Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển không ngừng của các
quốc gia trên thế giới, Việt Nam đang thực hiện quá trình chuyển hóa nền kinh tế
theo cơ chế thị trường. Có nhiều sự kiện giúp cho Việt Nam vươn lên, đặc biệt là
sự kiện Việt Nam gia nhập WTO vào tháng 11/2006 đã mang lại nước ta nhiều
cơ hội phát triển cũng như nhiều thách thức trong quá trình phát triển kinh tế.
Việt Nam đang nỗ lực hết mình để đáp ứng cho tiến trình hội nhập này. Đặc biệt
sau khi gia nhập WTO, định hướng tạo thuận lợi thương mại lại càng trở nên cấp
thiết với việc tham gia vào quá trình đàm phán tạo thuận lợi thương mại tại
WTO. Để trở thành thành viên của WTO, Việt Nam đã có những thay đổi, cải
cách mạnh mẽ trong mọi mặt của nền kinh tế; trong đó có thay đổi hành lang
pháp lý theo những thông lệ, chuẩn mực quốc tế để tạo điều kiện giao lưu thuận
tiện với nền kinh tế thế giới.
Trong quá trình chuẩn bị cho đàm phán gia nhập và triển khai thực hiện các
cam kết của Việt nam trong WTO, ngành Hải quan Việt Nam đã có triển khai
thực hiện rất nhiều các biện pháp cải cách, hiện đại hóa công tác quản lý hải quan
ở các quy mô khác nhau nhằm phục vụ cho định hướng tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp. Trong số những cải cách thay đổi đó là áp dụng thủ tục hải quan điện tử
vào thực tế. Quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong thời gian qua ở
Việt Nam đã mang lại nhiều lợi ích cho công tác quản lý của ngành Hải quan và
công tác khai báo hải quan của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Tuy nhiên việc
áp dụng thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam trong thời gian qua chỉ mới trong
giai đoạn đầu thực hiện thí điểm tại một số ít tỉnh thành nên không thể tránh khỏi
những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
Vì vậy, để có một cái nhìn tổng quan về việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử
thí điểm tại các tỉnh thành ở Việt Nam trong thời gian quan, tìm hiểu những
thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực hiện, cũng như tìm hiểu về định
hướng phát triển trong thời gian tới và từ đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao chất
lượng thực hiện thủ tục hải quan điện tử, nhóm chúng em xin nghiên cứu đề tài:
4.1. Phạm vi về không gian:
Phân tích thực trạng thực thủ tục hải quan điện tử tại các tỉnh thành ở Việt
Nam đã thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử trong thời gian qua.
4.2.Phạm vi về thời gian:
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 2
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
Do hạn chế về thời gian cũng như nguồn thông tin nên các số liệu được sử
dụng để phân tích chủ yếu nằm trong khoảng thời gian từ năm 2006 - 8/2011.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
LÝ THUYẾT VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
1.1.KHÁI NIỆM VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ
Thủ tục hải quan điện tử là thủ tục hải quan được thực hiện bằng các
phương tiện điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan hải
quan. Thủ tục hải quan điện tử còn đảm bảo được xây dựng trên nguyên tắc tuân
thủ các chuẩn mục quốc tế về tờ khai hải quan, chứng từ hải quan và các nguyên
tắc trao đổi dữ liệu điện tử, dựa trên cơ sở phân tích thông tin, đánh giá việc chấp
hành pháp luật của chủ hàng, mức độ rửi ro về vi phạm pháp luật trong quản lý
Hải quan thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan.
1.2.CÁC ĐIỀU KHOẢN, ĐIỀU KIỆN KHI THAM GIA THỦ TỤC HẢI
QUAN ĐIỆN TỬ
Điều 1. Thủ tục hải quan điện tử
1. Thủ tục hải quan được thực hiện bằng phương tiện điện tử thông qua hệ
thống xử lý dữ liệu điện tử của cơ quan Hải quan.
2. Hồ sơ hải quan điện tử bảo đảm sự toàn vẹn, có khuôn dạng chuẩn và có
giá trị pháp lý như hồ sơ hải quan giấy.
3. Thực hiện các quy định về việc người khai hải quan được tự kê khai, tự
tính, tự nộp thuế và các khoản thu khác. Lệ phí hải quan được thu, nộp định kỳ
hàng tháng.
4. Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở hồ sơ hải quan
trên chứng từ khai hải quan, người tham gia thủ tục hải quan điện tử phải có trách
nhiệm thông báo cho cơ quan Hải quan bằng văn bản.
2. Khi có bằng chứng về việc doanh nghiệp vi phạm các quy định của cơ
quan Hải quan, Cơ quan Hải quan có thể chấm dứt việc ủy quyền ký trên chứng
từ khai hải quan mà không cần phải thông báo trước.
Điều 4. Thay thế và thu hồi tài khoản truy nhập
1. Trong trường hợp cần thay đổi, cấp lại hoặc chấm dứt sử dụng tài khoản
truy nhập, người tham gia thủ tục hải quan điện tử phải có trách nhiệm thông báo
cho cơ quan Hải quan bằng văn bản.
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 4
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
2. Khi có bằng chứng về việc doanh nghiệp vi phạm các quy định của cơ
quan Hải quan, Cơ quan Hải quan có thể chấm dứt việc sử dụng và thu hồi tài
khoản truy nhập mà không cần phải thông báo trước.
Điều 5. Thu và nộp lệ phí hải quan
1. Hàng tháng cơ quan Hải quan sẽ thông báo số lệ phí làm thủ tục hải quan
phải nộp cho người tham gia thủ tục hải quan điện tử.
2. Khi nhận được thông báo nộp lệ phí làm thủ tục hải quan, người tham gia
thủ tục hải quan điện tử có trách nhiệm nộp đủ số lệ phí theo đúng hạn ghi trong
thông báo.
Điều 6. Quy định về Luật điều chỉnh giải quyết tranh chấp
1. Mọi thắc mắc, khiếu nại hoặc tranh chấp được giải quyết dựa trên hồ sơ
hải quan điện tử lưu tại hệ thống xử lý dữ liệu hải quan điện tử của cơ quan Hải
quan.
2. Trường hợp có tranh chấp giữa người tham gia thủ tục hải quan điện tử
và cơ quan Hải quan, người tham gia thủ tục hải quan điện tử trước tiên tạm thời
chấp nhận hình thức xử lý do cơ quan Hải quan đưa ra, sau đó sẽ giải quyết theo
Luật pháp Việt Nam.
Điều 7. Các quy định khác
1. Cơ quan Hải quan có trách nhiệm giải quyết các yêu cầu, khiếu nại, thắc
doanh nghiệp mới scan và đính kèm vào tờ khai và gửi lại tờ khai.
Trường hợp chứng từ của doanh nghiệp hợp lệ thì cơ quan Hải Quan cấp
cho doanh nghiệp số tờ khai.
- Bước 4: Kiểm tra và xử lý tờ khai
Sau khi có số tờ khai thì doanh nghiệp chờ phản hồi của cơ quan Hải Quan
để xem kết quả phân luồng tờ khai, thủ tục hải quan điện tử được phân thành 3
luồng chính: Xanh, đỏ và vàng.
Nếu tờ khai được phân luồng xanh: Doanh nghiệp in 2 bản tờ khai điện tử,
ký tên, đóng dấu doanh nghiệp, đem ra cơ quan Hải quan nộp cho cán bộ đăng ký
đóng dấu thông quan hàng hóa. Trường hợp này, cán bộ đăng ký ký thông quan
hàng hóa.
Nếu tờ khai được phân luồng vàng: Có hai trường hợp. Nếu là luồng vàng
điện tử thì hình thức giống như luồng xanh; còn nếu là luồng vàng giấy thì doanh
nghiệp in 2 bản tờ khai điện tử, ký tên, đóng dấu doanh nghiệp, kèm với toàn bộ
chứng từ xuất nhập khẩu cần thiết đem ra cơ quan Hải Quan làm thủ tục. Tờ khai
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 6
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
sẽ được chuyển qua để cán bộ thuế kiểm tra và quyết định doanh nghiệp có được
thông quan hàng hóa hay không.
Nếu tờ khai được phân luồng đỏ: Doanh nghiệp in 2 bản tờ khai điện tử, ký
tên, đóng dấu doanh nghiệp, kèm bộ chứng từ xuất nhập khẩu cần thiết đem ra cơ
quan Hải Quan. Tờ khai sẽ được xử lý qua các khâu đăng ký - tính thuế và cuối
cùng là kiểm hoá để kiểm tra thực tế hàng hóa. Trường hợp này, cán bộ kiểm hóa
ký thông quan hàng hóa.
