Tiểu luận kinh tế vi mô tác động của hiệp định TPP đến ngành dệt may việt nam cơ hội, thách thức và một số đề xuất kiến nghị - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
------***------

TIỂU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ 2
TÁC ĐỘNG CỦA HIỆP ĐỊNH TPP ĐẾN NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM
- CƠ HỘI, THÁCH THỨC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

Giảng viên hướng dẫn: Phạm Xuân Trường
Nhóm thực hiện: Nhóm 10, Lớp KTE402(2-15-16).2_LT

Hà Nội, tháng 3 năm 2016

DANH SÁCH SINH VIÊN


Họ và tên

STT

MSSV

Lớp

Trần Hải Anh

10

1411110040

Nga – KTĐN – K53


80

1411110359

Pháp 1 – KTĐN – K53

Phạm Thị Thanh Nga

94

1411110455

Anh 5 – KTĐN – K53

Hoàng Thanh Phương

108

1411110518

Pháp 1 – KTĐN – K53

Nguyễn Thị Huyền Trang

122

1411110634

Nhật 1 – KTĐN – K53

tự do “thế hệ mới” đầy tham vọng và tiêu chuẩn cao; là một thỏa thuận khu vực mở
rộng, linh hoạt và toàn diện. TPP cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ và tham gia sâu
của các bên, loại bỏ hoàn toàn nhiều dòng thuế nhập khẩu, mở cửa dịch vụ và các yêu
cầu cao về môi trường và lao động… Vì thế, tham gia TPP được đánh giá là một cơ
hội không thể bỏ qua đối với các nền kinh tế, đặc biệt là với các nền kinh tế đang phát
triển trong đó có Việt Nam. Việc tham gia TPP dự kiến sẽ mang lại những lợi ích to
lớn cho Việt Nam với cam kết mở cửa thị trường mạnh mẽ từ các nền kinh tế thành
viên trên hầu hết các lĩnh vực, gia tăng xuất khẩu, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế... Tuy
nhiên, bên cạnh những triển vọng mà TPP có thể mang lại, Việt Nam cũng sẽ gặp phải
những thách thức không nhỏ đòi hỏi phải có những bước đi thận trọng và đúng hướng.
Trong số những lĩnh vực của nền kinh tế Việt Nam, dệt may là một trong những
ngành nghề chịu tác động lớn nhất từ Hiệp định TPP. Việc gia nhập TPP sẽ mở ra
Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 3


những thuận lợi, triển vọng tăng trưởng chưa từng có cho hàng dệt may Việt Nam.
Tuy nhiên, cùng với đó sẽ là những thách thức lớn từ đối thủ cạnh tranh hay những
yêu cầu đổi mới từ trong nước, đòi hỏi các doanh nghiệp trong ngành này phải có
chiến lược và định hướng chính sách kịp thời, phù hợp. Từ tình hình trên, nhóm tác giả
quyết định chọn đề tài “Tác động của Hiệp định TPP đến ngành dệt may Việt Nam
– cơ hội, thách thức và một số đề xuất, kiến nghị” làm đề tài Tiểu luận làm đề tài
tiểu luận của mình với mong muốn cung cấp cho độc giả hệ thống thông tin cơ bản về
vấn đề quan trọng này.
2. Tình hình nghiên cứu
Qua tìm hiểu, nhóm tác giả nhận thấy Hiệp định TPP và những vấn đề liên quan
đến Hiệp định này đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu của nhiều tác giả, học
giả, chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước ngay từ khi chúng ta bắt đầu tham gia đàm
phán (tháng 11/2010). Đối với lĩnh vực dệt may cũng có khá nhiều công trình nghiên

