Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay ngành công nghệ thông tin ở nước ta làm một trong những
ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất. Đối với nước ta hiện nay điều đó
có một ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi vì ngành này đòi hỏi ít vốn mà giá
trị gia tăng mà nó tạo lên lại rất cao. Nó rất phù hợp với điều kiện nước ta
vì nước ta hiện nay còn nghèo và thiếu vốn. Khi ngành công nghệ thông tin
đã phát triển thì nó sẽ là động lực quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế
càng phát triển hơn. Trong thời gian vừa quan chúng ta thấy có những sự
kiện hết sức quan trọng diễn ra trong nghành công nghệ thông tin như: Chủ
tịch tập đoàn phần mềm hàng đầu thế giới Billgate sang thăm Việt Nam,
tập đoàn phần cứng hàng đầu thế giới Intel đầu tư hơn nửa triệu USD vào
nước ta. Điều đó cho thấy nghành công nghệ thông tin của nước ta trong
tương lai sẽ là một ngành hết sức quan trọng. Việt Nam trong tương lai sẽ
là một điểm sáng về công nghệ thông tin.
Tuy nhiên trên thực tế hiện nay hầu hết các công ty công nghệ thông
tin ở Việt Nam còn gặp tương đối nhiều khó khăn trong kinh doanh,
nguyên nhân thì có nhiều nhưng trong thời gian thực tập tại công ty AIT
em thấy một trong những nguyên nhân cơ bản cản trở sự phát triển của
công ty đó là: Khâu lập và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh chưa tốt.
Việc xây dựng Kế hoạch kinh doanh là một vấn đề hết sức phức tạp, đòi
hỏi phải tính đến các vấn đề thuận lợi và khó khăn bên trong và bên ngoài
trên cơ sở chiến lược kinh doanh đã đề ra của công ty sao cho hoạt động
kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao nhất. Trong nền kinh tế thị trường,
để thích ứng với môi trường luôn thay đổi, công ty AIT muốn thành công
cần phải có khả năng ứng phó với mọi tình huống. Điều này đòi hỏi nhà
quản trị phải nắm được những xu thế đang thay đổi, tìm ra những yếu tố
then chốt đảm bảo thành công, biết khai thác những ưu thế, hiểu được
những điểm mạnh, điểm yếu của mình và của các đối thủ cạnh tranh, hiểu
được mong muốn của khách hàng và khả năng đáp ứng của công ty, biết
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 1
được của một số năm gần. Nêu ra một số khó khăn điển hình của công ty
trong giai đoạn hiện nay. Đồng thời cũng làm rõ một số bất cập trong việc
xây dựng và thực hiện kế hoạch, vận dụng vào trường hợp cụ thể là công ty
TNHH AIT. Từ đó đề ra những giải pháp để để nhằm mục đích tháo gỡ
những khó khăn cho công ty TNHH AIT.
Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp thu thập dữ liệu
Thu thập số liệu qua các báo cáo và tài liệu của cơ quan nơi em thực
tập. Chủ yếu là ở các phòng sau, Phòng Hành chính và Phòng Kế toán của
Công ty AIT. Ngoài những dữ liệu sơ cấp thu thập được, em còn sử dụng
các dữ liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo, tài liệu của cơ quan thực tập,
các tạp chí chuyên ngành, thông tin trên báo chí, truyền hình, internet và
các nghiên cứu trước đây.
* Phương pháp phân tích dữ liệu
Chủ yếu em sử dụng một số các phương pháp sau:
Phương pháp tổng hợp số liệu dựa trên: các báo cáo, tài liệu
của cơ quan thực tập, các số liệu thống kê
Phương pháp so sánh: theo thời gian, theo chỉ tiêu…
Phương pháp đồ thị và biểu đồ: bằng hình ảnh, tính chất của
đồ thị để phân tích mối quan hệ, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân
tích.
Phương pháp chuyên gia cùng với việc phân tích các dữ liệu
thu thập được, em còn tham khảo ý kiến của các chuyên gia để đưa ra các
nhận định, rút ra kết luận có tính chính xác hơn
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại công ty TNHH ứng dụng
và phát triển công nghệ thông tin AIT, mặc dù đã có nhiều cố gắng, song
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 3
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
do kiến thức cũng như thực tiễn còn nhiều hạn chế nên bài viết này sẽ
không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự quan tâm góp ý
đối phó được những biến động này từ phía môi trường.