- Bước 5: Nhận hàng
Sau khi nhận lại tờ khai đã được cán bộ hải quan xử lý, doanh nghiệp cầm 1
bản và làm các thủ tục nhận hàng như bình thường.
1.3.2.Một số lưu ý trong quy trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử
Hệ thống này không cho phép gửi khai báo rác, do vậy doanh nghiệp khi
khai báo cần chú ý hoàn tất và kiểm tra kỹ nội dung tờ khai trước khi khai báo.
trước được thực hiện từ ngày 1 đến ngày 10 tháng sau tại Chi cục Hải quan điện
tử.
1.3.3. Một số văn bản dưới luật quy định, hướng dẫn thực hiện thủ tục hải
quan điện tử
Các văn bản dưới luật quy định, hướng dẫn về thực hiện thủ tục hải quan
điện tử nước ta trong thời gian qua còn khá hạn chế nhưng đã góp phân tích cực
để nâng cao chất lượng của việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử thông qua việc
quy định, hướng dẫn cụ thể cho các cơ quan Hải quan cũng như doanh nghiệp
thực hiện thủ tục hải quan điện tử được nhanh chóng và thuận lợi hơn. Một số
văn bản dưới luật có thể kể đến như là:
1. Quyết định số 52/2007/QĐ-BTC ngày 22 tháng 6 năm 2007 về việc
ban hành quy định về thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Cụ thể quy định đối
tượng, phạm vi áp dụng, nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, hồ sơ hải quan,
quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan điện tử…
2. Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử. Cụ thể quy
định đối tượng doanh nghiệp, loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện
thí điểm, thời gian, địa điểm thực hiện thí điểm…
3. Quyết định số 2396/QĐ-TCHQ về việc ban hành quy trình thủ tục
hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thực hiện thủ tục hải quan
điện tử, cụ thể là:
- Phần 1 quy định về quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hóa. Trong đó cụ thể quy
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 8
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
định về phạm vi, đối tượng áp dụng, quy trình thực hiện thủ tục hải quan, việc
xác nhận vào tờ khai hải quan, giám sát hàng hóa xuất nhập khẩu tại khu vực
giám sát hải quan…
- Phần 2 quy định về quy trình thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa gia
công xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể là quy định về thủ tục đăng ký, sửa đổi hợp
phương tiện điện tử thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan, hạn
chế đến mức thấp nhất việc sử dụng hồ sơ giấy. Người khai hải quan khai và
truyền số liệu khai hải quan bằng phương tiện điện tử đến cơ quan hải quan thông
qua tổ chức truyền nhận chứng từ điện tử. Người khai hải quan không phải đến
cơ quan hải quan để nộp, đăng ký tờ khai như quy tình thủ tục hải quan hiện
hành.
Hồ sơ hải quan điện tử bảo đảm sự toàn vẹn, có khuôn dạng chuẩn và
có giá trị pháp lý như hồ sơ giấy.
Cơ quan hải quan xử lý phân luồng hàng hóa và quyết định hình thức
kiểm tra thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử tự động trên cơ sở phân
tích, xử lý thông tin theo 3 hình thức:
- Chấp nhận thông tin trên cơ sở khai hải quan (luồng xanh), người khai hải
quan tự in ra tờ khai, ký tên đóng dấu, mang tờ khai đến bộ phận giám sát hải
quan cửa khẩu thông quan ngay hàng hóa.
- Kiểm tra chứng từ giấy thuộc bộ hồ sơ hải quan trước khi thông quan
(luồng vàng), người khai hải quan tới xuất trình tờ khai tự in ra cùng các chứng
từ theo đề nghị của cơ quan hải quan.
- Kiểm tra chứng từ giấy và kiểm tra thực tế hàng hóa trước khi thông quan
(luồng đỏ), người khai hải quan tới xuất trình tờ khai tự in ra cùng các chứng từ
khác theo đề nghị của cơ quan hải quan, xuất trình hàng cho chi cục hải quan cửa
khẩu kiểm tra.
