Đề tài: Quản lý Nhà nước về thương mại với thị trường vàng Việt Nam - Pdf 34

Đề tài: Quản lý Nhà nước về thương mại với thị trường vàng Việt Nam
Lời mở đầu
Trong lịch sử xã hội loài người, vàng gắn với quá trình hình thành các hình thái
tiền tệ và trở thành vật ngang giá- thước đo giá trị, thay thế tiền mặt trong nhiều giao dịch
thanh toán và là tiền dự trữ quốc tế. Mặt khác, nhờ đặc tính lý hóa của nó, vàng được sử
dụng trong một số ngành công nghiệp và trở thành đồ trang sức và trang trí sang trọng.
Mặc dù, giá trị của vàng tăng dần theo thời gian và nguồn cung vàng ngày càng cạn dần,
nhưng giá vàng tăng chậm và có thể cọi là ổn định. Tuy nhiên, trong những năm gần đây,
xu thế toàn cầu hóa đã gây ra nhiều xung đột tôn giáo phức tạp và không có hồi kết, vàng
được coi là nơi ẩn náu an toàn của nhiều Ngân hàng Trung ương và nhà đầu tư, nên giá
vàng biến động theo chiều hướng tăng mạnh.
Tại Việt Nam, trong thời gian dài, hoạt động kinh doanh vàng như mua bán vàng
trang sức mỹ nghệ, vàng miếng được coi là hoạt động kinh doanh bình thường giống như
các loại hàng hóa khác, phần lớn doanh nghiệp kinh doanh vàng là mua bán vàng trang
sức, mỹ nghệ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Nhìn chung, hoạt động kinh doanh
vàng diễn ra khá ổn định và hầu như không ảnh hưởng đến việc điều hành chính sách tiền
tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Tuy nhiên, từ năm 2006 đến nay, giá vàng thế giới
biến động, ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Cùng với sự phát triển và biến đổi không ngừng của thị trường vàng, thực tiễn quá trình
hoạt động kinh doanh của thị trường vàng hiện nay tại Việt Nam đòi hỏi phải có một cơ
chế quản lý đồng bộ, nhất quán, đầy đủ từ phía nhà nước. Đây là một vấn đề khá mới mẻ
và chưa được nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống. Chính vì vậy, nhóm chúng tôi đã chọn đề
tài nghiên cứu “Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng ở Việt Nam”.
Chương 1 Khái quát về thị trường vàng và QLNN về TM đối với thị trường vàng Việt
Nam
1.1.
Khái quát về thị trường vàng Việt Nam
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm


Vàng là kim loại mềm, dễ uống, dễ dát mỏng, màu vàng và chiếu sáng, vàng không phản


Biến động thị trường vàng thế giới: Tác động đến thị trường vàng có rất nhiều yếu
tố nhưng không thể thiếu tác động từ thị trường vàng thế giới. Thị trường vàng
trong nước hiện nay đã và đang gắn chặt với thị trường thế giới do nguồn cung
vàng của chúng ta chủ yếu đến từ nhập khẩu. Vì vậy khi thị trường thế giới biến

-

đổi sẽ lập tức ảnh hưởng đến thị trường trong nước.
Các nhân tố khác: Ngoài chính sách nhà nước hay biến động thị trường thế giới có
những tác động đến thị trường vàng Việt nam, thì các yếu tố khác như môi trường
kinh tế, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng ít
nhiều tác động đến hành vi đầu cơ, đầu vào của doanh nghiệp kinh doanh vàng,

điều đó sẽ phần nào là nguyên nhân dẫn đến mỗi biến động của thị trường.
1.1.3. Các chủ thể của thị trường vàng Việt Nam
Có thể chia thị trƣờng vàng Việt Nam theo ba đối tƣợng sau:
-

Người tích trữ: Đây là những chủ thể có nguồn vốn nhàn rỗi, giữ vàng với mục
đích phòng thân. Phần tài sản bằng vàng này là một hợp đồng bảo vệ chắc chắn
cho họ trƣớc các biến động về kinh tế xã hội với đặc tính dễ dàng chuyển đổi
thành tiền mặt. Những ngƣời tích trữ có thể là công nhân, viên chức, nông dân hay
bất kỳ ai khác trong xã hội. Những chủ thể này thƣờng có đặc điểm: giữ vàng như
một tài sản chìm tại nơi chắc chắn, giữ trong thời gian dài không cân nhắc tới yếu
tố lợi nhuận khi quyết định mua hay bán vàng và không quan tâm tới tác động lên

-

xuống của giá cả.