- Lập kế hoạch có ý nghĩa quyết định trong việc liên kết giữa hành động
của các cá nhân trong một tập thể là doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu.
Có kế hoạch, sự liên kết và phối hợp giữa các cá nhân sẽ trở nên chặt chẽ
hơn, từ đây tạo ra sức mạnh liên kết tiến tới mục tiêu.
- Lập kế hoạch là căn cứ cho công tác kiểm tra, thanh tra. Lập kế hoạch
kinh doanh là quá trình xác định các mục tiêu và lựa chọn các phương thức
để đạt được những mục tiêu đó. Không có kế hoạch, nhà quản lý và các
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
nhân viên của họ có rất ít cơ hội để đạt được mục tiêu của mình, không biết
khi nào và ở đâu phải làm gì. Lúc này việc kiểm tra sẽ trở nên rất phức tạp.
Ngoài ra trong thực tế, những kế hoạch tồi cũng ảnh hưởng xấu tới tương
lai của toàn bộ tổ chức.
3. Các loại hình kế hoạch
Kế hoạch được phân theo cấp bao gồm hai cấp kế hoạch cơ bản là:
kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp. Các kế hoạch chiến lược do
những nhà quản lý cấp cao cuả tổ chức thiết kế nhằm xác định những mục
tiêu tổng thể thiết kế nhằm xác định những mục tiêu tổng thể cho tổ chức.
Các kế hoạch tác nghiệp bao gồm những chi tiết cụ thể hoá của các kế
hoạch chiến lược thành những hoạt động hàng năm, hàng quý, hàng tháng,
hàng tuần thậm chí hàng ngày như là kế hoạch phân công, kế hoạch nhân
công, kế hoạch tiến độ, kế hoạch nguyên liệu tồn kho.
Giữa hai loại kế hoạch chiến lược và kế hoạch tác nghiệp, sự khác
biệt chủ yếu trên 3 mặt:
- Thời gian: kế hoạch chiến lược thường cho khoảng thời gian từ 2, 3 năm
trở lên, trong một số trường hợp có thể lên tới 10 năm. Trong khi đó, kế
hoạch tác nghiệp thường chỉ cho một năm trở xuống.
- Phạm vi hoạt động: kế hoạch chiến lược tác động tới các mảng hoạt động
lớn, liên quan đến tương lai của toàn bộ tổ chức. Kế hoạch tác nghiệp chỉ
Đánh giá điểm mạnh và điểm yếu hay còn gọi là phân tích bên trong
trên các giác độ như: nhân sự, tài chính, công nghệ, uy tín, danh tiếng, mối
quan hệ, văn hoá, truyền thống… của tổ chức.
Việc đánh giá này chỉ mang tính tương đối, chủ yếu có sự so sánh
với mặt bằng chung trong ngành.
Trong thực tế, mô hình SWOT được sử dụng khá rộng rãi trong việc
đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và đe doạ của tổ chức, đây cũng
là một công cụ hữu hiệu cho tổ chức trong việc xây dựng và thực thi các kế
hoạch và chiến lược lớn của mình nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
II. NỘI DUNG CỦA XÂY DỰNG KẾ HOẠCH VÀ THỰC HIỆN KẾ
HOẠCH
1. Nội dung của quá trình xây dựng kế hoạch
Quá trình xây dựng kế hoạch kinh doanh trải qua các bước sau:
1.1. Xác định sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức
Sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức được xác định thông qua việc trả
lời câu hỏi “chúng ta là ai ?”, “Mục tiêu định hướng cho chúng ta là gì?”
Những mục tiêu chung này tạo ra những phương hướng rộng lớn cho việc
ra quyết định và nó không thay đổi trong nhiều năm.
1.2. Phân tích những đe dọa và cơ hội, những điểm mạnh và điểm yếu
Chúng ta phải phân tích được các yếu tố của môi trường kinh doanh,
đánh giá các cơ hội và đe dọa có thể có trong tương lai.