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của tiểu luận là hệ thống những thông tin tổng quát về Hiệp định
TPP, tác động của nó tới nền kinh tế Việt Nam, ngành dệt may. Trên cơ sở đó, nêu lên
một số gợi ý chính sách đối với ngành dệt may của nước ta thời gian tới.
Để đạt được mục đích trên, nhóm tác giả xác định ba nhiệm vu ̣sau:
Thứ nhất, phân tích tổng quan về Hiệp định TPP và tác động của nó tới tổng thể
nền kinh tế Việt Nam.
Thứ hai, tập hợp, hệ thống những vấn đề của TPP liên quan đến ngành dệt may
Việt Nam.
Thứ ba, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp quản lý nhà nước và biện pháp cụ
thể đối với các doanh nghiệp dệt may trong nước.
4. Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận được xây dựng theo phương pháp thống kê, tổng hợp kết hợp phân
tích, so sánh dựa trên kiến thức kinh tế học của các thành viên trong nhóm và một số
nguồn tư liệu sẵn có.
5. Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận tập trung tìm hiểu về Hiệp định TPP và những ảnh hưởng của nó đối
với lĩnh vực dệt may của Việt Nam.
6. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh sách sinh viên và Danh mục tài liệu tham
khảo, kết cấu của tiểu luận bao gồm 03 Mục lớn và 05 tiết nhỏ.

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 5


PHẦN I: TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH TPP VÀ TÁC ĐỘNG
ĐẾN TỔNG THỂ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
I. Tổng quan về Hiệp định TPP và tác động đến tổng thể nền kinh tế

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 6


phán để thiết lập một khuôn khổ mới cho TPP. Kể từ đó, các vòng đàm phán TPP
được lên lịch và diễn ra cho đến nay.
Đầu năm 2009, Việt Nam quyết định tham gia TPP với tư cách thành viên liên
kết. Tuy nhiên, đàm phán TPP mới đã bị trì hoãn đến tận cuối năm 2009 do phải chờ
đợi Hoa Kỳ hoàn thành kỳ bầu cử Tổng thống và Chính quyền mới của Tổng thống
Obama tham vấn và xem xét lại việc tham gia đàm phán TPP. Tháng 12/2009, USTR
thông báo quyết định của Tổng thống Obama về việc Hoa Kỳ tiếp tục tham gia TPP.
Chỉ lúc này đàm phán TPP mới được chính thức khởi động.
Tháng 3/2010, vòng đàm phán TPP đầu tiên được tiến hành tại Melbourn
(Australia). Năm 2010 đã chứng kiến 4 vòng đàm phán trong khuôn khổ TPP (Vòng 2,
3 đã tiến hành tại San Francisco - Hoa Kỳ tháng 6/2010 và tại Brunei tháng 10/2010,
Vòng 4 kết thúc trong tháng 12/2010 tại New Zealand). Các nước đàm phán đặt mục
tiêu là sẽ hoàn thành đàm phán TPP vào cuối 2011 sau 5 vòng đàm phán.
Tháng 10/2010, tại vòng đàm phán thứ ba diễn ra ở Brunei, Malaysia chính
thức tham gia đàm phán TPP, nâng tổng số nước tham gia đàm phán lên 9 nước.
Tháng 11/2010, sau khi tham gia 3 phiên đàm phán TPP với tư cách thành viên
liên kết, Việt Nam đã chính thức tham gia đàm phán TPP.
Tháng 6/2012, Canada và Mexico tuyên bố tham gia đàm phán và trở thành
thành viên chính thức vào tháng 10/2012.
Tháng 7/2013, Nhật Bản tham gia đàm phán và trở thành thành viên thứ 12 tại
vòng đàm phán thứ 18 diễn ra ở Malaysia.
Ngày 5/10/2015, sau nhiều vòng đàm phán tại Atlanta, hiệp định TPP chính
thức đạt được những thỏa thuận cuối cùng.
1.3. Nội dung chính của TPP


một số mặt hàng nhạy cảm sẽ được xóa bỏ với lộ trình dài hơn do các bên thống nhất.
Chương dệt may cũng bao gồm các quy tắc xuất xứ cụ thể yêu cầu việc sử dụng
sợi và vải từ khu vực TPP. Điều này sẽ thúc đẩy việc thiết lập các chuỗi cung ứng và
đầu tư khu vực trong lĩnh vực này, cùng với cơ chế “nguồn cung thiếu hụt” cho phép
việc sử dụng một số loại sợi và vải nhất định không có sẵn trong khu vực.
Chương này còn đề cập đến cam kết về hợp tác và thực thi hải quan nhằm ngăn
chặn việc trốn thuế, buôn lậu và gian lận cũng như cơ chế tự vệ đặc biệt đối với dệt
may để đối phó với thiệt hại nghiêm trọng hoặc nguy cơ bị thiệt hại nghiêm trọng đối
với ngành sản xuất trong nước trong trường hợp có sự gia tăng đột biến về nhập khẩu.
 Về quy tắc xuất xứ