Thực hiện các quy định về việc người khai hải quan được tự khai, tự
nộp thuế và các khoản thu khác.
Cơ quan Hải quan quản lý việc thực hiện thủ tục hải quan trên cơ sở
hồ sơ hải quan điện tử do doanh nghiệp gửi tới. Cơ quan Hải quan cho phép
thông quan dựa trên hồ sơ điện tử do doanh nghiệp khai. Việc kiểm tra hải quan
căn cứ vào kết quả phân tích thông tin từ cơ sở dữ liệu của hải quan và các nguồn
thông tin khác.
1.5.ƯU NHƯỢC ĐIỂM CỦA THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ SO VỚI
THỦ TỤC HẢI QUAN THÔNG THƯỜNG
hiện thủ tục hải quan điện tử.
- Hệ thống pháp luật hải quan quy định về thủ tục hải quan điện tử còn
chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ hoặc còn chồng chéo. Sự phối hợp giữa các
đơn vị, giữa các địa phương với hải quan, giữa ngành Hải quan với các đơn vị
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 11
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
khác trong và ngoài ngành Tài chính chưa thật tốt. Điều này ít nhiều gây khó
khăn cho việc triển khai thủ tục hải quan điện tử trong thời gian qua.
- Cơ sở hạ tầng, phương tiện làm việc chưa được trang bị đầy đủ và
phù hợp với yêu cầu cải cách hiện đại hóa. Hệ thống thông tin hiện tại chưa
đáp ứng được yêu cầu quản lý công việc theo phương pháp hiện đại. Hệ thống
mạng, tốc độ đường truyền, phần mềm hệ thống triển khai thủ tục hải quan điện
tử…chưa đáp ứng được yêu cầu, ảnh hưởng đến việc triển khai mở rộng đối với
các loại hình và đối tượng doanh nghiệp.
- Ý thức tuân thủ pháp luật liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu
hàng hóa còn thấp, một bộ phận các doanh nghiệp chưa nghiên cứu sâu, đầu đủ
và hệ thống các quy định mới của pháp luật hải quan, một số doanh nghiệp lợi
dụng sự thông thoáng và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu để
buôn lậu, gian lận thương mại, gây nhiều khó khăn cho công tác cải cách, hiện
đại hóa hải quan.
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 12
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM THỦ TỤC HẢI QUAN
ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM VỪA QUA
2.1.THỰC TRẠNG THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN
TỬ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1.1.Về quy mô
Thông tư thí điểm thủ tục hải quan điện tử được thông qua vào cuối năm
2005, qua sáu năm thực hiện ngành hải quan đã đạt được những bước phát triển
TTHQĐT
Tỷ trọng Cục hải
quan áp dụng
TTHQĐT
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
Hình 1. Tỷ trọng Cục hải quan ở Việt Nam áp dụng thủ tục hải quan điện tử
qua các năm 2009 - 2011
Tính đến ngày 31/12/2010, trong tổng 13 Cục hải quan tỉnh, thành phố thí
điểm có 70 Chi cục đã triển khai thực hiện thí điểm, tăng gấp 35 lần so với năm
2009. Trong đó, có 8/13 Cục hải quan đã triển khai thủ tục hải quan điện tử tại
100% các Chi cục, có 11/13 Cục đạt trên 70% các Chi cục. Đến ngày
31/12/2011, số Cục hải quan thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử trên toàn
quốc đến 20 Cục hải quan, chiếm hơn 60% số cục trên toàn quốc (33 Cục hải
quan), tăng 7 cục hải quan so với năm 2010 (7 cục tăng thêm gồm: Thanh Hóa,
Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Đắc Lắc, Tây Ninh, Long An). Trong 20
Cục hải quan trên có đến 90 Chi cục đã tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện
tử, tăng 126,8% so với năm 2010 và 4500% so với năm 2009.
Hình 2. Số lượng doanh nghiệp đăng ký tham gia thủ tục hải quan
điện tử ở Việt Nam qua các năm 2009 - 2011
Do sự tiện lợi và nhanh chóng mà thủ tục hải quan điện tử mang lại nên số
lượng doanh nghiệp đăng ký tham gia thực hiện thủ tục hải quan điện tử đã tăng
lên rất nhanh. Cụ thể, năm 2009 chỉ có 403 doanh nghiệp đăng kí tham gia nhưng
đến năm 2011 đã có khoảng 46.919 doanh nghiệp đăng kí, tăng gấp 116,4 lần so
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 14
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
với năm 2009 và 18,8 lần so với năm 2010 (số doanh nghiệp tham gia thủ tục hải
quan điện tử năm 2010 là 2.493 doanh nghiệp).