Để phân tích cơ hội đe doạ thì chúng ta phải tiến hành phân tích các
yếu tố sau:
Phân tích các y ế u t ố bên ngoài:
Phân tích các yếu tố bên ngoài bao gồm các yếu tố thuộc phạm vi
vĩ mô như kinh tế (lạm phát, lãi suất, tỉ giá…), chính trị luật pháp (các
văn bản pháp luật, chính sách nhà nước), điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng,
khí hậu…), mức độ công nghệ và các yếu tố xã hội của thị trường mục
động
Điểm cộng
dồn
(1) (2) (3) (4) (5)
(1) Liệt kê lần lượt các yếu tố ảnh hưởng đến ngành nói chung và
công ty nói riêng.
(2) Mức độ quan trọng: được đo lường từ 1 (thấp nhất) đến 3 (cao
nhất) cho mỗi yếu tố. Đây là mức tương ứng với mức ảnh hưởng từng yếu
tố đối với ngành.
(3) Phân loại: điểm số chạy từ 1 (thấp nhất) đến 3 (cao nhất) thể hiện
mức độ quan trọng hiện thời của mỗi yếu tố đối với công ty.
(4) Tính chất tác động: có 2 biến cố :trừ (-) yếu tố gây nên nguy cơ
hay là điểm yếu còn (+) tạo nên cơ hội hay điểm mạnh.
(5) Số điểm quan trọng: con số này được tính bằng “mức độ quan
trọng
×
phân loại”, với các yếu tố có điểm âm thì công ty có chính sách
hạn chế, khắc phục, còn điểm dương thì cố gắng phát huy tuỳ theo độ
lớn của số điểm.
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Cụ thể như sau:
Ma trận các y ế u t ố bên ngoài :
Để tổng hợp mức độ quan trọng của các yếu tố bên ngoài đối với
ngành và mức quan trọng các yếu tố này đối với công ty, có thể sử dụng
các ma trận tổng hợp các yếu tố bên ngoài. Từ các ma trận này cho phép
công ty tóm tắt và đánh giá từng yếu tố để có cái nhìn tổng quát mức độ
ảnh hưởng từng cơ hội và nguy cơ đối với ngành.
Ma trận các y ế u t ố bên trong:
Ma trận này sẽ xác định mức độ quan trọng từng yếu tố nội bộ trong
trình thực hiện kế hoạch.
1.4. Xây dựng các phương án chiến lược
Sau khi phân tích, đánh giá doanh nghiệp một cách toàn diện, những
người tham gia hoạch định cần vạch ra các chiến lược dự thảo để lựa chọn
một chiến lược thích hợp nhất đối với tổ chức.
Có thể có các dạng chiến lược sản xuất – kinh doanh sau:
• Chiến lược thâm nhập thị trường: tìm kiếm cơ hội phát triển trong
các thị trường mà doanh nghiệp đang hoạt động với những hàng hóa hoặc
dịch vụ hiện có.
• Chiến lược mở rộng thị trường: tìm kiếm những thị trường mới
cho sản phẩm hiện có.
• Chiến lược phát triển sản phẩm: phát triển những sản phẩm mới,
cải tiến những sản phẩm hiện có về tính năng tác dụng, cải tiến bao bì, vải
tiến nhãn hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm...
• Chiến lược đa dạng hóa trong kinh doanh: doanh nghiệp có thể
mở ra các lĩnh vực sản xuất – kinh doanh mới, vừa sản xuất ra sản phẩm,
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
vừa mở ra nhiều dịch vụ mới để hấp dẫn khách hàng, bỏ vốn đầu tư vào
nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau.
• Chiến lược tạo ra sự khác biệt so với các đối thủ: chiến lược tạo ra
sự khác biệt về sản phẩm hoặc dịch vụ là một chiến lược có sức cạnh tranh
rất lớn.
• Chiến lược dẫn đầu về giá thấp: Muốn có hàng hóa – dịch vụ giá
thấp, các doanh nghiệp phải tổ chức sản xuất với số lượng lớn, áp dụng
công nghệ có năng suất cao, sử dụng nhân công có giá thấp, đưa vào áp
dụng các loại vật liệu mới rẻ tiền, tăng cường quản lý để hạ thấp chi phí
trong sản xuất – kinh doanh.
