Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình
nghiên cứu khoa học độc lập của tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc
rõ ràng.
Tác giả luận văn
Môc lôc
Trong quá trình hoạt động Công ty đã đạt được nhiều thành tích cao đáng khen ngợi như: Huân
chương lao động Hạng 3 do Chủ tịch nước trao tặng, Top 50 công ty kinh doanh hiệu quả nhất
Việt Nam, xếp hạng 250/1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập cao trong năm 2012, lọt Top
500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2013…......................................................................30
Địa chỉ: Tầng 10, phòng 102 nhà CT1 lô C1, Phường Xuân Đỉnh, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.......33
DANH MôC C¸C b¶ng
Trong quá trình hoạt động Công ty đã đạt được nhiều thành tích cao đáng khen ngợi như: Huân
chương lao động Hạng 3 do Chủ tịch nước trao tặng, Top 50 công ty kinh doanh hiệu quả nhất
Việt Nam, xếp hạng 250/1000 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập cao trong năm 2012, lọt Top
500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2013…......................................................................30
Địa chỉ: Tầng 10, phòng 102 nhà CT1 lô C1, Phường Xuân Đỉnh, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.......33
DANH MôC C¸C s¬ ®å
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất kinh doanh. .Error:
Reference source not found
Sơ đồ 2.2: Quy trình sản xuất kinh doanh chính của Công ty.........Error:
triển, Công ty đã đạt được những kết quả khả quan, là một công ty hàng đầu
2
trong lĩnh vực trong lĩnh vực xây lắp các công trình xã hội và dân dụng và
đầu tư xây dựng các khu Đô thị. Tuy nhiên, do những nguyên nhân khách
quan và chủ quan mà hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty còn hạn chế.
Xuất phát từ thực tế trên, tác giả đã chọn đề tài: "Giải pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô
thị Từ Liêm" làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Một là, khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sản xuất
kinh doanh trong doanh nghiệp xây dựng.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.
Ba là, một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
doanh tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của các doanh nghiệp sản xuất nói chung và Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị
Từ Liêm nói riêng. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động sản xuất kinh doanh tại Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Từ Liêm.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện
luận văn: phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, trừu tượng hóa,
phân tích tổng hợp, phân tích thống kê, so sánh xử lý hệ thống.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Thứ nhất, làm sáng tỏ vấn đề lý luận về hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của các công ty sản xuất.
Thứ hai, phân tích đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động sản xuất kinh
sách nhà nước cũng như nguồn lực của doanh nghiệp.
Chi phí xây dựng cơ bản bao gồm: Xây dựng, mua sắm, lắp đặt thiết bị
và chi phí kiến thiết cơ bản khác, trong đó phần xây dựng, lắp đặt thiết bị do
các doanh nghiệp chuyên về thi công xây lắp đảm nhận thông qua hợp đồng
giao nhận thầu xây dựng. Sản phẩm của các công trình xây lắp là các công
trình đã xây dựng, lắp đặt hoàn thành có thể đưa vào sử dụng phục vụ cho sản
xuất và đời sống.
So với ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những nét đặc
thù riêng biệt thể hiện ở sản phẩm và quá trình sản xuất. Điều này có ảnh
hưởng đến công tác quản trị tài chính của ngành. Cụ thể:
Sản phẩm xây dựng mang tính riêng lẻ, đơn chiếc. Mỗi sản phẩm xây
dựng có yêu cầu về mặt thiết kế kỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây
dựng khác nhau. Vì vậy, mỗi sản phẩm xây lắp đều có yêu cầu tổ chức quản
lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với từng công trình cụ thể,
có như vậy việc sản xuất mới mang lại hiệu quả cao. Trong thực tế, chúng ta
không thể có hai công trình xây dựng giống nhau hoàn toàn cho dù nó có là
những căn hộ liền kề, nhà chung cư thì nó cũng có những nét khác biệt về vị
trí xây dựng, hướng, tầng,…
5
Do sản phẩm có tính đơn chiếc như vậy nên chi phí sản xuất và những
vấn đề liên quan cho từng công trình sẽ khác nhau. Vì vậy, việc tập hợp chi
phí, tính giá thành, giá bán,… từ đó xác định hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh cũng được tính cho từng sản phẩm riêng biệt. Trước kia sản phẩm
xây dựng theo đơn đặt hàng nên ít phát sinh chi phí trong quá trình lưu thông.
Tuy nhiên, những năm gần đây các sản phẩm xây dựng đặc biệt là xây dựng
dân dụng ngày càng trở nên phong phú đa dạng hơn vì thế công tác quảng bá
và bán hàng ngày càng được coi trọng.
Sản phẩm xây dựng có giá trị lớn, kết cấu phức tạp, thời gian thi công
sản xuất kinh doanh.
