Tiểu luận: KINH TẾ VĨ MÔ Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998 2012 - Pdf 20

2013
- Nhóm 03- K22 D4-
Họ tên STT
1. Lê Vũ Ngọc Anh 02
2. Trần Công Danh 14
3 Hoàng Thị Khánh Hội 39
4. Trần Thị Tuyết Nga 64
5. Nguyễn Lâm Phú76
6.Trần Ngọc Uyên Phương 80
7.Lê Ngọc Thanh Thảo94
[Tiểu
“Tác động của lạm phát
đến tăng trưởng kinh tế
Việt Nam giai đoạn 1998
- 2012”
GVHD: TS. TRẦN THỊ BÍCH DUNG
Nhóm trưởng: 0947955622
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
MUÏC LUÏC
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 2
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MƠ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
LỜI MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề cơ bản trong kinh tế vĩ mơ. Sự tác
động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát hết sức phức tạp và khơng phải lúc nào
cũng tn theo những qui tắc kinh tế .
Việc xác định mối quan hệ tăng trưởng kinh tế và lạm phát đã và đang thu hút sự
chú ý của nhiều nhà kinh tế. Mục đích chính là phân tích để khẳng định và tiến tới xác lập
mối quan hệ định hướng giữa tăng trưởng kinh tế với lạm phát và có thể sử dụng lạm phát
là một trong các cơng cụ quản lý kinh tế vĩ mơ. Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì đương

xăng, xe ô tô, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất tăng”.
• Milton Friedmen thì quan niệm: “ lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài”. Ông cho
rằng lạm phát luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền tệ”. Ý kiến đó của ông đã được
đa số các nhà kinh tế thuộc phái tiền tệ và phái Keynes tán thành.
1.1.2. Phân loại:
1.1.2.1. Căn cứ vào mức độ lạm phát:
• Lạm phát vừa phải: là lạm phát một con số, chỉ số lạm phát dưới 10%. Lạm phát vừa
phải làm cho giá cả biến động tương đối. Trong thời kỳ này, nền kinh tế hoạt động bình
thường, đời sống của người dân ổn định. Sự ổn định đó được biểu hiện là giá cả tăng chậm,
lãi suất tiền gửi và tiền vay không tăng cao, không xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ
hàng hóa với số lượng lớn.
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 4
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
• Lạm phát phi mã: lạm phát với 2 hoặc 3 con số một năm. Ở mức phi mã lạm phát làm cho
giá cả tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế. Lúc này người dân tích trữ
hàng hóa, vàng bạc và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất thông thường. Loại này
khi đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
• Siêu lạm phát: xảy ra khi lạm phát tăng lên với tốc độ cao vượt xa lạm phát phi mã, tốc độ
lưu thông tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng rất nhanh, tiền lương thực tế giảm mạnh,
tiền tệ mất giá nhanh chóng, các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm
vào tình trạng rối loạn.
1.1.2.2. Căn cứ vào định tính:
• Lạm phát dự đoán trước được và lạm phát bất thường:
* Lạm phát dự đoán trước : là loại lạm phát xảy ra hàng năm trong một thời kì
tương đối dài và tỷ lệ lạm phát ổn định đều đặn, có thể dự đoán trước được tỷ lệ trong các
năm tiếp theo. Do đó người dân đã có sự chuẩn bị trước, không gây ảnh hưởng đến đời
sống, kinh tế .
* Lạm phát bất thường: xảy ra đột biến mà có thể từ trước chưa xuất hiện.Loại