Về nguyên tắc xuất xứ, 12 nước thành viên TPP đã thống nhất về một bộ quy
tắc xuất xứ chung để xác định một hàng hóa cụ thể “có xuất xứ” và do vậy được
hưởng thuế quan ưu đãi trong TPP.
Ngoài ra, các bên nhất trí không áp dụng các hạn chế xuất khẩu, nhập khẩu và
các loại thuế không phù hợp với WTO, bao gồm cả hàng tân trang - việc này được cho
là sẽ thúc đẩy việc tái chế tất cả các bộ phận để chuyển thành các sản phẩm mới.
Nếu các bên TPP duy trì yêu cầu cấp phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu thì phải
thông báo cho các bên kia về những quy trình không nhằm mục đích làm chậm sự lưu
thông thương mại.
Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 8


 Về quản lý hải quan và thuận lợi hóa thương mại

Các nước nhất trí về các quy định liên quan tới xử phạt hải quan để bảo đảm các
hình thức xử phạt này được thực hiện một cách công bằng và minh bạch. Bên cạnh đó,
vì tầm quan trọng của chuyển phát nhanh đối với các lĩnh vực kinh doanh, trong đó có



Các biện pháp này có thể được duy trì lên tới 2 năm, với việc gia hạn 1 năm, nhưng
phải được tự do hóa dần dần nếu các biện pháp này đã kéo dài hơn một năm.
Đối với đầu tư, các thành viên chấp nhận các nghĩa vụ dựa trên cơ sở “một
danh mục chọn bỏ”, nghĩa là thị trường các nước là mở hoàn toàn đối với các nhà đầu
tư nước ngoài, trừ khi các thành viên đưa ra một ngoại lệ (biện pháp bảo lưu không
tương thích) trong một trong hai phụ lục cụ thể của quốc gia đó đính kèm hiệp định
TPP: các biện pháp hiện hành trong đó một quốc gia chấp nhận nghĩa vụ không đưa ra
các biện pháp hạn chế hơn trong tương lai và ràng buộc bất kỳ sự tự do hóa nào trong
tương lai, và các biện pháp và chính sách mà theo đó một quốc gia duy trì quyền tự do
làm theo ý mình một cách đầy đủ trong tương lai.
Trong chương thương mại điện tử, nghiêm cấm việc áp dụng thuế quan đối
với các sản phẩm kỹ thuật số và ngăn chặn các thành viên TPP tạo điều kiện thuận lợi
cho các nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp dịch vụ trong nước đối với các sản phẩm kỹ
thuật số này thông qua các biện pháp như thuế phân biệt đối xử hoặc sự ngăn cấm một
cách rõ ràng.
Các thành viên cũng được yêu cầu phải có các biện pháp để chấm dứt các tin
nhắn thương mại điện tử được gửi đi không do yêu cầu.
Đối với mua sắm chính phủ, các thành viên sẽ chỉ duyệt hợp đồng dựa trên
những tiêu chí đánh giá đã mô tả trong các thông báo và hồ sơ dự thầu, sẽ xây dựng
các quy trình hợp lý để chất vấn hoặc xem xét các khiếu nại đối với một phê duyệt nào
đó. Mỗi thành viên sẽ đưa ra một danh sách chọn cho các đơn vị mà thành viên đó sẽ
xây dựng, được liệt kê tại phụ lục gắn liền với Hiệp định TPP.
Trong chương doanh nghiệp nhà nước (SOEs) tất cả các thành viên TPP đều
có doanh nghiệp nhà nước nên nhất trí bảo đảm rằng các SOEs của mình sẽ tiến hành
các hoạt động thương mại trên cơ sở tính toán thương mại, trừ trường hợp không phù
hợp với nhiệm vụ mà các SOEs đó đang phải thực hiện để cung cấp các dịch vụ công.
Các thành viên cũng đồng ý bảo đảm rằng các SOEs hoặc đơn vị độc quyền sẵn có
không có những hoạt động phân biệt đối xử đối với các doanh nghiệp, hàng hóa, dịch

