hệ
sản sinh, trong đó nguyên nhân phải sản sinh ra kết
quả.
- Trong hiện thực, mối quan hệ nhân quả biểu hiện
hết sức phức tạp. Một kết quả thường không phải do
một nguyên nhân mà do nhiều nguyên nhân gây ra;
lẫn nhau trong đó không những nguyên nhân sinh ra
kết quả mà kết quả còn tác động trở lại đối với
nguyên nhân đã sinh ra nó, làm cho những nguyên
nhân cũng biến đổi bởi vì nguyên nhân sinh ra kết
quả bao giờ cũng là một quá trình. Sự tác động trở
lại của kết quả đối với nguyên nhân chính là sự ảnh
hưởng thường xuyên lẫn nhau giữa nguyên nhân và
kết quả, gây nên sự biến đổi giữa chúng. Nguyên
nhân và kết quả thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau,
nên “cái bây giờ ở đây là kết quả thì ở chỗ khác, lúc
khác lại trở thành nguyên nhân và ngược lại”.
Trong thế giới vô tận, nguyên nhân sinh ra kết quả,
đến lượt nó kết quả chuyển hóa thành nguyên nhân
mới sinh ra kết quả mới,.. là vô tận. Chính vì thế,
trong thế giới ta không thể chỉ ra được đâu là
nguyên nhân đầu tiên và đâu là kết quả cuối cùng.
4. Ý nghĩa phương pháp luận:
- Mối quan hệ nhân quả đã vạch rõ nguồn gốc của
các hiện tượng cụ thể, riêng biệt vì vậy là cơ sở để
đánh giá kết quả của sự nhận thức thế giới, hiểu rõ
con đường phát triển của khoa học, khắc phục tính
hạn chế của các lý luận hiện có và là công cụ lý luận
cho hoạt động thực tiễn để cải tạo tự nhiên và xã
hội.
- Hiện tượng nào cũng có nguyên nhân, nên muốn
hiểu đúng một hiện tượng thì phải tìm hiểu nguyên
nhân xuất hiện của nó hoặc muốn xóa bỏ một hiện
tượng thì phải xóa bỏ nguyên nhân sản sinh ra nó.
Mâu thuẫn không những có tính khách quan,phổ
biến mà còn đa dạng,phong phú.Tính đa dạng của
mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ:mỗi sự vật hiện
tượng,quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu
thuẫn khác nhau,biểu hiện khác nhau trong những
điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau,chúng giứ vị trí
vai trò khác nhau đối với sự tồn tại,vận động và phát
triển của sự vật.Đó là mâu thuẫn bên trong và bên
ngoài cơ bản và không cơ bản,chủ yếu và thứ yếu.
+Quá trình vận động của mâu thuẫn:Trong
mâu thuẫn các mặt đối lập vừa thống nhất với
nhau,vừa đấu tranh với nhau
-Mỗi sự vật, hiện tượng đều tồn tại sự thống nhất
của những mặt đối lập. Các mặt đối lập quy định lẫn
nhau hay nói cách khác, sự thống nhất của các mặt
đối lập là sự nương tựa vào nhau, quy định lẫn nhau
của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm điều
kiện tồn tại của mình, có mặt này mới có mặt kia và
ngược lại.
-Các mặt đối lập của sự vật còn luôn diễn ra sự
đấu tranh với nhau. Sự đấu tranh của các mặt đối lập
là sự bày trừ nhau, gạt bỏ nhau, phủ định nhau của
chúng. Chính đấu tranh của các mặt đối lập là nguồn
gốc , động lực của quá trình vận động và phát triển
của sự vật.
-Phép biện chứng duy vật chỉ rõ : Các sự vật bao
giờ cũng là thể thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập. Các mặt đối lập tồn tại bên trong của sự vật,
chúng vừa liên hệ , ràng buộc , phụ thuộc vào nhau
của sự phát triển.