biểu thị bằng số tuyệt đối (quy mô tăng trưởng) hoặc bằng số tương đối (tỷ lệ tăng trưởng)
– đó là tỷ lệ phần trăm giữa sản lượng tăng thêm của thời kỳ nghiên cứu so với mức sản
lượng của thời kỳ trước đó hoặc kỳ gốc.
Tăng trưởng kinh tế còn được xem xét dưới góc độ chất lượng, thể hiện ở sự phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế.
1.2.2. Các công cụ phản ánh
Các nhà kinh tế sử dụng số liệu về GDP – một chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của
mọi người dân trong nền kinh tế .
Mô hình tăng trưởng kinh tế: Mô hình solow chỉ ra ảnh hưởng của tiết kiệm, tỷ lệ
tăng dân số và tiến bộ công nghệ với sự tăng trưởng theo thời gian của sản lượng. Mô hình
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 6
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
còn xác định một vài nguyên nhân gây ra sự khác biệt lớn về mức sống giữa các nước.Sự
tăng trưởng kinh tế của các nước không phải lúc nào cũng dương mà trong thời kì khủng
hoảng,nền kinh tế suy thoái thì mức tăng trưởng kinh tế sẽ đạt giá trị âm.
1.3. MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ:
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội luôn tồn tại song song với
nhau.Tỷ lệ lạmphát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hoá chung tăng lên mà tiền lương danh nghĩa
của cáccông nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ giảm đi. Để tồn tại các công
nhân sẽ tổ chức đấu tranh, bãi công đòi tăng lương và khiến cho sản xuất trì trệ dẫn đến nền
kinh tế gặp nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm.Khi nềnkinh tế găp khó khăn,
suy thoái sẽ làm thâm hụt ngân sách và đó là nguyên nhân gây ra lạm phát. Khi lạm phát tăng
cao gây ra siêu lạm phát làm đồng nội tệ rớt giá rất nhanh, khi đó người dân sẽ ồ ạt bán nội tệ
để mua ngoại tệ. Tệ nạn tham nhũng tăng cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình trạng đầu
cơ trái phép tăng nhanh, trốn thuế và thuế khôngthu được đã gây ra tình trạng nguồn thu của
nhà nước bị tổn hại nặng nề càng làm cho thâm hụt ngân sách trầm trọng dẫn đến tỷ lệ lạm
phát cao.
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012

Nhìn chung, những nguyên nhân gây ra lạm phát ở Việt Nam không nằm ngoài
khuôn khổ lý thuyết. Nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở nước ta giai đoạn 1998-2008
được cho là do cung tiền và do chi phí đẩy.
 Lạm phát do chi phí đẩy:
Đây là nguyên nhân dễ nhận thấy đối với lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1998-
2008. Với một nền kinh tế khá mở, kim ngạch nhập khẩu lên đến 90% GDP (2008), sự biến
động của giá cả trên thế giới tác động ngay đến giá cả trong nước. Năm 2007 và nửa đầu
năm 2008, giá cả của hầu hết các mặt hàng trên thế giới biến động mạnh, đặc biệt là giá dầu
thô, lương thực, thực phẩm và các nguyên liệu trong sản xuất công nghiệp. Sự tăng giá của
hầu hết các hàng hóa trong nước góp phần làm cho lạm phát ở Việt Nam bùng phát.
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 9
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Tuy nhiên, nguyên nhân do chi phí tăng lên của hầu hết các hàng hóa trên thế
giới không thể giải thích hoàn toàn cho lạm phát ở Việt Nam. Vì hầu hết các hàng hóa
trên thế giới đều cùng chịu một sự tăng giá như nhau nhưng một số nước khác không có
mức lạm phát cao như Việt Nam. Như vậy ngoài nguyên nhân do sự tăng giá của các
hàng hóa (lạm phát do chi phí đẩy) nguyên nhân rất quan trọng gây nên bùng nổ lạm
phát ở Việt Nam chính là lạm phát do nguyên nhân cung tiền.
Lạm phát ở một số quốc gia 2007-2009:
(Chịu sự tăng giá của hàng hóa trên thế giới như nhau nhưng lạm phát ở Việt Nam cao hơn
nhiều so với các quốc gia khác).
 Lạm phát do cung tiền:
Trong thời gian qua, cung tiền được mọi người xem là nguyên nhân căn bản gây
nên lạm phát ở Việt Nam, sau đây chúng ta xem xét yếu tố này.
Sau khi chính thức gia nhập WTO vào năm 2007, Việt Nam được cộng đồng
quốc tế đánh giá cao về tiềm năng phát triển. Vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng
lên nhanh chóng. Năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp (FDI) giải ngân lên tới 8 tỷ USD, năm
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012