động xây dựng, vận hành và phát triển của thị trường vàng. Quản lý Nhà nước về thương
mại đối với thị trường vàng là một bộ phận hợp thành của quản lý nhà nước về đối với thị
trường, đó là sự tác động có hướng đích, có tổ chức của các cơ quan quản lý nhà nước về
thương mại đến các chủ thể của thị trường vàng và các hoạt động của họ thông qua việc
sử dụng các công cụ, chính sách quản lý thích hợp nhằm thúc đẩy tăng trưởng và ổn định
thị trường vàng.
1.2.2. Chức năng của quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng
Quản lý Nhà nước về thương mại đối với thị trường vàng mang đầy đủ những chức năng
của quản lý Nhà nước về thương mại nói chung, được cụ thể hóa ở một số lĩnh vực sau:
-

Xây dựng kế hoạch hoạt động và phát triển thị trường vàng với từng bước đi cụ
thể và thích hợp với điều kiện văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội.


-

Xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của thị trường vàng như: cơ quan quản lý,
công ty kinh doanh vàng bạc đá quý… đồng thời phối kết hợp các cơ quan này với

-

nhau trong hoạt động quản lý.
Xây dựng hệ thống pháp lý, chính sách quy định chặt chẽ các hoạt động kinh

-

doanh vàng bạc để tạo ra sự thống nhất trong mọi giao dịch.
Điều chỉnh, xử lý các hành vi sai phạm trên thị trường vàng như mua bán gian lận,


Ngoài NHNN là cơ quan quản lý trực tiếp chịu trách nhiệm trước chính phủ về
việc thực hiện việc quản lý Nhà nước đối với thị trường vàng còn có các bộ, cơ quan
ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm quản lý trong
phạm vụ và quyền hạn của mình.
Cụ thể trách nhiệm của mỗi cơ quan quản lý như sau:
a
-

Đối với NHNN
Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm xây dựng, trình các cấp có thẩm quyền ban
hành chiến lược, kế hoạch về phát triển thị trường vàng và ban hành theo thẩm
quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh vàng theo

-

quy định tại Nghị định này.
Ngân hàng Nhà nước được bổ sung vàng miếng vào Dự trữ ngoại hối Nhà nước.
Ngân hàng Nhà nước thực hiện can thiệp, bình ổn thị trường vàng thông qua các
biện pháp sau đây:

+ Xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu theo quy định tại Khoản 1 Điều 14 Nghị
định này.
+ Tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyết định hạn mức, thời
điểm sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp trong từng thời
kỳ. Chi phí tổ chức sản xuất vàng miếng được hạch toán vào chi phí hoạt động của
Ngân hàng Nhà nước.
+ Thực hiện mua, bán vàng miếng trên thị trường trong nước và tổ chức huy động
vàng theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.
-


Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm quy định và hướng dẫn thực hiện cấp Giấy
chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho các doanh nghiệp kinh doanh vàng và sao
gửi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã cấp cho Ngân hàng Nhà nước chi

-

nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên địa bàn để phối hợp thực hiện.
Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước trình cơ quan có thẩm
quyền ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền chính sách thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu vàng, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập đối

-

với hoạt động kinh doanh vàng phù hợp trong từng thời kỳ.
Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các cơ quan có trách nhiệm thực
hiện ban hành tiêu chuẩn chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ; kiểm tra,
thanh tra và quản lý chất lượng đối với vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị

-

trường và kiểm định phương tiện đo lường của các doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành liên quan trong việc đấu
tranh, điều tra, xử lý các vi phạm pháp luật về kinh doanh vàng trong phạm vi

-

chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ,
quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh vàng tại


nước đứng đầu thế giới về nhập khẩu vàng. Điều này góp phần không nhỏ vào thâm hụt
cán cân thương mại của đất nước, đối phó loại với tình hình, giữa tháng 5 năm 2008,
Ngân hàng Nhà nước đã ngừng cấp giấy phép nhập khẩu vàng nhằm kiềm chế lạm phát,
điều chỉnh kinh tế vĩ mô. Cho đến thời điểm ngừng nhập khẩu vàng thì tổng giá trị nhập