Với việc Hiệp định TPP được ký kết, Việt Nam đã chính thức gia nhập một
trong những khu vực thương mại lớn nhất thế giới với hơn 800 triệu người, đóng góp
khoảng 40% GDP của thế giới và khoảng 30% kim ngạch toàn cầu. Điều này mang lại
cho Việt Nam rất nhiều cơ hội “vàng” để phát triển nền kinh tế trong những năm tới.
 Cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu

Một trong những lợi ích mà TPP mang lại cho Việt Nam chính là việc mở rộng
cơ hội xuất khẩu và tăng khả năng thâm nhập thị trường, đặc biệt là hai thị trường chủ
lực là Mỹ và Nhật Bản.
Một khi các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được giảm tới 90% thậm chí
có loại thuế hạ về mức 0% ở các nước thành viên, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
chắc chắn sẽ tăng, đặc biệt là với các mặt hàng có thế mạnh như dệt may, giày dép, các
sản phẩm và thiết bị điện tử…
Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 11


Theo Bộ Tài chính, thị trường Nhật Bản cam kết xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với
86% số dòng thuế, chiếm 93,6% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản,
tương đương 10,5 tỷ USD (dựa trên số liệu kim ngạch thương mại năm 2014). Nhiều
mặt hàng ưu tiên của Việt Nam được rút ngắn đáng kể lộ trình so với cam kết tại Hiệp
định FTA Việt Nam - Nhật Bản như đa số mặt hàng thủy sản có thế mạnh của VN
được hưởng thuế suất 0% ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực như cá ngừ vây vàng, cá
ngừ sọc dưa, cá kiếm, một số loài cá tuyết, surimi, tôm, cua ghe… Toàn bộ các dòng
thủy sản không cam kết xóa bỏ thuế trong FTA Việt Nam - Nhật Bản sẽ được xóa bỏ
trong TPP với lộ trình xóa bỏ vào năm thứ 6, năm thứ 11 hoặc năm thứ 16 kể từ khi
hiệp định có hiệu lực.
Việc thuế suất giảm mạnh ở các quốc gia tham gia TPP sẽ giúp cho giá cả các
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam trở nên rẻ tương đối so với mặt hàng các nước khác,

trong ngắn hạn sẽ giúp Việt Nam có đủ điều kiện để tham gia TPP nhưng trong dài hạn
sẽ cho phép nền kinh tế phát triển mạnh hơn, Việt Nam sẽ thay đổi thể chế và cơ cấu
kinh tế một cách sâu rộng và toàn diện hơn.
Không chỉ vậy, thông qua TPP, Việt Nam sẽ có cơ hội được hợp tác với những
cường quốc trong lĩnh vực công nghệ, giáo dục, thương mại… từ đó giúp Việt Nam
cải thiện được những lĩnh vực này một cách hiệu quả hơn.
 Đẩy mạnh hội nhập quốc tế và nâng cao vị thế đất nước

Hiệp định TPP đã giúp Việt Nam tăng cường quan hệ nhiều mặt với các đối tác
quốc tế trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có nhiều đối tác quan
trọng của Việt Nam nói riêng, của ASEAN nói chung như Mỹ, Nhật Bản, Hàn
Quốc… Việc tham gia TPP với nhiều điều khoản yêu cầu cao về tự do hóa thương
mại, thị trường sản phẩm, dịch vụ, môi trường… cũng chứng tỏ quyết tâm và cam kết
cải cách của Việt Nam. Qua đó tăng sức hấp dẫn của thị trường và uy tín của Việt Nam
đối với các nhà đầu tư, cộng đồng quốc tế, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam.
2. Thách thức
 Gia tăng sức ép về mở cửa thị trường, cạnh tranh