1.2. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Đề đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp có thể
tiếp cận bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, để xây dựng một khái niệm
hoàn chỉnh về hiệu quả sản xuất kinh doanh từ giác độ các doanh nghiệp thì
phải xuất phát từ mục tiêu hoạt động của nó để xem xét và đánh giá. Mục tiêu
hoạt động của doanh nghiệp xét trong ngắn hạn là tối đa hóa lợi nhuận còn
trong dài hạn thì mục tiêu đó chính là việc tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp
và lợi ích cho chủ sở hữu. Để đạt được mục tiêu này, các nhà quản trị doanh
nghiệp phải xác định cho mình những chiến lược kinh doanh đúng đắn, xây
dựng từng kế hoạch trong ngắn, trung và dài hạn đáp ứng được với những
thay đổi của môi trường kinh doanh. Yêu cầu đặt ra đối với doanh nghiệp là
phải phân bổ và quản trị có hiệu quả nguồn lực và luôn kiểm tra giám sát hiệu
quả hoạt động của mình. Chính vì thế, đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp cần thiết phải đánh giá đầy đủ ở mức độ phạm
vi toàn doanh nghiệp cũng như từng bộ phận của nó.
7
Một cách chung nhất dễ hiểu để có thể định nghĩa hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là so sánh giữa kết quả thu được và chi
phí bỏ ra để có kết quả đó. Như vậy, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp là một phạm trù phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực:
nguồn vật lực, nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính và cả nguồn lực thông tin
với mức tiết kiệm nhất nhưng cũng tạo ra hiệu quả cao nhất trong quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh được
của doanh nghiệp đó.
1.2.2. Sự cần thiết nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Trong quá trình hoạt động của mình, các doanh nghiệp phải trả lời
được ba câu hỏi lớn: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và sản xuất cho ai.
Nếu như nguồn lực là vô hạn thì các doanh nghiệp sẽ giải quyết ba câu hỏi
này một cách đơn giản và dễ dàng. Tuy nhiên, nguồn lực thì hữu hạn mà nhu
cầu thì lại vô hạn. Các tài nguyên trên trái đất như đất đai, khoáng sản, nước,…
là có hạn và ngày càng khan hiếm do sự khai thác và sử dụng của con người.
Trong khi đó, quy mô dân số ngày càng tăng cùng với sự gia tăng ngày càng
đa dạng các nhu cầu của con người cả về mặt số lượng lẫn chất lượng. Nguồn tài
nguyên ngày càng khan hiếm đòi hỏi con người phải nghĩ đến việc lựa chọn
cách thức tối ưu để đạt được hiệu quả trong việc sử dụng nguồn tài nguyên đó.
Ngoài ra, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật trong sản xuất giúp con
người tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để chế tạo sản phẩm. Khoa học công nghệ phát triển cho phép với cùng những nguồn lực đầu vào nhất định
ta có thể tạo ra rất nhiều loại sản phẩm khác nhau. Điều này giúp các doanh
nghiệp có khả năng lựa chọn cơ cấu sản xuất kinh doanh sản phẩm tối ưu.
Sự lựa chọn đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả sản xuất kinh
doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất. Sự tăng trưởng kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp sản xuất chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố
sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, hoàn thiện
9
công tác quản trị và cơ cấu kinh tế,… nâng cao chất lượng các hoạt động
kinh tế.
Như vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tức là nâng cao khả
năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất. Trong điều kiện khan hiếm
các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện
tiên quyết giúp doanh nghiệp thành công trên thương trường.
Hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay theo cơ chế thị trường, môi
Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh để đảm bảo đời sống cho người
lao động trong doanh nghiệp. Đối với mỗi cán bộ, nhân viên thì tiền công,
tiền lương là phần thu nhập chủ yếu nhằm duy trì cuộc sống của họ. Do đó
phấn đấu để tăng thêm thu nhập cho người lao động, để người lao động yên
tâm sản xuất là mục tiêu quan trọng của mỗi doanh nghiệp. Để làm được điều
này, các doanh nghiệp luôn phải tìm cách nâng cao hiệu quả kinh doanh của
mình để duy trì sự tồn tại của chính doanh nghiệp cũng như cải thiện chất
lượng cuộc sống cho người lao động.
Tóm lại, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp. Nó trở thành
điều kiện tiên quyết, sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển trên
thị trường. Xuất phát từ những lý do trên mà việc nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp.
1.2.3. Phân biệt các loại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp
Thực tế cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù được sử
dụng rộng rãi trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Tùy theo
cách tiếp cận và tiêu thức khác nhau chúng ta có thể phân loại hiệu quả sản
xuất kinh doanh theo các dạng khác nhau. Nếu xét theo mục tiêu tác động thì
chúng ta có thể chia hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ra làm ba
loại: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế- xã hội.