Cùng với số lượng doanh nghiệp đăng ký tham gia thì số lượng tờ khai qua
thủ tục hải quan điện tử cũng tăng nhanh. Năm 2010, số lượng tờ khai theo tổng
hợp của Tổng cục hải quan là 254.248 tờ khai, tăng gấp 30 lần so với năm 2009
Cụ thể, đối với doanh nghiệp thực hiện thủ tục hải quan điện tử sẽ giảm
thiểu đáng kể thời gian làm thủ tục thông quan. Nếu như trước đây doanh nghiệp
thường phải mất ít nhất vài giờ để thông quan hàng hóa thì với thủ tục hải quan
điện tử, thời gian những lô hàng luồng xanh chỉ còn từ 3 - 5 phút; những lô hàng
phải kiểm tra chi tiết hồ sơ (luồng vàng) thời gian có lâu hơn nhưng chỉ mất từ 10
- 60 phút; riêng luồng đỏ phải kiểm tra thực tế hàng hóa nên tốn nhiều thời gian
hơn hai luồng kia nhưng vẫn nhanh hơn so với hiện thủ tục hải quan thông
thường.
Về phía cơ quan Hải quan, thực hiện thủ tục hải quan điện tử còn tiết kiệm
chi phí thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực Hải quan trên 25% chi phí.
Cụ thể, trước khi áp dụng thủ tục hải quan điện tử, chi phí thực hiện thủ tục hành
chính trung bình mỗi năm là 23,2 tỷ đồng, còn sau khi áp dụng chỉ còn 17,1 tỷ
đồng).
2.2.THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
THÍ ĐIỂM THỦ TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
2.2.1.Những thuận lợi trong quá trình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan
điện tử ở Việt Nam trong những năm vừa qua
Trong quá trình áp dụng thủ tục hải quan điện tử của nước ta trong những
năm vừa qua tuy còn khá non trẻ nhưng vẫn đạt được nhiều thành tựu. Những
thành tựu đạt được là do ngành Hải quan, các Bộ, các cơ quan khác của nước ta
và các doanh nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác thực hiện thủ
tục hải quan mau chóng áp dụng vào thực tế và có cơ hội phát triển.
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 16
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
Thuận lợi đầu tiên là hệ thống công nghệ thông tin và phần mềm không
ngừng được hoàn thiện. Thực tế áp dụng thủ tục hải quan điện tử ở nước ta
trong những năm qua đó đã cho thấy rằng hệ thống công nghệ thông tin, phần
mềm phục vụ cho công tác thực hiện thủ tục hải quan điện tử không ngừng được
nâng cao, cải thiện theo hướng hiện đại hóa, thuận lợi hóa và phù hợp với các
thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Hệ thống công nghệ thông tin, các phần mềm khai
thống các văn bản pháp luật liên quan đến thủ tục hải quan điện tử còn chưa chặt
chẽ, còn nhiều thiếu xót, chưa hoàn thiện và gặp phải nhiều trở ngại cho doanh
nghiệp áp dụng khai báo hải quan điện tử cũng như các cơ quan Hải quan.
Trở ngại tiếp theo trong quá trình áp dụng thủ tục hải quan điện tử đó là hệ
thống công nghệ thông tin, phần mềm và các trang thiết bị phục vụ cho công
tác khai báo hải quan điện còn hạn chế, đặc biệt là trong các doanh nghiệp; các
cở sở dữ liệu thông tin chưa có sự liên kết, liên thông giữa các đơn vị, chi cục
Hải quan. Hệ thống công nghệ thông tin, phần mềm là một trong những yếu tố
rất quan trọng trong việc áp dụng thủ tục hải quan điện tử. Khi các cơ sở vật chất
này chưa phát triển toàn diện, đồng bộ giữa các cơ quan Hải quan ở các tỉnh
thành và các doanh nghiệp đã tạo những khó khăn trong quá trình triển khai, áp
dụng khai báo hải quan điện tử, đặc biệt là quá trình xử lý thông tin không đáp
ứng được khi số lượng doanh nghiệp và hàng hóa tăng nhanh.
