ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HỒNG DUNG
C¥ CHÕ H¶I QUAN MéT CöA T¹I VIÖT NAM
THEO CAM KÕT CñA HIÖP §ÞNH VÒ X¢Y DùNG
Vµ THùC HIÖN C¥ CHÕ MéT CöA ASEAN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ HỒNG DUNG
C¥ CHÕ H¶I QUAN MéT CöA T¹I VIÖT NAM
THEO CAM KÕT CñA HIÖP §ÞNH VÒ X¢Y DùNG
Vµ THùC HIÖN C¥ CHÕ MéT CöA ASEAN
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60 38 01 08
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN TIẾN VINH
HÀ NỘI - 2015
1.1.1. Khái niệm ............................................................................................. 6
1.1.2. Nội dung của Cơ chế hải quan một cửa ASEAN ............................... 12
1.1.3. Điều kiện để thực hiện Cơ chế hải quan một cửa ASEAN ................ 21
1.2.
Sự cần thiết phải xây dựng và thực hiện Cơ chế hải quan một
cửa ASEAN ....................................................................................... 22
1.2.1. Tăng cường hiệu quả hoạt động của cơ quan Hải quan ..................... 22
1.2.2. Tạo thuận lợi cho thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài ............. 24
1.2.3. Thực hiện các cam kết quốc tế ........................................................... 26
1.3.
Cơ sở pháp lí để xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN..... 30
1.3.1. Cơ sở pháp lí chung của khối ASEAN .............................................. 30
1.3.2. Cơ sở pháp lí để xây dựng và thực hiện Cơ chế hải quan một cửa
quốc gia tại Việt Nam......................................................................... 34
Chương 2: THỰC TIỄN XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CƠ CHẾ
HẢI QUAN MỘT CỬA ASEAN .................................................... 36
2.1.
Thực tiễn xây dựng và thực hiện Cơ chế hải quan một cửa
quốc gia tại một số quốc gia thành viên ASEAN........................... 36
2.1.1. Nhóm các nước ASEAN - 6 ............................................................... 36
2.1.2. Nhóm các nước ASEAN-4 ................................................................. 49
Viết tắt
Tiếng Anh
Tiếng việt
APEC
Asia-Pacific
Cooperation
ASEM
Asia-Europe Meeting
Hội nghị cấp cao Á - Âu
ASW
ASEAN Single Windows
Cơ chế một cửa ASEAN
C/O
Certificate of Orgin
Giấy chứng nhận xuất xứ
hàng hóa
OECD
Organisation for Economic Tổ chức phát triển và hợp
Cooperation and Development tác kinh tế
Economic Diễn đàn Hợp tác Kinh tế
châu Á - Thái Bình Dương
TradeNet
UN
Hệ thống một cửa điện tử
của Singapore
United Nation
Liên hợp quốc
VNACCS/VCIS Vietnam Automated Cargo Hệ thống thông quan tự
Clearence System/Vietnam động của Việt Nam
Intelligent System
WCO
Word Customs Organization
Tổ chức Hải quan thế giới
WTO
World Trade Organization
Sơ đồ 1.1: Mô hình mang tính khái niệm của Cơ chế một cửa
Trang
7
ASEAN
Sơ đồ 1.2: Dòng xử lý thông tin mẫu của Cơ chế một cửa
8
ASEAN
Sơ đồ 1.3: Mô hình mang tính khái niệm của Cơ chế một cửa
9
quốc gia
Sơ đồ 1.4: Nhập khẩu bằng đường hàng không
17
Sơ đồ 1.5: Mô hình xuất khẩu
18
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đang hướng tới dấu mốc
mới có ý nghĩa lịch sử trọng đại sau gần 5 thập kỷ phát triển (1967) đó là việc
ASEAN theo đúng lộ trình cam kết. Giai đoạn triển khai thực tế được thực
hiện trong nửa cuối năm 2011 - căn cứ vào quyết định số 48/2011/QĐ-TTG