1.5. Đánh giá các phương án
Sau khi xây dựng được các phương án, thực hiện đánh giá các phương án.
- Sự phát triển về dân số và nhóm lứa tuổi
- Các yếu tố chính trị, pháp luật: luật cạnh tranh, luật môi trường
- Sự biến động của thị trường và thái độ khách hàng
- Các đặc điểm về nguồn lực của doanh nghiệp: phần thị trường, chu
kỳ sống của sản phẩm, chất lượng lao động, tình hình doanh thu…
2.3. Phương pháp lợi thế vượt trội:
Phương pháp này gợi mở cho các nhà hoạch định kế hoạch xem xét
các lợi thế vượt trội phải theo đuổi để mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp
lợi thế vượt trội:
- Trên lĩnh vực tiêu thụ trong việc khai thác các kênh tiêu thụ cùng với
các đối tác khác
- Trong liên doanh liên kết để phát huy chuyên môn hoá
- Nhờ năng lực và trình độ của quản trị gia trong việc giải quyết từng
vấn đề phát sinh
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
2.4. Phương pháp phân tích chu kỳ sống của sản phẩm
Mỗi sản phẩm khi xuất hiện trên thị trường đều có tính chất thời
điểm và thời đoạn đến thời gian nào đó nó sẽ bị thị trường từ chối. Người
hoạch định kế hoạch kinh doanh sẽ quyết định chỉ kinh doanh loại mặt
hàng nào. Do đó việc phân tích chu kỳ sống của sản phẩm là một phương
pháp kế hoạch quan trọng.
Các giai đoạn Thâm nhập Tăng trưởng Chín muồi Suy thoái
Đối thủ cạnh tranh Rất ít Nhiều Nhiều Ít đi
Thị phần của DN Rất cao Cao Ít dần ít
Vị trí của thị trường Dẫn đầu Bị cạnh tranh Bán ít dần Bị chặn
Mức doanh thu Tăng chậm Tăng nhanh Tăng chậm Giảm
Kết quả Hoà vốn Lãi lớn Lãi giảm Lỗ
Sự co giãn giá cả Ít Trung bình Lớn Ít
Bảng chu kỳ sống của sản phẩm
chuyển cho năm sau.
2.3.2. Phương pháp kế hoạch lưu chuyển hàng hoá:
Được coi là đúng đắn hơn cả, bởi vì cơ sở để làm kế hoạch lưu
chuyển hàng hoá của doanh nghiệp thương mại là nhu cầu của khách hàng
và khả năng khai thác nguồn hàng để thoả mãn nhu cầu đó.
Trên cơ sở nhu cầu khách hàng và khả năng đáp ứng, doanh nghiệp
xác định tổng mức bán hàng theo công thức:
T = P + ( Ddk – Dck )
Trong đó:
T - tổng mức bán (doanh số bán); P - lượng hàng hoá thu gom (mua vào)
Ddk - lượng hàng hoá đầu kỳ; Dck - dự trữ hàng hoá đầu kỳ
Sau khi xác định tổng doanh số bán, doanh nghiệp cần tính lượng
hàng hoá lưu chuyển thẳng. Lượng hàng hoá này chính bằng lượng hàng
hoá thu gom thẳng.
Dự trữ hàng hoá đầu kỳ D trong điều kiện kế hoạch lưu chuyển được
xác định mức cụ thể:
D = m × t
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 15
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong đó:
m - mức xuất bán bình quân ngày đêm, được tính bằng cách lấy tổng mức
bán trong kỳ chia cho số ngày trong kỳ
t - mức dự trữ hàng hoá ( ngày)
m =
P + Ddk
365 + Dck
Trong đó:
P – là mức hàng hoá nhập kho kỳ kế hoạch
Dck - mức dự trữ hàng hoá cuối kỳ kế hoạch (ngày)
Biểu kế hoạch lưu chuyển hàng hoá của doanh nghiệp thương mại
kho.