Một trong những thách thức lớn nhất mà TPP đặt ra cho Việt Nam nói chung và
các doanh nghiệp Việt Nam nói chung đó là việc gia tăng sức ép về mở của thị trường
và sự cạnh tranh khốc liệt.
Trong bối cảnh hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam nhìn chung năng
lực cạnh tranh còn yếu, khả năng quản lý còn nhiều bất cập. Ngược lại, các doanh
nghiệp FDI đã tận dụng tốt các lợi thế này để mở rộng thị trường, đẩy lùi thị phần của
các doanh nghiệp Việt Nam ngay tại thị trường trong nước. Chính vì thế, mặc dù lộ
trình cắt giảm thuế của Việt Nam sau khi gia nhập TPP sẽ chậm hơn một chút do là
nước đang phát triển nhưng Việt Nam vẫn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt.
Theo phân tích cơ cấu xuất khẩu của các nước TPP, có thể thấy những ngành sản xuất
của Việt Nam thực sự gặp khó khăn sẽ là công nghiệp ô tô, các ngành nông nghiệp đặc
biệt là chăn nuôi vốn chủ yếu là sản xuất nhỏ,manh mún sẽ không có khả năng cạnh

môi trường, xã hội…một cách nhanh chóng. Trong khi đó, hệ thống pháp luật của Việt
Nam còn rất nhiều kẽ hở và kém phát triển hơn nhiều so với các nước thành viên khác
trong TPP. Các bộ chi tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm còn khác biệt lớn so với
thông lệ quốc tế cả về chất lượng lẫn phương thức tính toán. Chính vì thế, việc điều
chỉnh bộ luật, các chỉ tiêu chất lượng về thương mại, đầu tư, sở hữu trí tuệ… sẽ là một
trong những thách thức lớn đối với Việt Nam.
 Khoảng cách quá lớn về trình độ phát triển

Thách thức lớn nhất đối với Việt Nam là Việt Nam hiện có khoảng cách quá lớn
về trình độ phát triển so với tất cả các nước thành viên TPP. Bên cạnh đó Việt Nam
còn có những khác biệt lớn với các nước đối tác trong TPP trên một số điểm:
Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 14


- Việt Nam chưa có kinh tế thị trường đúng nghĩa. Kinh tế thị trường ở Việt
Nam là “theo định hướng XHCN”, không thật sự tôn trọng các quy luật của thị trường
về cung cầu - cạnh tranh - giá cả. Thị trường ở Việt Nam về cơ bản mới có thị trường
sản phẩm; thị trường vốn, lao động, khoa học công nghệ… phát triển chưa đáng kể.
Mỹ là đối tác lớn nhất trong TPP hiện cũng vẫn cho rằng Việt Nam là một nền “kinh tế
phi thị trường” và áp đặt các hạn chế đối với ngành dệt may, thuỷ sản… của Việt Nam.
- Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong công cuộc tự do hoá nền kinh tế và
đã trở thành thành viên của WTO. Tuy vậy, Việt Nam vẫn gặp nhiều chỉ trích về các
tiêu chuẩn lao động, sở hữu trí tuệ và vấn đề tham nhũng. Riêng về vấn đề quyền sở
hữu trí tuệ, Việt Nam tiếp tục nằm trong danh sách các nước bị phía Mỹ theo dõi, một
phần do sản phẩm lậu và nhái vẫn được tiêu thụ rộng rãi trên thị trường, bao gồm cả vi
phạm bản quyền online.
- Về quan hệ thương mại giữa Việt Nam với các đối tác trong TPP chủ yếu là
quan hệ “hàng dọc”, nghĩa là xuất khẩu nguyên liệu thô, sản phẩm gia công; nhập

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 16


Ngành công nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay chỉ tham gia vào phần thứ 3
trong chuỗi cung ứng dệt may toàn cầu là cắt và may, sản xuất theo phương thức gia
công đơn giản; còn phụ thuộc lớn vào nguyên phụ liệu nhập khẩu (khoảng 70%), chủ
yếu từ thị trường Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc. Tuy nhiên, liên tiếp hai năm trở
lại đây, lần đầu tiên Việt Nam xuất khẩu phụ liệu dệt may, khẳng định bước đầu cho
sự tự chủ.
Theo thống kê Tập đoàn dệt may Việt Nam (VINATEX), hiện Việt Nam có
khoảng 6000 công ty dệt may, với lực lượng lao động chiếm hơn 20% lao động trong
khu vực công nghiệp và gần 5% tổng lực lượng lao động toàn quốc. Phần lớn các công
ty được đặt tại miền Nam (62%), còn lại nằm ở miền Bắc (30%), miền Trung và Tây
Nguyên (8%). Trong đó, các công ty may chiếm tỷ trọng lớn (70%), còn lại là các
công ty dệt (17%), kéo sợi (6%), nhuộm (4%), và ngành công nghiệp hỗ trợ (3%).
Theo số liệu thống kê, tỷ trọng xuất khẩu nghiêng hẳn về phía các doanh nghiệp FDI
với hơn 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và
tăng trưởng thị trường nội địa theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp dệt may
đến năm 2020, tầm nhìn 2030 của Bộ Công Thương sẽ đạt khoảng 10%-12%/năm.
Mặc dù vậy, các doanh nghiệp trong ngành dệt may vẫn phải đối mặt với không ít khó
khăn, thách thức khi hội nhập sâu với thị trường quốc tế: sự cạnh tranh gay gắt giữa
các nước xuất khẩu, các rào cản thương mại ngày càng tăng từ các thị trường nhập
khẩu lớn, nhất là từ Hoa Kỳ với các yêu cầu khắt khe về trách nhiệm xã hội, nhãn mác,
sinh thái, bảo vệ môi trường…
2. Chuỗi giá trị của ngành dệt may Việt Nam

Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10




Điều này cho thấy các doanh nghiệp ngành dệt may chưa thực sự chủ động
được về nguồn cung ứng nguyên liệu để đáp ứng nhu cầu sản xuất, làm giảm khả năng
cạnh tranh trên thị trường.
 Về khâu nghiên cứu thiết kế: Đây là khâu sẽ cho lợi nhuận cao kéo theo đó nâng giá

trị gia tăng trong các mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, khâu
nghiên cứu và thiết kế sản phẩm lại là khâu yếu nhất của các doanh nghiệp Việt Nam.
Đa phần các công đoạn thiết kế cho các sản phẩm may ở của nước ta được thực hiện
tại những nước có ngành công nghiệp thời trang phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Hồng
Kông… Sau đó, các mẫu thiết kế được chuyển về Việt Nam, các công ty may của
nước ta chỉ gia công theo đúng mẫu mã theo đơn đặt hàng. Mới chỉ có một số doanh
nghiệp đang cố gắng xây dựng và đưa thương hiệu của mình vào thị trường như may
Việt Tiến với sản phẩm San Sciaro và Manhattan, công ty thời trang Việt với thương
hiệu Nino max, Công ty TNHH May Thêu Giày An Phước…
 Về giá bán: Giá hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam thường cao hơn 15%- 30% so với
giá thế giới do chi phí nguyên phụ liệu, vận chuyển và lương tối thiểu đang ngày càng
tăng cao.
 Về hoạt động marketing và phân phối: Các doanh nghiệp dệt may trong nước hiện
nay vẫn chưa có hệ thống phân phối rộng lớn đến tận tay người tiêu dùng, nhất là trên
thị trường quốc tế. Theo kết quả nghiên cứu của tổ chức T&G firms, các doanh nghiệp
Việt Nam vẫn phải qua các nhà cung cấp khu vực để có được hợp đồng gia công, rất ít
doanh nghiệp có được hợp đồng từ các nhà bán lẻ để cung cấp sản phẩm của mình.
Hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện phụ thuộc vào các
nhà buôn nước ngoài. Các nhà buôn đóng vai trò rất quan trọng là trung gian trong
chuỗi cung ứng hàng dệt may của Việt Nam ra thế giới. Nói cách khác, doanh nghiệp
dệt may trong nước vẫn thiếu liên kết với người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng, mà chỉ
thực hiện các hợp đồng gia công lại cho các nhà sản xuất khu vực. Do đó thường
không nắm bắt được nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, điều này dẫn đến việc

Nhiều chuyên gia cho rằng khả năng phần xuất khẩu tăng thêm nhờ tác động của
TPP vào năm 2025 (với dự kiến TPP có hiệu lực vào đầu năm 2018) sẽ khoảng 13 tỷ
USD tại thị trường Hoa Kỳ và khoảng 1,8 tỷ USD vào thị trường Nhật Bản. Chỉ với
riêng hai thị trường này, TPP sẽ mang thêm gần 15 tỷ USD xuất khẩu hàng dệt may.
Đối với dệt may, TPP sẽ thúc đẩy nhanh đầu tư nước ngoài vào công nghiệp
phụ trợ, vốn là điểm yếu hiện nay khi mà ngành này đang phải nhập khẩu đến trên
70% nguyên phụ liệu. Trên cở sở đó, Việt Nam có thể thoả mãn yêu cầu về quy chế
xuất xứ cho việc chế biến hàng xuất khẩu, để hưởng mức thuế suất bằng 0 vào thị
trường Hoa Kỳ (hiện nay là 17,5%).
Bên cạnh đó, Hiệp định TPP cũng đã là động lực thu hút khá nhiều dự án đầu tư
vào ngành dệt Việt Nam có giá trị đến gần 1 tỷ USD như: dự án mở rộng Global
Dying (Hàn Quốc); dự án sợi dệt TexHong (Hong Kong); dự án dệt kim Kam Hing
(Hong Kong); dự án dệt kim Pacific (Hong Kong); dự án dệt thoi Younger (Trung
Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 20