của thủ tướng Chính phủ ngày 31/8/2011 về việc thí điểm thực hiện Cơ chế
hải quan một cửa quốc gia. Hiện nay các nước thành viên ASEAN đã thực
hiện xong quá trình đàm phán và đưa ra Nghị định thư về khung pháp lý thực
hiện Cơ chế một cửa ASEAN. Việt Nam dự kiến sẽ phê duyệt Hiệp định này
vào tháng 12/2015.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế việc tạo thuận lợi cho thương
mại Quốc tế của Việt nam chưa đáp ứng được yêu cầu, việc xây dựng Cơ chế
hải quan một cửa cũng xuất phát từ thực tiễn các giao dịch thương mại quốc
tế và quá trình thông quan ở các nước thành viên có sự khác biệt, dẫn đến các
yêu cầu về dữ liệu phục vụ cho quản lý thương mại và thông quan hàng hoá
khác nhau. Doanh nghiệp phải khai báo lại nhiều lần các tiêu chí thông tin
(khoảng 60-70% các tiêu chí thông tin) trong khi làm thủ tục với các Bộ
ngành chức năng trong nước [3]. Nếu giao dịch được thực hiện trong phạm vi
khu vực, thì thời gian và chi phí giao dịch cũng sẽ tăng theo cùng số lần khai
báo lại các tiêu chí thông tin này [3]. Trong khi khối lượng giao dịch thương
mại ở cấp độ quốc gia và khu vực không ngừng gia tăng nhanh chóng. Từ đó
đặt ra nhu cầu phải thống nhất các yêu cầu quản lý, đơn giản và hài hoà thủ
tục, cải cách mạnh mẽ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan và chủ thể liên quan
đến quá trình thông quan hàng hoá trong mỗi quốc gia, sau là trong khu vực.
Cơ chế một cửa ASEAN, mà giai đoạn đầu là các Cơ chế một cửa quốc gia
chính là giải pháp và là mục tiêu mà các thành viên ASEAN hướng tới để giải
quyết những vấn đề trên.
2
Cơ chế hải quan một cửa vừa có tính chất linh hoạt trong Cơ chế một
cửa chung của quốc gia, vừa có tính thích ứng chung với hải quan các nước
trong khu vực. Với lý do và ý nghĩa nêu trên, nhằm góp phần vào thực hiện
3.2. Mục tiêu cụ thể
- Bổ sung cơ sở lý luận về Cơ chế hải quan một cửa Việt Nam và một
cửa ASEAN cho phát triển kinh tế của Việt Nam.
- Nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia của một
số nước thành viên ASEAN nhằm giúp hoàn thiện Cơ chế một cửa quốc gia
tại Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng Cơ chế hải quan một cửa tại Việt Nam trong thời
gian qua để tìm ra những kết quả, hạn chế và nguyên nhân làm cơ sở thực tiễn
cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện Cơ chế hải quan một cửa quốc gia
tại Việt Nam.
- Đề xuất quan điểm, định hướng và một số giải pháp thực hiện Cơ chế
hải quan một cửa quốc gia tại Việt Nam trong thời gian tới đồng thời nhằm
thực hiện các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định về xây dựng
và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN.
4. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đề tài được lựa chọn không chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu những vấn
đề lý luận và thực tiễn của cơ chế hải quan một cửa quốc gia Việt Nam và một
cửa ASEAN mà còn nêu lên được những đánh giá, phân tích những cơ hội và
thách thức trên cơ sở nghiên cứu về thực trạng, kinh nghiệm xây dựng cơ chế
một cửa quốc gia và một cửa ASEAN từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn
thiện các quy định pháp luật để thực hiện có hiệu quả cơ chế hải quan một cửa
của Việt Nam và một cửa ASEAN
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cơ chế hải quan một cửa quốc gia Việt Nam
hướng tới kết nối với Cơ chế một cửa ASEAN.