Một số loại >
< là kh wan,phổ biến ở sv>< chi
phối sự vđ,phát triển của svgiải quyết >< sẽ thúc
đẩy phát triển sv
- Lượng: là một phạm trù triết học dùng để
chỉ tính quy định khách quan, vốn có của sự vật về
mặt số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự
vận động và phát triển của sự vật, cũng như của các
thuộc tính của sự vật.
*MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG:
Bất kì sự vật nào cũng đều là thể thống nhất
của hai mặt : lượng và chất. Chúng gắn bó hữu cơ
với nhau, quy định lẫn nhau trong đó lượng là cái
thương xuyên biến đổi, chất là cái tương đối ổn
định, lượng biến đổi đến một mức độ nhất định sự
vật chuyển hóa, chất mới ra đời thay thế chất cũ,
*Sự chuyển hoá cũng có thể diễn ra sau một quá
trình tích luỹ những thay đổi về lượng trong
mộtkhoảng giới hạn nhất định, mới dẫn tới sự
thay đổi về chất.
Thí dụ : Trạng thái (“chất”) của nước tương ứng với
nhiệt độ toC (“lượng”) của nó. Trong khoảng OoC
làm thay đổi về chất của sự vật.
không thực hiện bước nhảy.
Sự vật phát triển thông qua những độ khác nhau, do
đó tạo thành một đường nút của những quan hệ về
độ trong quá trình phát triển. Tại điểm nút, sự thay
đổi vế chất của sự vật được gọi là bước nhảy.
– Bước nhảy là một phạm trù triết học dùng
để chỉ sự chuyển hoá về chất của sự vật. Sự chuyển
hoá được thực hiện là do sự thay đổi về lượng trước
đó của sự vật gây ra.
Bước nhảy có thể là bước nhảy tiến bộ, cũng có thể
là bước nhảy thoái bộ, tuỳ theo sự tích luỹ về lượng
trước đó trong các trường hợp cụ thể khác nhau.
- Bất kỳ sự vật nào cũng cấu thành từ chất và
lượng, lượng đổi dẫn đến chất đổi, tuy nhiên không
phải sự thay đổi nào về lượng cững ngay lập tức làm
chất đổi. lượng của sự vật thay đổi trong một giới
hạn nhất định mà chưa làm thay đổi nào về chất giới
hạn đó được gọi là độ.
- Khi đến điểm giới hạn về độ khả năng thay
đổi về chất được đặt ra đến đó được gọi là nút
* Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
- Trong nhận thức: Khi phân tích mâu thuẫn
phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, theo dõi quá
trình phát sinh, phát triển của mặt đối lập đó đồng
thời phải biết được các mâu thuẫn để có giải pháp
phù hợp.
triển lịch sử, là phương thức tồn tại cơ bản của loài
người. Hoạt động thực tiễn là hoạt động XH, vì nó
là hoạt động phổ biến của XH loài người.
B.Vai trò Của Thực Tiễn Đối Với Nhận Thức:
* Thực tiễn là cơ sở của nhận thức:
- Thông qua hoạt động thực tiễn của con
người thế giới khách quan bộc lộ ra những bản chất,
những quy luật của nó và đó là cơ sở nhận thức cho
con người. (đối tượng nhận thức của chúng ta là thế
giới khách quan, chúng ta phải tác động vào nó).
- Thực tiễn là cơ sở để con người rèn luyện
các giác quan để nhận thức có hiệu quả hơn.
* Thực tiễn là động lực của nhận thức:
- Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con
người mà đòi hỏi con người phải nhận thức hiện
thực để đáp ứng nhu cầu đó.
- Thực tiễn là cơ sở để con người chế tạo ra
các công cụ, phương tiện hỗ trợ con người trong qua
trình nhận thức.
- Thực tiễn thường xuyên vận động phát triển
nen nó luôn đề những nhu cầu nhiệm vụ, phương
hướng mới cho nhận thức.