- Hình thành đầy đủ và đồng bộ lực lượng dự trữ hàng hoá ở các doanh
nghiệp thương mại
- Tăng nhanh tốc đồ chu chuyển của vốn lưu động.
- Những nhiệm vụ này được các cán bộ thương mại doanh nghiệp thực hiện
trong quá trình lập kế hoạch kinh doanh hàng hoá bằng cách xác định đúng
đắn các chỉ tiêu kế hoạch cũng như quá trình thực hiện chúng thông qua
việc tổ chức hạch toán và kiểm tra hoạt động bán hàng.
3.1.1. Kế hoạch mua hàng hoá:
Nhiệm vụ cơ bản chủ yếu nhất của doanh nghiệp thương mại là đảm
bảo cung ứng cho sản xuất và tiêu dung những loại hàng hoá cần thiết đủ
về số lượng, tốt về chất lượng, kịp thời gian yêu cầu và thuận lợi cho khách
hàng. Để thực hiện được nhiệm vụ cơ bản đó, các doanh nghiệp thương
mại phải tổ chức tốt công tác tạo nguồn và mua hàng cho doanh nghiệp.
Nguồn hàng của doanh nghiệp là toàn bộ khối lượng và cơ cấu hàng
hoá thích hợp với nhu cầu khách hàng đã có khả năng mua được trong thời
kỳ kế hoạch.
Để có nguồn hàng tốt và ổn định, doanh nghiệp thương mại phải tổ
chức công tác tạo nguồn hàng. Tổ chức tốt công tác tạo nguồn hàng là toàn
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 17
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
bộ những hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra nguồn hàng để đảm bảo cung
ứng đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, đúng quy cách, cỡ loại, màu sắc… cho nhu
cầu khách hàng.
• Nội dung của công tác tạo nguồn hàng là:
Nghiên cứu xác định nhu cầu của khách hàng về khối lượng hàng hoá,
cơ cấu mặt hàng, quy cách, cỡ loại, thời gian, giá cả mà khách hàng có thể
chấp nhận được.
Chủ động nghiên cứu và tìm hiểu khả năng của các đơn vị sản xuất
trong nước và thị trường nứơc ngoài để đặt hàng ký kết hợp đồng mua bán.
công thất bại trong kinh doanh của doanh nghiệp. Có lập kế hoạch bán
hàng thì doanh nghiệp mới có khả năng nắm bắt được nhu cầu thị trường và
chủ động đối phó được với những diễn biến phức tạp để chuẩn bị kế hoạch
sản xuất kinh doanh hợp lý nhằm phục vụ nhu cầu khách hàng một cách tốt
nhất, đem lại lợi nhuận kinh doanh cao nhất có thể.
Nội dung bán hàng ở doanh nghiệp thương mại:
- Nghiên cứu thị trường, nghiên cứu tâm lý tập quán của người tiêu dùng
- Xác định kênh bán hàng và các hình thức bán hàng
- Phân phối hàng hoá và các kênh bán
- Tiến hành quảng cáo và xúc tiến bán hàng
- Thực hiện các nghiệp vụ bán hàng ở các cửa hàng, quầy hàng
- Đánh giá kết quả và thu thập thông tin phản hồi để tiếp tục hoạt động mua
bán
Như vậy hoạt động bán hàng ở doanh nghiệp thương mại được xem
xét như quá trình kinh tế bao gồm các công việc có liên hệ mật thiết với
nhau được tiến hành ở các bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp.
Kế hoạch bán ra bao gồm nhiều chỉ tiêu khác nhau:
Theo hình thức bán hàng có các chỉ tiêu bán buôn, bán lẻ.
Theo khách hàng chia ra: bán hàng ở đơn vị tiêu dùng trực tiếp (cơ
quan hộ gia đình, doanh nghiệp); bán cho các đơn vị tổ chức, trung gian
(công ty, doanh nghiệp khác); bán qua đại lý…
Theo các khâu của kinh doanh có: bán hàng ở tổng công ty, công ty,
kho, trạm, quầy hàng cố định và lưu động.
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 19
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Việc xác định chỉ tiêu bán ra có thể tổng hợp từ cơ sở tương đối
chính xác. Nếu doanh nghiệp có danh mục hàng hóa lớn, quy mô lớn và
phạm vi rộng, thì cần lưu ý đến việc lập kế hoạch từ dưới lên chậm, tổng
hợp có thể bỏ sót hoặc trùng lặp.