4
Phạm vi nghiên cứu: Những quy định của pháp luật Việt Nam và Điều
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện Cơ chế hải quan một
cửa quốc tại Việt Nam
5
Chương 1
CƠ SỞ XÂY DỰNG
VÀ THỰC HIỆN CƠ CHẾ HẢI QUAN MỘT CỬA ASEAN
1.1. Khái niệm Cơ chế hải quan một cửa ASEAN
1.1.1. Khái niệm
Khái niệm Cơ chế một cửa đã được các quốc gia thành viên của Tổ
chức thương mại thế giới (WTO) đưa ra bàn luận trong các cuộc thương
thuyết. Cũng như vậy các thành viên của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO),
Ban thư ký của tổ chức Hải quan thế giới (WCO) và cả ngành Hải quan cùng
với nhiều tổ chức Chính phủ và quốc tế đã dành nhiều thời gian và nguồn lực
để phát triển khái niệm Cơ chế một cửa. Tuy nhiên hiện nay không có một sự
hiểu biết nhất quán chung về khái niệm này.
Theo Trung tâm nghiên cứu về tạo thuận lợi thương mại và thương mại
điện tử của Liên hợp quốc, Cơ chế một cửa được định nghĩa như sau: “Cơ
chế một cửa là công cụ cho phép các bên tham gia vào hoạt động thương
mại và vận tải nộp chứng từ và thông tin chuẩn hóa cho các cơ quan chính
phủ dựa trên quy định liên quan đến XK, NK quá cảnh thông qua một điểm
tiếp nhận duy nhất. Trường hợp thông tin được gửi dưới dạng điện tử thì
thông tin chỉ cần gửi một lần” [15]; [29].
Khái niệm Một cửa cũng được định nghĩa theo quy định của pháp luật
Việt Nam trong Quyết định số 181/2003/QĐ-TTg về quy chế thực hiện Cơ
chế một cửa tại các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương ngày 04 tháng
9 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ: “Một cửa là cơ chế giải quyết công
Malaysia
Philippines
Myanmar
Nguồn: Nghị định thư về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN
Theo khái niệm rộng, Cơ chế một cửa ASEAN hoạt động trong môi
trường mà các đặc điểm của nó bao gồm việc kết nối và đồng bộ hoá không
ngừng của các quy trình và tiêu chí thông tin được tiêu chuẩn hoá bởi các bên
liên quan (Chính phủ và doanh nghiệp). Quá trình xử lý mang tính khái niệm
và mối quan hệ chức năng trong Mô hình mang tính khái niệm của Cơ chế
một cửa ASEAN như sau:
7
Sơ đồ 1.2: Dòng xử lý thông tin mẫu của Cơ chế một cửa ASEAN [9]
Hải quan
Tờ khai hải quan/
thuế
Tờ khai hải quan/
thuế
Cơ quan
Chínhphủ
Ngân hàng
Cơ quan
Chínhphủ
Cơ chế
một cửa
quốc gia
“B”
Nộp thuế
Bản lược khai
/tàu/chuyến
bay/Thông tin xử lý
Chứng từ
thương mại
Ngân hàng
và bảo hiểm
Cộng đồng
vận tải
Cộng đồng
doanh nghiệp
Nguồn: Nghị định thư về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN
Như vậy, Cơ chế một cửa ASEAN sẽ là môi trường kết nối bảo mật,
BỘ/ NGÀNH
Trung gian
Trung gian
CƠ CHẾ THỦ TỤC
HQ MỘT CỬA CẤP
QUỐC GIA
HẢI QUAN
Trung gian
ASEAN/KẾT NỐI
QUỐC TẾ
Trung gian
CỘNG ĐỔNG
DOANG NGHIỆP
VẬN TẢI
Nguồn: Nghị định thư về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN
Với mô hình nêu trên cho thấy tại Việt Nam Cơ chế hải quan một cửa
quốc gia thể hiện mối liên kết giữa sáu thành phần chính trong hoạt động vận
tải và thương mại quốc tế bao gồm: i) Cơ quan hải quan chịu trách nhiệm về
thông quan và giải phóng hàng hoá xuất khẩu/nhập khẩu/quá cảnh, phương
10
Tiêu chí
Cơ chế một cửa quốc gia
Cơ chế một cửa hành chính
Đối
Mối quan hệ giữa doanh nghiệp Các đơn vị trong nội bộ một