* Thực tiễn là mục đích của nhận thức:
- Mục đích nhận thức của con người là chỉ
đạo hưỡng dẫn thực tiễn, cải tạo thực hiện mang lại
hiệu quả vào phục vị lợi ích của con người.
- Thực tiễn không ngừng bổ sung, điều chỉnh
sũa chữa, phát triển và hoàn thiện nhận thức.
động: Là người sáng tạo, cải tiến, sử dụng công cụ
để sản xuất của cải vật chất. Sản xuất phụ thuộc
không chỉ vào tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thói
quen mà còn vào động cơ, nhu cầu và hứng thú của
người lao động. Bởi vậy người lao động là nhân tố
hàng đầu của LLSX. “LLSX hàng đầu của toàn thể
nhân loại là người CN, người lao động”. Công cụ
sản xuất: Là yếu tố cơ bản của sản xuất, gồm vật thể
hoặc phức hợp vật thể có tác dụng dẫn truyền tác
động của con người vào đối tượng lao động, làm
tăng hiệu ứng của tác động đó; là hệ thống xương
cốt và bắp thịt của sản xuất; là cái luôn được chú
trọng cải tiến nên ngày càng tinh vi, hiện đại, nhằm
giảm nhẹ nặng nhọc và tăng năng suất lao động. Khi
công cụ được cải tiến thì tri thức, kinh nghiệm, kỹ
năng lao động của người lao động cũng phát triển,
hoàn thiện, ngành nghề sản xuất mới ra đời, phân
công lao động được mở rộng. Năng suất lao động
XH là thước đo trình độ phát triển của LLSX, nhân
tố quan trọng nhất cho sự thắng lợi của một trật tự
XH mới. “Xét đến cùng thì năng suất lao động là cái
quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi cũ của
chế độ XH mới. CNTB đã tạo ra một năng suất lao
động chưa từng có dưới chế độ nông nô. CNTB có
thể bị đánh bại hẳn và sẽ bị đánh bại vì CNXH tạo
ra một năng suất lao động mới cao hơn nhiều”.
Ngày nay KHKT bằng LLSX trực tiếp, được vật hóa
bằng công nghệ mới, vật liệu, nguyên liệu, năng
lượng mới, thành phương pháp lao động, phương
PTSX thì LLSX là yếu tố động nhất, CM nhất,
thường xuyên biến đổi nhất, nó thường phát triển
vượt trước QHSX, còn QHSX thường ổn định và vì
thế có xu hướng lạc hậu so với LLSX. Khi LLSX đã
biến đổi, phát triển lên một trình độ mới cao hơn,
mà QHSX biến đổi không kịp sẽ nảy sinh mâu thuẫn
với LLSX đã phát triển và kìm hãm sự phát triển của
LLSX. Mâu thuẫn này sớm muộn sẽ được giải quyết
bằng cách xóa bỏ QHSX lỗi thời, thiết lập QHSX
mới cho phù hợp với LLSX đã phát triển. Xóa bỏ
QHSX lỗi thời, thiết lập QHSX mới cũng có nghĩa
là diệt vong của PTSX cũ và ra đời của PTSX mới.
Trong XH có giai cấp đối kháng, mâu thuẫn giữa
LLSX mới với QHSX cũ thường được biểu hiện về
mặt XH thành mâu thuẫn giữa giai cấp bị trị, bị bóc
lột - đại diện cho LLSX mới và giai cấp thống trị,
bóc lột đại biểu cho QHSX lỗi thời. Cuộc đấu tranh
giai cấp phát triển tới đỉnh cao dẫn tới CMXH, đưa
giai cấp CM tiến bộ đại biểu cho LLSX tiến bộ lên
cầm quyền. Quy luật cơ bản này tác động làm cho
XH phát triển từ hình thái kinh tế-xã hội thấp lên
hình
thái
kinh
tế-xã
hội
cao
hơn.
Sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô có
nguyên nhân không vận dụng đúng quy luật này.