khẩu vàng cho năm 2008 là 1,7 tỷ USD tương đương 45 tấn vàng và bằng
57% sản lượng vàng tiêu thụ năm 2007.Việc ngừng nhập khẩu vàng là việc
phải làm nhưng “liều thuốc” này cũng đã để lại một số tác dụng phụ, trong đó
đáng chú ý là góp phần “đẩy” giá vàng trong nước càng xa với thế giới.
Ngưng nhập khẩu vàng đồng nghĩa với nguồn cung vàng bị bó hẹp lại, vì vậy
làm cung nhỏ hơn cầu tất yếu dẫn đến việc đẩy giá vàng tăng lên và tạo ra những diễn
biến phức tạp trong năm 2008. Song đến cuối năm 2009, do có những biến động bất lợi
tạo ra sự biến động lớn trên thị trường vàng, đẩy giá vàng lên trên 29triệu đồng/ lượng,
nguồn cung vàng là một trong những nguyên nhân gây ra sự biến động này.
Để bình ổn giá vàng Chính phủ đã có những biện pháp ổn định thị trường
vàng trong nước, trong đó đáng chủ ý, là việc Thống đôc Ngân hàng Nhà
nước Nguyễn Văn Giàu đã cho phép nhập khẩu vàng sau 1,5 năm ngừng nhập 32
khẩu. Nhờ đó thị trường vàng phần nào ổn định do cung vàng có thể đáp ứng
đủ nhu cầu vàng trong nhân dân.
-

Cầu vàng trên thị trường trong nước

Nhu cầu cất trữ vàng trong nước đã xuất hiện từ xa xưa. Người dân Việt Nam dùng vàng
trong nhiều hoạt dộng của đời sống như tích trữ, đồ trang sức, dùng làm của hồi môn…
Trong những năm gần đây cầu vàng càng ngày càng lớn do nhu cầu vàng đầu tư trong
nước ngày càng tăng. Sau sự biến động lớn của giá vàng năm 2009 và 2010, người dân
đổ xô đi mua vàng. Vàng trở thành một xu hướng của giới đầu tư, khoảng thời gian này
là khoảng thời gian đầy biến động của thị trường vàng trong nước, nhu cầu về vàng tăng

định hơn.
2.2.

Thực trạng QLNN về TM với thị trường vàng Việt Nam trong những năm
gần đây

Trước đây, vàng vừa được dùng như một loại tiền, vừa như một phương tiện cất giữ,
trong một số trường hợp, vàng thậm chí còn được coi trọng hơn cả tiền giấy. Vàng được
coi là “vịnh tránh bão” trong bối cảnh lạm phát cao, đồng tiền bị mất giá, các kênh đầu tư


khác bấp bênh, giá vàng lại liên tục tăng. Với thói quen đã được hình thành từ lâu, nhiều
người coi vàng là một phương tiện tích lũy đáng tin cậy. Chính những lí do này khiến cho
nhu cầu về vàng tăng cao, nó luôn có một sức hấp dẫn đặc biệt với người dân Việt Nam
(là quốc gia tiêu thụ vàng lớn thứ 4 tại châu Á sau Trung Quốc, Ấn Độ và Thái Lan).
2.2.1. Thực trạng quản lí Nhà nước về thương mại đối với hoạt động kinh doanh mua
bán vàng miếng
“Vàng miếng là vàng được dập thành miếng, có đóng chữ, số chỉ khối lượng, chất lượng
và ký mã hiệu của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam (sau đây được gọi là Ngân hàng Nhà nước) cho phép sản xuất hoặc vàng miếng do
Ngân hàng Nhà nước tổ chức sản xuất trong từng thời kỳ.” (theo điều 4 Nghị định số
24/2012/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ). Cũng giống như vàng nói chung, vàng
miếng từ lâu đã được coi là thứ hàng hóa đặc biệt, có đầy đủ các thuộc tính tiền tệ, được
sử dụng làm phương tiện tích trữ, liên quan đến dự trữ ngoại hối của Nhà nước, có tác
động lớn đến việc quản lý, điều hành chính sách tiền tệ, do đó, cần phải được quản lý một
cách chặt chẽ.
Từ năm 1999, hoạt động kinh doanh vàng nói chung và kinh doanh vàng miếng
nói riêng được thực hiện theo quy định tại Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 09/12/1999
của Chính phủ (Nghị định 174). Tuy nhiên từ năm 2008 trở lại đây, do tác động của cuộc
khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam cũng chịu nhiều ảnh

doanh vàng miếng trên thị trường một cách hiệu quả, Nghị định số 24/2012/NĐ-CP của
Thủ tướng Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng đã được ban hành.
 Về quản lí sản xuất, gia công vàng miếng:

Nhà nước giữ độc quyền sản xuất vàng miếng, xuất khẩu vàng nguyên liệu và nhập khẩu
vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng; kể từ ngày 25/05/2012 không tổ chức, cá nhân
nào được quyền sản xuất vàng miếng. Đây là biện pháp quan trọng để kiểm soát chặt chẽ
hoạt động sản xuất vàng miếng, lượng cung vàng miếng trên thị trường đảm bảo chất


lượng vàng miếng cho người dân và ngăn chặn tình trạng sản xuất vàng miếng từ vàng
nguyên liệu nhập lậu cũng như tạo điều kiện để kiểm soát vàng nhập lậu.
Căn cứ vào mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và cung cầu vàng miếng trên thị trường,
Ngân hàng Nhà nước sẽ tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng thông qua việc quyết
định hạn mức, thời điểm sản xuất và phương thức thực hiện sản xuất vàng miếng phù hợp
trong từng thời kỳ. Ngày 23/8/2012, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Quyết
định số 1623/QĐ-NHNN về việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng. Theo Quyết
định này, NHNN giao Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Vàng bạc đá quý Sài
Gòn – SJC (Công ty SJC) gia công vàng miếng cho NHNN. Tuy nhiên, Công ty SJC
không được tiếp tục sản xuất vàng miếng mà chỉ được gia công vàng miếng SJC 99.99%
cho NHNN theo chỉ đạo của NHNN về hạn mức, thời điểm sản xuất và nguồn vàng
nguyên liệu để tổ chức sản xuất vàng miếng và dưới sự quản lý, giám sát chặt chẽ của
NHNN. Ngân hàng nhà nước cũng sẽ quản lý về khuôn và máy dập vàng miếng, giám sát
đối với hoạt động gia công vàng miếng và phân công trách nhiệm cụ thể giữa các đơn vị
thuộc NHNN trong việc quản lý hoạt động gia công vàng miếng của Công ty SJC.
Như vậy, thị trường vàng miếng Việt Nam từ nửa cuối năm 2012 đến nay chỉ còn một
nhà sản xuất vàng miếng duy nhất là NHNN và chỉ còn 1 thương hiệu vàng miếng quốc
gia do NHNN lựa chọn là vàng miếng SJC, 6 thương hiệu vàng miếng khác đã không còn
tồn tại. Với tư cách là đơn vị đại diện cho Nhà nước độc quyền nhập khẩu vàng nguyên
liệu và sản xuất vàng miếng, về mặt pháp lý, NHNN trở thành đơn vị cung cấp vàng

Có mạng lưới chi nhánh, địa điểm bán hàng tại Việt Nam từ 3 tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương trở lên.

Tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước xem xét cấp Giấy phép kinh doanh mua,
bán vàng miếng khi đáp ứng đủ 3 điều kiện sau:
1

Có vốn điều lệ từ 3.000 tỷ đồng trở lên;

2

Có đăng ký hoạt động kinh doanh vàng;

3

Có mạng lưới chi nhánh tại Việt Nam từ 5 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
trở lên.

Các địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng được cấp phép phải niêm yết công khai
giá mua, giá bán vàng miếng; chấp hành các quy định của pháp luật về chế độ kế toán,
lập và sử dụng hóa đơn, chứng từ, chất lượng, mẫu mã và thường xuyên được thanh tra,
kiểm tra.
Các kết quả đạt được:


Hiện nay, đã thiết lập được một mạng lưới mua bán vàng miếng mới, có tổ chức, có quản
lý, gồm 38 tổ chức tín dụng và doanh nghiệp có đủ điều kiện được Ngân hàng Nhà nước
cấp phép kinh doanh vàng miếng, với gần 2.500 điểm giao dịch ở tất cả 63 tỉnh, thành
phố trong cả nước. Mạng lưới các địa điểm kinh doanh mua, bán vàng miếng được công
bố công khai, rộng rãi trên trang tin điện tử chính thức của NHNN cũng như các phương