Khó khăn tiếp theo đó là mức độ xử lý tự động của hệ thống xử lý dữ liệu
hải quan chưa thực hiện được hoàn toàn ở các khâu trong quá trình ra
quyết định thông quan, vẫn cần có sự tham gia của cán bộ hải quan vào việc
kiểm tra danh sách mặt hàng, phần luồng, tính thuế, hoàn thuế,…
Quá trình điện tử hóa tất cả các chứng từ, giấy phép liên quan đến hoạt
động xuất nhập khẩu chưa được đồng bộ là một trong những khó khăn trong
quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử. Hiện nay, chỉ các chứng từ thuộc
quản lý của cơ quan Hải quan đang được điện tử hóa, còn các chứng từ thuộc sự
quản lý của các ngành khác như giấy phép của các Bộ, ngành, giấy chứng nhận
xuất nhập khẩu, chứng từ nộp thuế, giấy đăng ký kiểm tra chất lượng (kiểm dịch
động thực vật, an toàn vệ sinh thực phẩm),… vẫn chưa được điện tử hóa. Như
vậy, hồ sơ điện tử mới điện tử hóa được một phần, kéo theo thủ tục hải quan điện
tử vẫn chưa thể hiện đúng bản chất của hóa.
Hiện nay thủ tục hải quan điện tử vẫn còn đang trong giai đoạn áp dụng thí
điểm, đa số các doanh nghiệp áp dụng khai báo hải quan điện tử là do ngành Hải
quan lựa chọn tiêu một số tiêu chí. Do đó, số lượng doanh nghiệp tham gia còn
hạn chế. Việc này tuy đảm bảo cho quá trình thực hiện thí điểm đạt kết quả tốt
phê duyệt và Tổng cục Hải quan công nhận.
Trong giai đoạn 2011 - 2015, ngành Hải quan tích cực triển khai Đề án
Quản lý rủi ro, trong đó trọng tâm vào việc nâng cao hiệu quả áp dụng quản lý
rủi ro cả trước, trong và sau thông quan.
Xây dựng các địa điểm kiểm tra hàng hoá tập trung tại các địa bàn
trọng điểm (cảng biển, cảng hàng không, cửa khẩu đường bộ quốc tế, các khu
kinh tế trọng điểm) theo quy hoạch được duyệt; đầu tư hệ thống máy móc trang
thiết bị hiện đại phục vụ công tác kiểm tra giám sát (máy soi container, máy soi
hành lý, hệ thống camera giám sát, bộ công cụ hỗ trợ, ).
Chương trình Doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt sẽ được triển khai phù hợp
với các chuẩn mực quốc tế và điều kiện đặc thù của Việt Nam. Đồng thời, Hải
quan Việt Nam cũng xây dựng và vận hành hệ thống Chỉ số đánh giá hoạt
động nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động của toàn ngành cũng như của các đơn vị
hải quan trong ngành đối với một số lĩnh vực cơ bản.
Nhằm hướng tới một “Hải quan mọi lúc, mọi nơi” vào năm 2020 nên trong
giai đoạn từ nay đến 2015, việc triển khai thủ tục hải quan điện tử được đẩy
mạnh không chỉ trong nội bộ ngành Hải quan mà với cả các cơ quan ban ngành,
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 20
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
các tổ chức và cộng đồng doanh nghiệp bên ngoài, tập trung vào 5 trụ cột, đó
là:
- Thứ nhất là eClearance: Thông quan điện tử;
- Thứ hai là eManifest: Tiếp nhận thông tin bản lược khai hàng hóa và các
chứng từ liên quan, thực hiện thông quan phương tiện vận tải xuất nhập cảnh,
tiến tới thông quan trước khi hàng đến;
- Thứ ba là ePermit: Quản lý và trao đổi thông tin giấy phép, C/O điện tử;
- Thứ tư là ePayment: Thanh toán thuế điện tử;
- Thứ năm là eOffice: Quản lý văn phòng điện tử.