tương ứng. Giá hàng hóa, nguyên liệu, dầu thô của thế giới cũng gia tăng trong thời gian gần
đây.
Trên đây là những nguyên nhân có tính chất ngắn hạn và không thể giải thích được
cho việc lạm phát ở Việt Nam liên tục cao trong nhiều năm qua và vượt trội so với hầu hết
các nước trên thế giới. Chẳng hạn lạm phát của Việt Nam trung bình tăng 8.8% trong 10 năm
qua, trong khi đó Thái Lan chỉ tăng 2.7%, Trung Quốc tăng 2.1%.
• Nguyên nhân dài hạn:
Nguyên nhân khiến lạm phát cao, kéo dài ở Việt Nam là do cơ cấu và nền kinh tế
vận hành kém hiệu quả.
Tỷ lệ đầu tư trong nền kinh tế trong 10 năm trở lại đây trung bình khoảng 41%
GDP, trong khi đó các quốc gia khác chỉ từ 25 - 30% GDP. Điều đáng lưu ý là với tỷ lệ đầu tư
cao như vậy nhưng tăng trưởng GDP hàng năm chỉ đạt trung bình khoảng 7%, đưa hệ số
ICOR trong 10 năm qua lên tới 5.71 lần.
Với tỷ lệ cao như vậy, nền kinh tế luôn đòi hỏi một tốc độ tăng trưởng tín dụng và
cung tiền rất cao. Tăng trưởng tín dụng trong 10 năm qua luôn duy trì quanh mức 30%, tăng
trưởng cung tiền cũng ở mức tương ứng. Tỷ lệ này cao hơn mức trung bình khoảng 10 - 15%
ở các nước trong khu vực.
Tăng trưởng tiền lưu thông trong nền kinh tế vượt trội so với tăng trưởng hàng hóa sản
xuất ra là nguyên nhân chính khiến lạm phát cao và kéo dài ở Việt Nam. Đây là nguyên nhân
có tính cơ cấu và khó có thể có sự thay đổi đáng kể trong ngắn hạn.
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 12
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Nguồn : Vietnam Investment Review.
Tiền đồng bị mất giá tổng cộng 11.17% từ tháng 11/2009. Nguyên nhân chủ yếu là
tài khoản vãng lai bị thâm hụt lớn, lòng tin vào đồng nội tệ suy giảm và tình trạng đô la hóa
nền kinh tế gia tăng.
Kể từ năm 2008 đến nay, tỷ giá luôn là một vấn đề nóng của nền kinh tế. Tỷ giá
USD/VND từ mức khoảng 16,500 vào cuối năm 2006 đã tăng vọt lên mức 21,500