tượng
và các chủ thể kinh tế (ngân hàng, cơ quan quản lý với công
vận tải, các hiệp hội ngành dân/doanh nghiệp
nghề…) với hệ thống các cơ quan
chính phủ có liên quan
Phạm vi
Gắn liền, kết nối một loạt các thủ Gắn với từng thủ tục hành
tục, quy định phục vụ hoạt động chính cụ thể và riêng rẽ
thương mại và vận tải quốc tế
Hồ sơ
Tập hợp các yêu cầu về hồ sơ, chứng Từng bộ hồ sơ riêng rẽ do
một cửa tuy nhiên ở đây nhằm nhấn mạnh đến vai trò của cơ quan hải quan
trong việc thực hiện Cơ chế một cửa ASEAN. Vai trò của cơ quan hải quan đã
11
được thể hiện trong Quyết định số Quyết định số 2120/QĐ-TTg ngày
29/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc Thành lập Ban chỉ đạo quốc gia
về Cơ chế một cửa ASEAN và Cơ chế một cửa quốc gia đó là quy định Tổng
cục hải quan là cơ quan đầu mối triển khai Cơ chế một cửa. Việc quy định
Tổng cục hải quan là cơ quan đầu mối để thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia
sẽ rất thuận lợi vì cơ quan hải quan là cơ quan duy nhất tham gia vào mọi giao
dịch thương mại quốc tế, là cơ quan ra quyết định cuối cùng đối với việc
thông quan hàng hoá. Thực tế, đa số các nước thành viên ASEAN đã chỉ định
cơ quan hải quan làm đầu mối về vấn đề này.
Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN vận hành theo
nguyên tắc tạo ra môi trường liên thông giữa các cơ quan của Chính phủ
thành một hệ thống duy nhất. Hệ thống này khi phản hồi công việc với công
dân hay cộng đồng doanh nghiệp chỉ thông qua một cửa duy nhất, các vấn đề
của công dân hay doanh nghiệp giao dịch hệ thống sẽ tự động gửi đến các bộ,
ngành có liên quan. Khi xử lý một vấn đề hệ thống của các bộ ngành sẽ xử lý
đồng thời và hồi đáp lại phía cơ quan giải quyết trên cơ sở ý kiến giải quyết
của tất cả các bộ, ngành.
1.1.2. Nội dung của Cơ chế hải quan một cửa ASEAN
Cơ chế hải quan một cửa ASEAN hướng tới việc thiết lập một môi
trường tiêu chuẩn, đơn giản và khả thi cho thông quan hàng hoá xuất nhập
khẩu trong khu vực và mang lại lợi ích cho tất cả những bên liên quan. Những
lợi ích nhìn thấy ngay đó là giảm thời gian thông quan, giảm bớt các nguồn
lực cần sử dụng của tất cả các bên kể cả cơ quan hải quan để quản lý được sự
lưu chuyển hàng hoá qua biên giới. Cơ chế hải quan một cửa ASEAN áp dụng
các chuẩn mực quốc tế nhằm thuận lợi hoá thương mại đối với các yêu cầu về
dung của Cơ chế hải quan một của ASEAN bao gồm:
13
Thứ nhất Cơ chế hải quan một cửa ASEAN hoạt động trong môi trường
xử lý thông tin hài hoà và tiêu chuẩn hoá bao gồm cả thông tin thương mại và
thông tin quản lý để đẩy nhanh việc giải phóng và thông tin hàng hoá. Nội
dung cốt yếu của Cơ chế hải quan một của ASEAN là việc xuất trình dữ liệu
một lần, xử lý một lần và quyết định một lần để giải phóng và thông quan
hàng hoá;
Thứ hai phạm vi chức năng và hoạt động của Cơ chế hải quan một cửa
ASEAN bao gồm các hoạt động và sự tương tác của 6 cấu phần chính: cộng
đồng doanh nghiệp, Hải quan, các cơ quan chính phủ khác, các nhà kinh
doanh vận tải, ngành ngân hàng, bảo hiểm và những mối liên kết của các cơ
quan này với ASEAN (sự tương tác này đã được thể hiện cụ thể trong mô
hình mang tính khái niệm của Cơ chế hải quan một cửa quốc gia nêu ở trên).