Đây cũng là nền tảng cho triển khai cơ chế một cửa quốc gia, một cửa
Asean và thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
chuyên nghiệp, hoạt động có hiệu quả, dựa trên nguyên tắc áp dụng quản lý rủi
ro; chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, tiến tới thay thế dần
kiểm tra trong thông quan. Quy trình kiểm tra sau thông quan đầy đủ, tương đối
chuẩn mực trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin. Đến 2015, hoạt động
kiểm tra của hải quan chủ yếu là kiểm tra sau thông quan.
- Thứ sáu là xây dựng và triển khai hệ thống chỉ số để đánh giá hiệu quả
hoạt động của toàn ngành cũng như của các đơn vị hải quan trong ngành đối với
một số lĩnh vực cơ bản.
- Thứ bảy, chú trọng đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu
quản lý hải quan hiện đại dựa trên mô hình thủ tục hải quan điện tử, hệ thống
công nghệ thông tin hiện đại, xử lý dữ liệu thông quan tập trung, áp dụng toàn
diện kỹ thuật quản lý rủi ro và sử dụng tối đa, có hiệu quả các trang thiết bị, kỹ
thuật hiện đại.
- Thứ tám là xây dựng hệ thống công nghệ thông tin hải quan tích hợp đáp
ứng các yêu cầu nghiệp vụ. Thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo hướng xử lý
dữ liệu điện tử tập trung trên mô hình kiến trúc theo hướng dịch vụ, đóng vai trò
cốt lõi của hệ thống công nghệ thông tin thuộc cơ chế một cửa quốc gia; phát
triển và duy trì hoạt động ổn định của hạ tầng truyền thông, kết nối các đơn vị
trong ngành hải quan và với các cơ quan có liên quan, đảm bảo đáp ứng yêu cầu
về băng thông và khả năng dự phòng.
- Cuối cùng là đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại nhằm phục vụ yêu cầu
công tác quản lý của ngành.
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 22
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
3.2.CÁC BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THỦ
TỤC HẢI QUAN ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM
Từ những phân tích về các thuận lợi và khó khăn trong quá trình áp dụng
thực hiện thủ tục hải quan điện tử thí điểm tại một số tỉnh thành ở Việt Nam
trong thời gian qua, và định hướng phát triển thủ tục hải quan điển tử trong thời
gian tới; ngành Hải quan và các cơ quan quản lý có liên quan cũng như các
khẩu,… đảm bảo cho quá trình xử lý dữ liệu điện tử tập trung và đáp ứng được
yêu cầu xử lý số liệu nhanh chóng khi có sự gia tăng số lượng doanh nghiệp và
các hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Tăng cường xây dựng, đầu tư mua sắm các trang thiết bị, phương tiện kỹ
thuật hiện đại phục vụ cho công tác quản lý của cơ quan Hải quan và công tác
khai báo của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
Thứ ba là không ngừng nâng cao trình độ, năng lực của các cán bộ Hải
quan và nhân viên thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
- Tiếp tục nâng cao đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn
của các cán bộ Hải quan cũng như của các nhân viên tác nghiệp trong các
doanh nghiệp để đảm bảo nguồn nhân lực này có khả năng, trình độ sử dụng hệ
thống các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho hoạt động liên quan đến thủ tục hải
quan điện tử được hiệu quả.
- Không ngừng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hải quan nắm vững đường lối
của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước và có đạo đức nghề nghiệp,…
đảm bảo quá trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử trong sạch, vững mạnh,…
Thứ tư là tăng cường công tác kiểm soát hải quan và kiểm tra sau
thông quan.
- Tăng cường công tác kiểm soát hải quan để đảm bảo cho quá trình quá
trình thông quan, xuất nhập khẩu hàng hóa được diễn ra nhanh chóng nhưng
không làm ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia hay sức khỏe của cộng
đồng, hay trách thất thoát thuế,…
- Đẩy mạnh công tác kiểm tra sau thông quan để đảm bảo cho các hàng hóa
được xuất nhập khẩu trước đó của các doanh nghiệp được sử dụng đúng mục
đích và có hiệu quả, cũng như giúp cho các cơ quan quản lý Hải quan phân loại,
kiểm soát được các doanh nghiệp, loại hình và những mặt hàng xuất nhập khẩu
có rủi ro cao,…
GVHD: Lê Trần Thiên Ý Trang 24
Tìm hiểu tình hình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử tại Việt Nam
PHẦN KẾT LUẬN