c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
Ở vị trí các nhà sản xuất, khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầuvào và đầu ra biến
động không ngừng gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất.Sự mất giá của đồng tiền
làm cho vô hiệu hoá hoạt động hoạch toán kinh doanh.Hiệu quả sản xuất – kinh doanh ở một
vài doanh nghiệp có thể thay đổi gây ra những biến động về kinh tế.Nếu một doanh nghiệp
nào đó có tỷ suất lợi nhuận thấp hơn lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.Tuy nhiên, xét ở
góc độ nào đó, khi tỷ lệ lạm phát thấp, không gây ảnh hưởng đến kinh tế thì có thể sẽ kích
thích tăng trưởng kinh tế.Từ đó sẽ khuyến khích các doanh nghiệp đi vay để mở rộng sản
xuất, sản lượng sẽ tăng lên. Ngoài ra cũng khuyến khích tiêu dùng, cầu tiêu dùng tăng lên, do
đó hàng hoá bán chạy và cũng làm sản lượng tăng.
2.2.2. Đối với lĩnh vực lưu thông:
Lạm phát tăng lên cao thúc đẩy quá trình đầu cơ tích trữ dẫn đến khan hiếm hàng
hoá. Lúc này những người thừa tiền và giàu có dùng tiền của mình để vơ vét và thu gom
hàng hoá, tài sản, tình trạng này càng làm mất cân đối nghiêm trọng quan hệ cung – cầu hàng
hoá trên thị trường giá cả hàng hoá tăng lên nhiều hơn.
Ngoài ra khi tỷ lệ lạm phát khó phán đoán thì việc đầu tư vốn vào lĩnh vực sản xuất
sẽ gặp phải những rủi ro cao do đó có nhiều người tham gia.Tiền vừa ở trong tay người bán
hàng xong lại nhanh chóng bị đẩy vào kênh lưu thông, tốc độ lưu thông tiền tệ tăng vọt và
điều này làm thúc đẩy lạm phát gia tăng.
2.2.3. Đối với lĩnh vực tiền tệ,tín dụng:
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng, thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số tiền
người gửi tiền vào ngân hàng giảm đi rất nhiều do giá trị đồng tiền bị giảm xuống.Về phía hệ
thống ngân hàng, do lượng tiền gửi vào ngân hàng giảm mạnh nên không đáp ứng được nhu
cầu của người đi vay, cộng với việc sụt giá quá nhanh của đồng tiền, sự điều chỉnh lãi suất
tiền gửi không làm an tâm những cá nhân, doanh nghiệp hiện đang có lượng tiền mặt nhàn
rỗi trong tay. Như vậy ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn, hệ thống ngân hàng
phải luôn cố gắng duy trì mứclãi suất ổn định. Mà lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 15

Trang 16
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
tập trung nghiên cứu xác định mức lạm phát tối ưu. Kết quả Khan đã tìm ra mức lạm phát tối
ưu đối với các nước vùng Trung Đông và Trung Á là khoảng 3.2%.
Học thuyết kinh tế vĩ mô đã khẳng định, nếu sản lượng thực tế vượt sản lượng tiềm
năng sẽ làm lạm phát gia tăng. Thực tế 2005-2006 lạm phát thế giới gia tăng, ngoài nguyên
nhân giá dầu còn do nền kinh tế nhiều nước phát triển quá nóng.
Lạm phát của Việt Nam gia tăng trong mấy năm gần đây, phải chăng cũng có chịu
ảnh hưởng bởi sự gia tăng sản lượng vượt mức tiềm năng? Theo đánh giá của IMF(2006) về
các nguyên nhân làm tăng lạm phát ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 2005 có dấu hiệu bởi sự gia
tăng sản lượng vượt mức tiềm năng (những năm trước đó mối quan hệ này là không nhất
quán và không rõ nét).
Sử dụng mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, một số nước đã sử dụng
lạm phát cao để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu kinh tế cho
rằng, đây là giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng kém bền vững, hay còn nói
đó là giải pháp tăng trưởng “ bong bóng”.
Xu hướng các nước phát triển chọn giải pháp tăng trưởng kinh tế thực chất, đó là
dựa trên cơ sở giá cả ổn định ở mức thấp. Căn cứ biện luận cho giải pháp này là: Trong nền
kinh tế thị trường, lạm phát ổn định thì tính dự báo được nâng cao. Điều đó giúp các nhà đầu
tư có thể xây dựng được các phương án đầu tư hiệu quả. Đối với người tiêu dùng không phải
lo cân nhắc các mặt hàng khác để thay thế do gia tăng. Tất cả điều đó đã góp phần thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế thực chất. Hiện nay, các nước phát triển chọn mức lạm phát gần 2% là
mức tối ưu cho tăng trưởng. Tuy nhiên cũng phải hiểu rằng, lạm phát ổn định chỉ là điều kiện
đủ cho tăng trưởng kinh tế, còn điều kiện cần cho tăng trưởng phải là vấn đề của Chinh phủ
trong việc phát triển nguồn lực, vốn và công nghệ kỹ thuật
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 17
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung

Trong năm 2013, các chỉ tiêu chủ yếu của Việt Nam gồm: GDP tăng khoảng 5,5%,
CPI khoảng 8%, bội chi ngân sách nhà nước không quá 4,8% GDP, tỷ lệ nhập siêu khoảng
8%, kim ngạch xuất khẩu tăng 10%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%, tạo việc
làm cho khoảng 1,6 triệu lao động…
Bên cạnh đó, mục tiêu lớn hàng đầu là đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn
với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội và phúc
lợi xã hội. Đây là những nhiệm vụ không dễ dàng trong điều kiện nền kinh tế phải giải quyết
những tồn tại cũ như nợ xấu khu vực ngân hàng, tồn kho và co hẹp sản xuất của các DN.
Những với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, kỳ vọng chúng ta sẽ đạt được mục tiêu đề ra nói
trên…
3.1.3. Nhất quán điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa đồng bộ, chặt chẽ.
Trước hết, trong năm 2013, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ, tài
khóa đồng bộ, chặt chẽ; thực hiện nghiêm việc cắt giảm và quản lý tốt đầu tư công; tạo thuận
lợi cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ có chọn lọc cho những ngành, lĩnh vực quan trọng và các
DN hoạt động có hiệu quả, có lợi thế canh tranh. Trong các năm tới, cần tập trung chỉ đạo và
tổ chức triển khai thực hiện tốt các định hướng, giải pháp nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng,
cơ cấu lại nền kinh tế.
Thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng
chất lượng, hiệu quả
Cơ cấu lại nền kinh tế phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng
cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phải thực hiện đồng bộ trong tất cả các ngành,
lĩnh vực trên phạm vi cả nước và từng địa phương, đơn vị cơ sở trong nhiều năm. Ưu tiên
việc tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng là: Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công;
cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại
(NHTM) và các tổ chức tài chính; tái cơ cấu DN nhà nước (DNNN) mà trọng tâm là các tập
đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 19
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung

April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
3.2. GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
3.2.1. Các giải pháp kiểm soát lạm phát chủ yếu:
3.2.1.1. Giải pháp tình thế:
Những biện pháp này được áp dụng với mục tiêu giảm tức thời “cơn sốt lạm phát”
trên cơ sở đó sẽ áp dụng các biện pháp ổn định tiền tệ lâu dài. Các biện pháp tình thế này
thýờng ðýợc chính phủ các nýớc áp dụng khi nền kinh tế lâm vào tình trạng siêu lạm phát.
Thứ nhất: Giảm lượng tiền giấy trong nền kinh tế như ngừng phát hành tiền vào lưu
thông. Biện pháp này còn gọi là chính sách đóng băng tiền tệ. Tỷ lệ lạm phát tăng cao ngay
lập tức ngân hàng trung ương phải dừng các biện pháp có thể đưa đến tăng cung ứng tiền tệ
như ngừng thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu đối với các tổ chức tín dụng,
dừng việc mua vào các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền tệ,không phát hành tiền bù
đắp bội chi ngân sách. Nhà nước áp dụng các biện pháp làm giảm lượng tiền cung ứng trong
nền kinh tế như: ngân hàng trung ương bán ra các chứng khoán ngắn hạn trên thị trường tiền
tệ, bán ngoại tệ và vàng, phát hành các công cụ nợ của chính phủ để vay tiền trong nền kinh
tế bù đắp cho bội chi ngân sách nhà nước, tăng lãi suất tiền gửi đặc biệt là tăng lãi suất tiền
gửi tiết kiệm. Các biện pháp này rất có hiệu lực vì trong một thời gian ngắn nó có thể giảm
bớt được một khối lượng khá lớn tiền nhàn rỗi trong dân cư do đó giảm được sức ép lên giá
cả hàng hoá và dịch vụ trên thị trường.
Thứ hai:thi hành chính sách tài chính thắt chặt như tạm hoãn những khoản chi chưa
cần thiết trong nền kinh tế, cân đối lại ngân sách và cắt giảm chi tiêu đến mức có thể được.
Thứ ba: tăng quỹ hàng hoá tiêu dùng để cân đối với số lượng tiền có trong lưuthông
bằng cách khuyến khích tự do mậu dịch, giảm nhẹ thuế quan và các biện pháp cần thiết khác
để thu hút hàng hoá từ ngoài vào.
Thứ tư : đi vay và xin viện trợ từ nước ngoài.
Thứ năm: cải cách tiền tệ, đây là biện pháp cuối cùng khi các biện pháp trên chưa
đem lại hiệu quả mong muốn.
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 21
c