Quốc); dự án vải sợi màu Lu-Thai (Thailand-TQ); dự án TAL Hong Kong, dự án
HyosungKorea…
II. Các kết quả đàm phán TPP về dệt may

Trong đàm phán các nội dung cốt lõi của Hiệp định TPP, lần đầu tiên, dệt may
được tách thành một chương riêng với những quy định chặt chẽ. Theo Bộ Công
thương, dệt may là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất vào thị trường TPP,
đồng thời có nhiều tiềm năng gia tăng giá trị khi Hiệp định này có hiệu lực. Kết thúc
đàm phán Hiệp định TPP về dệt may, các nước đã thống nhất được các nội dung liên
quan đến lĩnh vực này, trong đó có một số điểm đáng chú ý, cụ thể:
- Về thuế nhập khẩu, sau khi Hiệp định có hiệu lực, 73,1% số dòng thuế tại thị
trường Mỹ sẽ được đưa về 0%. Tại Canada, toàn bộ mặt hàng dệt may xuất khẩu chủ

quan, phòng chống gian lận thương mại.
III. Cơ hội và thách thức đối với ngành dệt may khi Việt Nam tham gia TPP

Hiệp định TPP được ký kết sẽ mở ra những thời cơ phát triển kinh tế, trong đó
dệt may được đánh giá là một trong những ngành được hưởng lợi nhiều nhất. Tuy
nhiên, ngành dệt may của Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít thách thức khi
tham gia vào sân chơi này. Một số cơ hội và thách thức chủ yếu đối với ngành dệt may
Việt Nam:
1. Cơ hội

Khi bắt đầu có hiệu lực, TPP sẽ tạo ra cú hích lớn và mang đến động lực quan
trọng cho sự phát triển của dệt may Việt Nam:
Thứ nhất, khi gia nhập TPP, đại bộ phận hàng dệt may của nước ta sẽ được
hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu vào các nước thành viên TPP. Khi đó, thuế nhập
khẩu vào Hoa Kỳ và các nước trong TPP sẽ giảm xuống bằng 0. Đây là một lợi thế rất
lớn để ngành dệt may tăng thị phần trên trường quốc tế.
Thứ hai, ngành dệt may được kỳ vọng sẽ tăng trưởng mạnh và có tác động đáng
kể đến nền kinh tế trong nước. Hiện nay, xuất khẩu hàng dệt may đã chiếm hơn 15%
tổng doanh số xuất khẩu của cả nước và dự đoán đến năm 2025, doanh thu xuất khẩu
hàng dệt may có thể tăng lên đến 30 tỷ USD nếu năng lực sản xuất dệt may VN tăng
theo đúng chiến lược mà các cơ quan chức năng vạch ra. Đồng thời nhu cầu về nguyên
liệu (bông, sợi…) cũng sẽ tăng tương ứng. Bên cạnh đó, các nước tham gia TPP đa số
là những đối tác xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản. Có
đến 40% giá trị hàng hóa của Việt Nam được xuất sang 11 nước tham gia TPP, trong
đó những mặt hàng quần áo, dệt may và da giày chiếm đến 31% tổng giá trị. Trong 8
tháng đầu năm 2015, tỉ trọng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang các nước
TPP là hơn 9,8 tỉ USD trong tổng số gần 14,9 tỉ USD hàng dệt may của Việt Nam xuất
đi toàn thế giới (Nguồn: Hiệp hội Dệt may Việt Nam – Vitas). Nếu TPP có hiệu lực và
đi vào thực thi thì tỉ trọng này trong tương lai có thể sẽ cao hơn nhiều. Dự báo mới đây
của Ngân hàng Thế giới cũng cho thấy, nếu TPP hoàn tất, đến năm 2020, sản lượng