Nước ta quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN để
phát triển LLSX. Đảng ta chủ trương phát triển kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, nhiều hình thức sinh
hoạt, nhiều hình thức tổ chức quản lý và phân phối,
… Nhờ đó đã khai thác các tiềm năng phát triển
LLSX.
Câu 12 .Đấu tranh giai cấp là gì? Tại sao nói đấu
trang giai cấp trong XH có đối kháng giai cấp là
động lực cơ bản thúc đẩy XH phát triển? liên hệ
đấu tranh giai cấp hiện nay ở VN
Sự hình thành các giai cấp cũng là sự hình thành các
lợi ích giai cấp khác nhau. Trong XH chiếm hữu nô
lệ, người nô lệ coi như “công cụ biết nói” và bị buôn
bán như súc vật, bị bóc lột dã man nhất trong lịch sử
.Trong lợi ích giai cấp có lợi ích cơ bản và lợi ích
không cơ bản. Lợi ích cơ bản chi phối sự vận động
và phát triển của giai cấp.Lợi ích cơ bản của công
nhân đòi hỏi phải thực hiện phân phối theo giá trị
lao động còn nhà tư bản đòi hỏi lợi nhuận tối đa,
điều đó khiến cho lợi ích của công nhân và nhà tư
bản đối lập nhau..Mâu thuẫn ấy không thể giải
quyết, được trong chế độ kinh tế TBCN. Vì vậy, tất
yếu dẫn tới đấu tranh giai cấp.Lênin định nghĩa “
đấu tranh giai cấp là đấu tranh của một bộ phận
nhân dân này chống lại một bộ phận khác, cuộc đấu
tranh của quần chúng bị tước hết quyền, bị áp bức
và lao động, chống bọn có đặc quyền đặc lợi, bọn áp
cải tạo XH, xóa bỏ các lực lượng XH phản động,
kìm hãm XH phát triển mà còn có tác dụng cải tạo
bản than các giai cấp CM. Trong XH có mâu thuẫn
đối kháng, thì trước hết phải giải quyết mâu thuẫn
giữa LLSX mới và QHSX cũ, giữa CSHT và
KTTTtrong một hình thái kinh tế XH. CM luôn đại
diện cho sự phát triển của LLSX mới, ngược lại
những giai cấp bóc lột thống trị đã lạc hậu hoặc lỗi
thời thì đại diện cho những QHSX cũ. Mâu thuẫn đó
được giải quyết bằng cuộc CMXH.
VD: CM tư sản giải quyết mâu thuẫn cơ bản của chế
độ địa chủ PK, CM vô sản giải quyết mâu thuẫn cơ
bản của CNTB
Như vậy thực chất quá trình đấu tranh giai cấp khi
giải quyết những mâu thuẫn của hình thái kinh tế
-XH khác nhau là phương thức dẫn đến sự thay đổi
chuyển hóa các hình thái kinh tế -XH có giai cấp
theo nhưng qui luật khách quan vốn có của nó. Đấu
tranh giai cấp trong XH có giai cấp còn cải tạo bản
thân các giai cấp CM và quần chúng lao động nhằm
gột rửa cho họ tinh thần nô lệ và những tập quán xấu
do chế độ người bóc lột, áp bức sinh ra. Đấu tranh
giai cấp không chỉ là động lực trực tiếp của lịch sử
trong thời kì CM mà còn là động lực phát triển mọi
mặt của đời sống XH trong thời kì phát triển bình
thường của các XH có giai cấp. Nó thúc đẩy XH
phát triển về mọi mặt, ngay cả khi qhsx phù hợp với
llsx. Dưới chế độ TBCN, nhờ cuộc đấu tranh giai
XVIII làm sụp đổ chế độ PK, đưa XH cuyển sang
thời đại tư sản. Cuộc đấu tranh do giai cấp công
nhân tiến hành để giải phóng toàn XH khỏi áp bức
bốc lột. Vì vậy đây là một quá trình đấu tranh rất lâu
dài và phức tạp. Cuộc đấu tranh giai cấp phát triển
tất yếu đến CMVS. Sauk hi giai cấp công nhân
giành được chính quyền, đấu tranh giai cấp chưa
biến mất mà vẫn diễn ra gay go, phức tạp trong điều
kiện mới. Trong thời kì quá độ lên CNXH, mục tiêu
của đấu tranh giai cấp là củng cố chính quyền của
nhân dân lao động, xây dựng thành công CNXH,
trọng tâm là xây dựng kinh tế. Trong điều kiện nắm
chính quyề, giai cấp công nhân sử dụng tổng hợp,
linh hoạt các hình thức đấu tranh mới, trong đó có
đấu tranh bằng bạo lực, bằng hòa bình, bằng thuyết
phục,…. Cuộc đấu tranh vì CNXH lâu dài, phức tạp
thế nào tùy điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước.