Thứ ba để cấu thành nên Cơ chế hải quan một cửa ASEAN Nghị định
thư về xây dựng và thực hiện cơ chế một cửa ASEAN có đưa ra ba vấn đề
sau: Mô hình thông quan hàng hoá ASEAN; tài liệu về tài liệu tờ khai hải
quan ASEAN; hệ thống mẫu dữ liệu và bộ dữ liệu của WCO, danh mục dữ
liệu thương mại của Liên hợp quốc mà cụ thể:
Mô hình thông quan hàng hoá ASEAN bao gồm 8 biểu đồ giải phóng
hàng hoá. Đây là tám biểu đồ giải phóng hàng hoá thể hiện mối quan hệ chức
năng của các quy trình khác nhau của một chế độ hải quan và các kênh trao
đổi thông tin đối với dữ liệu và thông tin cần thiết để đảm bảo việc ra quyết
định một lần đối với việc giải phóng và thông quan hải quan. Các kênh trao
đổi thông tin này cho phép việc kết nối giữa cơ quan Hải quan và các chủ thể
liên quan với việc ra quyết định một lần hay còn gọi là các cơ quan đơn vị
trung gian như ngân hàng bảo hiểm, cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan bộ
tin về nước nhập khẩu tương ứng, tên đơn vị xuất khẩu tương ứng…., tự động
15
tính toán các chỉ tiêu liên quan đến trị giá, thuế. Tiếp đó trên hệ thống sẽ yêu
cầu các loại chứng từ trong trường hợp hàng hoá thuộc diện hàng hoá xuất
khẩu cần phải có các loại giấy phép con. Sau đó hệ thống sẽ tiến hàng kiểm
tra điều kiện đăng ký tờ khai và phân luồng cho hàng hoá là luồng xanh, vàng
đó và đây chính là quy trình quản lý rủi ro. Nếu tờ khai được phân vào luồng
xanh và trường hợp số thuế phải nộp bằng 0 hệ thống sẽ tự động cấp phép
thông quan, nếu số thuế khác không và người khai khai báo trên hệ thống nộp
thuế ngay bằng chuyển khoản hoặc nộp tiền mặt thì hệ thống xuất ra quyết
định thông quan hàng hoá. Nếu tờ khai được phân vào luồng vàng, đỏ cơ quan
hải quan sẽ thực hiện kiểm tra và xử lý tờ khai, sau đó sử dụng nghiệp vụ và
tiến hành kiểm tra thực tế đối với hàng hoá, sau khi kiểm tra hàng hoá nếu
thuộc trường hợp số thuế phải nộp bằng không hệ thống sẽ tự động cấp phép
thông quan, nếu số thuế khác không người khai phải tiến hành nộp thuế theo
quy định và cho xuất khẩu hàng hoá. Phía nhập khẩu nếu là quốc gia thuộc
thành viên ASEAN sẽ phản hồi xác nhận nhập khẩu trên hệ thống trường hợp
không cho phép nhập khẩu thì sẽ thực hiện quá trình hoàn trả hàng. Sau khi
hàng hoá đã được xuất khẩu thì cơ quan hải quan sẽ tiến hành phúc tập lại hồ
sơ và thông báo trên hệ thống một cửa.
16
Sơ đồ 1.4: Nhập khẩu bằng đường hàng không [9]
Chứng từ trước khi
hàng đến