Chỉ tiêu bán ra có thể được tính toán theo công thức sau:
Như vậy một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại được diễn ra liên tục và đạt
hiệu quả cao là kế hoạch dự trữ hàng hoá phù hợp. Doanh nghiệp tranh thủ
cơ hội bán hàng hoá phù hợp với nhu cầu của khách hàng được tính toán và
bố trí ở địa điểm phù hợp để xuất bán chu kỳ kế hoạch tiếp theo.
Chỉ tiêu dự trữ hàng hoá:
+ Chỉ tiêu dự trữ đầu kỳ: Khi lập kế hoạch cho năm kế hoạch thì năm
báo cáo kết thúc. Vì vậy phải tính chỉ tiêu dự trữ hàng hoá đến đầu kỳ kế
hoạch
Ddk = Otd + Ưn – Ưx
Trong đó:
Ddk - Dự trữ hàng hoá đầu kỳ kế hoạch (tấn)
Otd – Tồn kho hàng hoá từ thời điểm kiểm kê (ví dụ 1/12/200…)
Ưn - Ước nhập hàng hoá từ thời điểm kiểm kê đến cuối năm
Ưx - Ước xuất hàng hoá từ thời điểm kiểm kê đến cuối năm
+ Chỉ tiêu dự trữ hàng hóa cuối kỳ kế hoạch: Xác định theo công
thức
Dck = m × t
Trong đó:
Dck -Dự trữ hàng hoá đầu kỳ kế hoạch (tấn)
m - Mức bán bình quân một ngày đêm kỳ kế hoạch (tấn/ngày)
t - Thời gian dự trữ hàng hoá cần thiết (ngày)
3.2. Điều kiện thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch
Kế hoạch được lập có tiến độ và cân đối nhưng đó mới chỉ là khả
năng. Vấn đề quan trọng là phải biến khả năng đó thành hiện thực. Điều
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 21
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kiện để biến kế hoạch này thành hiện thực hay điều thực hiện các chỉ tiêu
kế hoạch này là:
Doanh nghiệp phải ký kết được các hợp đồng mua đúng khối lượng
E-mail : [email protected] or [email protected]
Đăng ký KD số: 0102010656.
Mã số thuế: 0101426813. Mã số xuất nhập khẩu: 0101294892.
Vốn điều lệ : 1.500.000.000VND (Một tỷ, năm trăm triệu đồng.)
2. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty AIT
2.1. Chức năng và nhiệm vụ:
Công ty AIT là một công ty hoạt động trong lĩnh vực: tin học, điện
tử viễn thông và cung cấp các dịch vụ tin học, điện tử viễn thông.
2.2. Cơ cấu tổ chức:
Công ty AIT được tổ chức theo sơ đồ tổ chức sau:
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 23
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sơ đồ tổ chức của công ty AIT
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 24
Ban Giám đốc
Hội đồng quản trị
Phòng
Bảo
hành
Phòng
Dự
án
Phòng
Xuất
Nhập
Khẩu
Phòng
Kế
toán
Phòng
- Bộ lưu điện Ablerex, APC, Santax, Ares.
- Máy chiếu (Projector), màn chiếu Sony, Panasonic, Sonyo
Trong lĩnh vực viễn thông, công ty chuyên cung cấp các sản phẩm:
Tổng đài, linh kiện tổng đài Simens, Panasonic, NEC; thiết bị bộ đàm
Motorola, Icom.
Trong lĩnh vực dịch vụ hỗ trợ, công ty chuyên cung cấp các dịch vụ:
Dịch vụ tư vấn chuyển giao công nghệ thông tin. Dịch vụ tư vấn xây dựng
hệ thống thông tin cho doanh nghiệp. Dịch vụ xây dựng, triển khai hệ
thống thông tin cho doanh nghiệp. Dịch vụ bảo trì hệ thống. Xây dựng
phần mềm cho doanh nghiệp.
SVTH: Thanouvan LEUANGMANY- Lớp quản lý kinh tế 44B 25