Ở VN, đấu tranh giai cấp trong giai đoạn quá độ
hiện nay cũng là tất yếu. Thực chất đấu tranh giai
cấp hiện nay ở VN là đấu tranh chống khuynnh
hướng tự phát TBCN & các thế lực thù địch với độc
lập dân tộc & CNXH.Nội dung chủ yếu của đấu
tranh giai cấp hiện nay là thực hiện thắng lợi sự
nghiệp CNH-HĐH theo định hướng XHCN, khắc
phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực
hiện công bằng XH, chống áp bức bất công, đấu
tranh ngăn chặn, khác phục những tư tưởng & hành
động tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm
mưu & hành động chống phá các thế lực thù địch,
như cạnh tranh, thi đua trong kinh tế, giải quyết các
lợi ích kinh tế, trấn áp bọn phản động kết hợp cải tạo
với xây dựng, GD. Ngày nay, mối quan hệ giữa các
giai cấp, các tầng lớp chủ yếu là mối quan hệ hợp
tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân nhằm tăng
cường đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp
công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong
mục tiêu chung là độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH dân giàu nước mạnh, XH công bằng, dân
chủ, văn minh. Cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh
giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ
nghĩa gắn liền với cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân
tộc, chống áp bức bất công, chống bóc lột chống
nghèo nàn lạc hậu đấu tranh chống tình trạng đói
nghèo, kém phát triển. Vì vậy, nội dung chủ yếu của
đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá theo định hướng XHCN, khắc phục
tình trạng nước nghèo kém phát triển, thực hiện
công bằng xã hội, chống áp bức, bất công, đấu tranh
ngăn chặn, khắc phục những tư tưởng và hành động
tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu
và hành động chống phá của các thế lực thù địch;
bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một
nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh
phúc. Đồng thời Đảng ta cũng khẳng định: Động lực
chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn
Do đó, quần chúng nhân dân là một phạm trù triết
học dùng để chỉ những cộng đồng ngườirộng lớn,
thay đổi trong lịch sử bao gồm tất cả các giai cấp,
những tầng lớp, các lực lượng xã hội mà bằng hoạt
động thực tiễn của mình thúc đẩy sự phát triển của
xã hội.
Vai trò của quần chúng nhân dân: Các trường phái
triết học trước Mác đều chưa nhận thức được vai trò
của quần chúng nhân dân. Tư tưởng tôn giáo cho
rằng mọi sự thay đổi trong lịch sử xã hội là do ý chí
của đấng tối cao, do mệnh trời tạo nên, và trao
quyền cho các cá nhân thực hiện. Chủ nghĩa duy
tâm trong triết học đề cao vai trò của các vĩ nhân,
còn quần chúng nhân dân chỉ là công cụ, phương
tiện để sai khiến. Chủ nghĩa duy vật trước Mác vẫn
chưa thoát khỏi quan điểm duy tâm của xã hội khi
cho rằng, nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội
là tư tưởng, đạo đức, là các vĩ nhân và chỉ có họ mới
sớm nhận thức được chân lý vĩnh cửu. Có nhà tư
tưởng lại đề cao vai trò của quần chúng nhân dân,
phủ nhận vai trò của các vĩ nhân hoặc không lý giải
được một cách khoa học vai trò quần chúng nhân
dân.