TPP như Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc… Đó được gọi là nguyên tắc xuất xứ “từ
sợi trở đi” (yarn forward). Điều này gây khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam bởi
hiện tại ngành dệt may nước ta đang phụ thuộc quá nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu
từ Trung Quốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN - những nước không tham gia TPP.
Hiện nay Việt Nam chỉ đáp ứng được trên dưới 30% các nguyên phụ liệu sản xuất, còn
lại còn khoảng 70% đểu phải phụ thuộc vào viêc nhập khẩu từ nước ngoài. Chính vì
phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nên Việt Nam đang thu
hút nhiều vốn FDI trong lĩnh vực dệt may. Theo thống kê, năm 2014, đã có gần 20 dự
án FDI mới đầu tư vào lĩnh vực dệt may, trong đó phần lớn là các doanh nghiệp đến từ
Trung Quốc, Đài Loan và Hong Kong. Riêng đối với các doanh nghiệp Trung Quốc,
Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 23


quyết định chuyển hướng đầu tư này được coi là một bước đi khôn ngoan, bởi điều
này sẽ giúp các doanh nghiệp nước này có được giấy chứng nhận hàng hóa "Made in
Vietnam", từ đó được hưởng mức thuế suất cực kỳ ưu đãi thay vì mức thuế suất 37%
khi vào thị trường Mỹ mà hàng "Made in China" hiện đang phải gánh chịu. Điều này
đồng nghĩa với việc sẽ khiến các doanh nghiệp trong nước của Việt Nam gặp khó khăn
lớn bởi các sản phẩm có thương hiệu từ Việt Nam "thật" sẽ không thể cạnh tranh về
giá so với các doanh nghiệp Trung Quốc khi xuất khẩu.
Thứ hai, là thách thức về xu hướng đầu tư rất nhanh và mạnh của các nhà đầu
tư nước ngoài với lợi thế cả về tài chính, công nghệ và thị trường đều vượt xa so với
các doanh nghiệp Việt Nam. Khi nội dung của Hiệp định đã được thông qua, biết rõ
mốc thời gian có thể thu được lợi ích từ Hiệp định tại Việt Nam thì lập tức các nhà đầu
tư nước ngoài sẽ đầu tư vào Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp 100% Việt Nam sẽ rơi
vào thế yếu vì doanh nghiệp Việt yếu hơn các doanh nghiệp nước ngoài về mọi mặt.
Thứ ba, mặt yếu của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay là năng suất lao động
thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực cũng như các nước trên toàn cầu. Chỉ số

giá trị gia tăng. Cần tập trung đẩy mạnh việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ
cho ngành để sản xuất nguyên liệu trong nước, thay thế nguyên liệu nhập khẩu, ngành
thiết kế cần được củng cố và nâng cấp. Ngành dệt may phải có quy hoạch vùng nguyên
liệu. Hiện nay, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) đang xây dựng 4 khu công
nghiệp dệt, nhuộm tại các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Long An và Trà Vinh nhằm
khuyến khích doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu cho
ngành dệt may.
2. Về quy mô xuất khẩu

Muốn đẩy mạnh được khu vực sản xuất nguyên liệu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thì
vấn đề tiên quyết là phải tăng được quy mô xuất khẩu. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải
chú ý một số vấn đề:
 Đổi mới công nghệ

Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là nhân tố đóng vai trò quyết định đối với sự
phát triển của ngành dệt may. Tập trung các dự án đầu tư mới, với quy mô đủ lớn, đủ
tiềm lực về vốn để tiếp cận công nghệ hiện đại tiên tiến nhất.
 Cung ứng đạt tiêu chuẩn khách hàng

Các công ty của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn sản xuất theo tiêu chuẩn. Tuy
nhiên, trở thành nhà cung ứng đạt chuẩn vẫn đang còn nhiều vấn đề lớn mà các doanh
nghiệp cần cố gắng hơn nữa. Muốn như vậy, uy tín của doanh nghiệp với khách hàng
Tiểu luận Kinh tế Vĩ mô 2 – Nhóm 10

Page 25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status