11
Hiệu quả kinh tế: Các doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế có thể
vì một hay nhiều mục tiêu, tuy nhiên mục tiêu hàng đầu và của hầu hết các
doanh nghiệp đó chính là những mục tiêu về mặt kinh tế. Như đã nói ở trên,
tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp cho chủ sở hữu là mục
tiêu tiên quyết của các doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu trên, hiệu quả
kinh tế của doanh nghiệp có thể hiểu trên các khía cạnh sau:
phí doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Khi
hiệu số này dương chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
thu được kết quả lớn hơn những chi phí mà doanh nghiệp đó đã bỏ ra để tiến
hành hoạt động kinh doanh đó, chứng tỏ doanh nghiệp đang có hoạt động sản
xuất kinh doanh có hiệu quả. Hiệu số này càng lớn càng thể hiện độ hiệu quả
đó. Nếu hiệu số này bằng không tức là toàn bộ kết quả đạt được chỉ đủ bù đắp
chi phí, nếu hiệu số này nhỏ hơn không chứng tỏ kết quả đạt được còn thấp
hơn chi phí bỏ ra nghĩa là hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
chưa mang lại hiệu quả.
Việc đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp hết sức phức tạp, bản
thân kết quả và chi phí kinh doanh nhiều khi không phản ánh được chính xác.
Nguyên nhân của điều này là do có những kết quả và chi phí không được đo
lường bằng những đơn vị thông thường như uy tín, chi phí cơ hội. Mặt khác
kết quả và chi phí khó đo lường ở một thời điểm cụ thể, hiệu quả kinh doanh
ngắn hạn và dài hạn có thể không tương đồng với nhau thậm chí mâu thuẫn.
Chẳng hạn doanh nghiệp chú trọng vào mục tiêu trước mắt mà bỏ qua một số
phân khúc thị trường, các bạn hàng truyền thống về ngắn hạn có thể đem lại
hiệu quả kinh doanh song về dài hạn chưa chắc hiệu quả sản xuất kinh doanh
đã bền vững.
Hiệu quả xã hội: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt
được các mục tiêu xã hội nhất định như giải quyết công ăn việc làm trong
13
toàn xã hội hoặc từng khu vực kinh tế; giảm số người thất nghiệp; nâng cao
trình độ văn hóa và đời sống tinh thần của người lao động trên cơ sở giải
quyết tốt các quan hệ trong phân phối; đảm bảo nâng cao sức khỏe, vệ sinh
môi trường… Trong phạm vi hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
hiệu quả xã hội được xem là một trong các mục tiêu mà doanh nghiệp đặt ra
và thực hiện mục tiêu đó trong quá trình sản xuất kinh doanh của mình. Đầu
Mỗi một công ty có thể sử dụng một hệ thống các chỉ tiêu khác nhau để
đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh khác nhau của mình. Hiệu quả kinh
doanh của một công ty ở những thời điểm khác nhau có thể cũng không giống
nhau. Do đó, người ta coi các chỉ số đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh là
những biểu hiện đặc trưng nhất về tình hình sản xuất kinh doanh của công ty
trong một thời kỳ nhất định.
Thông thường người ta đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp dựa vào các nhân tố đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh
là lao động và vốn.
1.3.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
Trước hết, chúng ta hiểu lao động là hoạt động có mục đích của con
người, là quá trình sức lao động tác động lên đối tượng lao động thông qua tư
liệu sản xuất nhằm tạo nên những vật phẩm, những sản phẩm theo mong muốn.
1.3.1.1. Hiệu suất sử dụng lao động:
Hiệu suất sử dụng
=
Doanh thu thuần
Tổng số lao động bình quân
lao động
Chỉ tiêu này cho biết một lao động bình quân làm ra bao nhiêu doanh
thu thuần trong một thời kỳ nhất định. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy vấn đề
sử dụng nguồn nhân lực càng có hiệu quả.
1.3.1.2. Sức sinh lời của lao động
Sức sinh lời
của lao động
=
Thông qua chỉ tiêu này, chúng ta có thể biết được một đồng vốn đưa vào
kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Từ đó, đánh giá được khả
năng sử dụng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp. Nhìn chung nếu vòng quay toàn
bộ vốn lớn thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp cao và ngược
lại.
* Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (ROAE)
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản hay vốn kinh doanh
không tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh nghiệp và nguồn gốc của
vốn kinh doanh. Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Tỷ suất sinh lời
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Tài sản hay vốn kinh doanh bình quân
kinh tế của tài sản
* Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh (ROA)
=
16
Chỉ tiêu này phản ánh mỗi đồng vốn kinh doanh bỏ ra sử dụng trong kỳ
tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Công thức xác định:
Tỷ suất lợi nhuận sau
Lợi nhuận sau thuế
Vốn kinh doanh bình quân
thuế vốn kinh doanh
1.3.2.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả từng phần vốn
=
Số ngày trong kỳ (360 ngày)
Số vòng quay hàng tồn kho
hàng tồn kho
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày trung bình để thực hiện một vòng quay
=
hàng tồn kho. Nói cách khác, chỉ tiêu này cho biết số ngày hàng tồn kho nằm
trong kho. Nếu số ngày này càng ngắn thì chứng tỏ hàng tồn kho quay vòng
nhanh, doanh nghiệp nhanh chóng thu hồi vốn, hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp được đánh giá là tốt và ngược lại.
- Vòng quay các khoản phải thu
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản
phải thu thành tiền mặt và được xác định theo công thức:
Vòng quay các
=
Doanh thu bán hàng trong kỳ
Số dư bình quân các khoản phải thu
khoản phải thu
Số dư bình quân các khoản phải thu được tính bằng phương pháp bình
quân số học khoản phải thu trên bảng cân đối kế toán.
Vòng quay các khoản phải thu càng lớn cho thấy tốc độ thu hồi các
khoản phải thu nhanh. Do đó, doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều tài sản
lưu động cho các khoản phải thu hay các khoản mà doanh nghiệp bị khách
hàng chiếm dụng ít. Ngược lại, vòng quay các khoản phải thu càng nhỏ chứng
tỏ một phần vốn của doanh nghiệp đã bị khách hàng chiếm dụng.
- Kỳ thu tiền trung bình
Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu phản ánh số ngày cần thiết để thu được
các khoản phải thu. Số ngày này chính là các khoảng thời gian kể từ khi
lưu động
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng vốn lưu động đầu tư trong kỳ sẽ tạo ra
bao nhiêu đồng doanh thu. Như vậy, nếu trong kỳ, vốn lưu động quay vòng
nhanh tức bình quân một đồng vốn lưu động bỏ ra sẽ tạo ra càng nhiều
doanh thu, điều này chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp là cao.
* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn cố định
- Hiệu suất sử dụng vốn cố định
Hiệu suất sử dụng vốn cố định là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng
vốn cố định của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Hiệu suất sử dụng =
Doanh thu thuần
Vốn cố định bình quân
vốn cố định
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định tham gia vào quá trình
sản xuất kinh doanh thì sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu
19
này càng cao cho thấy vốn cố định của doanh nghiệp được sử dụng hiệu quả,
tham gia vào nhiều kỳ luân chuyển. Ngược lại, chỉ tiêu này thấp cho thấy
doanh nghiệp đang sản xuất kinh doanh kém hiệu quả, chưa khai thác thành
công các tài sản cố định của mình.
- Tỷ lệ doanh lợi trên vốn cố định
Tỷ lệ doanh lợi
Lợi nhuận sau thuế
Vốn cố định bình quân
trên vốn cố định
20
Vốn chủ sở hữu bình quân
Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp thì chỉ tiêu này được coi là chỉ tiêu
quan trọng bậc nhất. Và mục tiêu của các nhà quản trị doanh nghiệp luôn cố gắng
nâng cao nó. Tỷ suất lợi nhuận sau thuế vốn chủ sở hữu càng cao thì doanh
nghiệp càng nâng cao được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN
XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
Như chúng ta đã biết, kết quả đạt được và chi phí bỏ ra của một doanh
nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu
tố. Tùy theo mỗi tiêu thức khác nhau mà người ta có thể chia các nhân tố này
thành các loại khác nhau. Thông thường chúng ta có thể chia các nhóm nhân
tố như sau:
1.4.1. Nhóm nhân tố bên ngoài
1.4.1.1. Điều kiện tự nhiên
Có thể nói, môi trường tự nhiên, sinh thái có tác động rất lớn đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ảnh hưởng này cực kỳ lớn đối với
các ngành nghề như xây dựng, du lịch, khai khoáng,… Môi trường tự nhiên thuận
lợi sẽ là một lợi thế rất lớn trong kinh doanh. Mặt khác, môi trường tự nhiên
không thuận lợi sẽ gây khó khăn tới doanh nghiệp làm ảnh hưởng tới hiệu quả
sản xuất kinh doanh. Đối với ngành xây dựng là một ngành chịu ảnh hưởng
trực tiếp bởi môi trường tự nhiên. Bất kỳ một yếu tố nào từ thay đổi về thời
tiết, nắng, mưa, gió,… đều ảnh hưởng tới thời gian, chất lượng của công trình
từ đó làm thay đổi hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.4.1.2. Nhân tố môi trường quốc tế và khu vực
Các xu hướng chính trị trên thế giới, các chính sách bảo hộ, đầu tư trên
thế giới, tình hình chiến tranh, sự mất ổn định về mặt chính trị, tình hình phát
triển kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới,… ảnh hưởng trực