Chủ nghĩa duy vật lịch sử khẳng định quần chúng
nhân dân là chủ thể sáng tạo chân chính ra lịch sử.
Bởi vì, mọi lý tưởng giải phóng xã hội, giải phóng
con người chỉ được chứng minh thông qua sự tiếp
thu và hoạt động của quần cúng nhân dân. Hơn nữa,
tư tưởng tự nó không làm biến đổi xã hội mà phải
thông qua hành động cách mạng, hoạt động thực
cuộc cách mạng xã hội. Trong các cuộc cách mạng dân và quan điểm “lấy dân làm gốc” trở thành tư
làm chuyển biến xã hội từ hình thái kinh tế - xã hội tưởng thường trực nói lên vai trò sáng tạo ra lịch sử
này sang hình thái kinh tế - xã hội khác, nhân dân của nhân dân Việt Nam.
lao động là lực lượng tham gia đông đảo. Cách
mạng là ngày hội của quần chúng nhân dân, là sự
nghiệp của quần chúng. Tất nhiên, suy đến cùng,
Câu 14: Phân tích mối quan hệ biện chứng
nguyên nhân của mọi cuộc cách mạng là bắt đầu từ
sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến mâu giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, từ đó rút ra ý
thuẫn với quan hệ sản xuất, nghĩa là bắt đầu từ hoạt nghĩa phương pháp luận.
động sản xuất vật chất của quần chúng nhân dân.
Bởi vậy, nhân dân lao động là chủ thể của các quá
Tồn tại xã hội là toàn bộ đời sống vật chất và
trình kinh tế, chính trị, xã hội, đóng vai trò là động
những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội. Kết
lực cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội.
Thứ ba, quần chúng nhân dân là người sáng tạo ra cấu của tồn tại xã hội gồm ba yếu tố: Điều kiện tự
những giá trị văn hoá tinh thần. Quần chúng nhân
dân đóng vai trò to lớn trong sự phát triển của khoa nhiên, điều kiện dân số và phương thức sản xuất do
học, nghệ thuật, văn học, đồng thời áp dụng những phương thức sản xuất quyết định.
thành tựu đó vào hoạt động thực tiễn. Những sáng
tạo về văn học, nghệ thuật, khoa học, y học, quân
Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần
sự, kinh tế, chính trị, đạo đức... của nhân dân vừa là
cội nguồn, vừa là điều kiện để thúc đẩy sự phát triển của xã hội, là sự phản ánh tồn tại xã hội trong những
nền văn hoá tinh thần của các dân tộc trong mọi thời giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử.
đại. Hoạt động của quần chúng nhân dân từ trong
Giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội có mối
thực tiễn là nguồn cảm hứng vô tận cho mọi sáng
tạo tinh thần trong đời sống xã hội. Mặt khác, các
trong quần chúng nhân dân.
cách khác trong những tư tưởng đó.
Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội thể
hiện những mặt sau:
Ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề này:
Nếu chỉ thấy tính quyết định của tồn tại xã
hội một cách may móc sẽ rơi vào duy vật tầm
- Ý thức xã hội thường có tính lạc hậu hơn so
thường. Ngược lại, nếu tuyệt đối hóa vai trò của ý
với tồn tại xã hội. Thông thường đó là thói quen, tập
thức xã hội sẽ rơi vào chủ nghĩa duy tâm. Trong
quán, truyền thống, niềm tin tôn giáo,.. Tính lạc hậu
hoạt động thực tiễn và nhận thức phải luôn đấu tranh
của ý thức xã hội bao giờ cũng cản trở đối sự phát
khắc phục cả hai khuynh hướng đó. Trong cải tạo xã
triển của tồn tại xã hội.
hội cũ, xã hội xã hội mới phải tiến hành cả trên hai