Điều hành tỷ giá theo tín hiệu thị trường, bảo đảm giá trị đồng tiền Việt
Nam; khẩn trương hoàn thiện cơ chế quản lý, ổn định thị trường vàng, bảo đảm giá
vàng trong nước sát với giá vàng quốc tế; thực hiện các biện pháp đồng bộ để cải
thiện cán cân thanh toán quốc tế và tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước.
Mở rộng các hình thức thanh toán qua ngân hàng và thanh toán không
dùng tiền mặt trong nền kinh tế; tiếp tục triển khai có hiệu quả đề án đẩy mạnh
thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2011 - 2015 theo Quyết định số 2453/QĐ-
TTg ngày 27 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Cơ bản hoàn thành việc cơ cấu lại các tổ chức tài chính, tín dụng yếu kém;
kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tài chính, ngân
hàng; hỗ trợ phát triển lành mạnh thị trường chứng khoán.
3.2.2.2. Thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ, triệt để tiết
kiệm:
Tập trung thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp về ngân sách nhà nước,
bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ thu, chi theo dự toán đã được Quốc hội quyết định.
Phấn đấu tăng thu, triệt để tiết kiệm chi để tạo nguồn xử lý các nhiệm vụ chi cấp thiết
phát sinh, giữ bội chi ngân sách nhà nước không quá 4,8%GDP.
Tăng cường công tác chống thất thu, xử lý nợ đọng thuế, chống chuyển giá;
đẩy mạnh kiểm tra, thanh tra thuế, nhất là các lĩnh vực, khoản thu có khả năng thất
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 23
c
April 10, 2013 [KINH TẾ VĨ MÔ] GVHD: TS. Trần Thị Bích Dung
thu cao; xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu thuế; tăng cường chế tài, thực thi pháp
luật về thuế
Rà soát, quản lý chặt chẽ các khoản chi, bảo đảm trong phạm vi dự toán đã
được cấp có thẩm quyền phê duyệt và theo đúng chế độ quy định
Xây dựng và triển khai dự toán ngân sách nhà nước gắn với chiến lược và định
hướng phát triển trong từng thời kỳ, đảm được thứ tự ưu tiên trong phân bổ nguồn
ngân sách nhà nước đối với từng ngành, lĩnh vực.

3.2.2.4. Tăng cường kiểm soát giá cả, thị trường:
Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiểm tra, thanh tra, giám sát nhằm
theo dõi chặt chẽ diễn biến thị trường trong và ngoài nước, kịp thời áp dụng các biện
pháp điều tiết cung cầu, bình ổn thị trường, nhất là những mặt hàng thuộc diện bình
ổn giá, những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống, không để xảy ra thiếu
hàng, sốt giá.
Thực hiện nhất quán chủ trương quản lý giá theo cơ chế thị trường có sự điều
tiết của Nhà nước đối với điện, than, xăng dầu, dịch vụ công như y tế, giáo dục, cước
vận tải…theo lộ trình với mức độ và thời gian điều chỉnh phù hợp để bảo đảm mục
tiêu kiểm soát lạm phát.
Tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998-2012
Trang 25
c


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status