biến động khá mạnh từ khoảng 20 triệu đồng/lượng năm 2008 lên gần 29 triệu
đồng/lượng (2009), xấp xỉ 37 triệu đồng/lượng (2010) và đặc biệt lên tới 49 triệu
đồng/lượng (2011). Tuy nhiên, sau một thời gian Nghị định 24 đi vào cuộc sống, đặc biệt
là từ sau thời điểm 30/6/2013, giá vàng trong nước đã diễn biến theo xu thế giảm dần và
sau đó duy trì quanh mốc 35 - 36 triệu đồng/lượng trong 2 năm 2013 - 2014, mức độ biến
động giá vàng đã giảm hẳn.
2.2.2. Thực trạng QLNN về TM với hoạt động kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ
Vàng trang sức, mỹ nghệ là hàng hoá đặc biệt, có giá trị, là một kênh đầu tư cho người
dân và được coi là tài sản quý trong mỗi gia đình Việt Nam. Vàng trang sức là những
món đồ không thể thiếu trong các dịp lễ lớn của người Việt như cưới hỏi, các dịp lễ tết....
Do đó, nhu cầu tiêu thụ vàng trang sức ở Việt Nam luôn ở mức cao (đứng thứ 15 trên thế
giới chiếm gần 2% trong tổng cầu) và luôn có xu hướng gia tăng trong tương lai cùng với
sự phát triển của thị trường vàng Việt Nam.
Trước năm 2012, mặc dù Chính phủ đã ban hành Nghị định quy định chung về hoạt động
kinh doanh vàng, song chưa có quy định cụ thể về quản lý chất lượng, đo lường đối với
vàng trang sức, mỹ nghệ. Do đó, thị trường kinh doanh vàng trang sức, mỹ nghệ còn bị
buông lỏng quản lý. Đây cũng chính là kẽ hở trong hoạt động kinh doanh vàng.
Để nâng cao hiệu lực công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh vàng, ngày 03
tháng 4 năm 2012 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về Quản lý hoạt
động kinh doanh vàng. Đồng thời giao Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chủ
trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện ban hành tiêu chuẩn chất lượng đối với
vàng trang sức, mỹ nghệ; kiểm tra, thanh tra và quản lý chất lượng đối với vàng trang


sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường và kiểm định phương tiện đo lường của các doanh
nghiệp kinh doanh vàng. Ngày 26 tháng 9 năm 2013, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban
hành Thông tư số 22/2013/TT-BKHCN, Quy định về quản lý đo lường trong kinh doanh
vàng và quản lý chất lượng vàng trang sức, mỹ nghệ lưu thông trên thị trường, có hiệu
lực từ ngày 01/6/2014 (gọi tắt Thông tư 22).
Theo Nghị định 24, hoạt động kinh doanh vàng miếng, vàng trang sức và kinh doanh

dân mua vàng được tính theo tuổi vàng cao, nhưng khi có nhu cầu cần bán thì chỉ bán cho
chính cơ sở mình đã mua, nếu bán cho cơ sở khác sẽ bị định giá tuổi vàng thấp hơn so
với thực tế tuổi vàng ghi trên sản phẩm vàng trang sức, mỹ nghệ khi mua vào. Nhiều loại
nhẫn, dây chuyền vàng được nhà sản xuất công bố hàm lượng vàng 75% nhưng thực tế
chỉ 70%-73%. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất làm ăn gian lận thì hưởng lợi, còn người
tiêu dùng bị thiệt hại, đồng thời gây ảnh hưởng lớn tới các doanh nghiệp kinh doanh vàng
làm ăn chân chính. Điều này cũng làm cho doanh nghiệp sản xuất vàng nữ trang không
tin tưởng chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp khác, khiến người mua vàng của tiệm
nào phải bán lại cho tiệm đó. Trước thực trạng đó, mới đây văn phòng Công nhận Chất
lượng (BOA) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ đã công nhận phòng thí nghiệm chất
lượng sản phẩm vàng của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) đạt chứng chỉ công nhận
quốc tế ISO/IEC 17025, trong đó công nhận phương pháp đo tuổi vàng tại ACB phù hợp
với các tiêu chuẩn Việt Nam. Đầu năm 2015, Công ty PNJ là đơn vị thứ ba được Nhà
nước cho phép mở dịch vụ kiểm định vàng trang sức trên thị trường, phân định tranh
chấp về tuổi vàng giữa khách hàng và các tiệm vàng. Từ giữa tháng 5-2015, cơ quan
quản lý Nhà nước đã bắt đầu tiến hành kiểm tra chất lượng vàng trang sức trên diện rộng,
đưa thị trường vàng trang sức hoạt động theo đúng quy định của Nghị định 24 và Thông
tư 22.
Nghị định 24, đặc biệt là Thông tư 22 với mục tiêu chấn chỉnh lại thị trường bán lẻ trang
sức vàng đã hỗ trợ đắc lực cho những DN làm ăn bài bản như PNJ, SJC… và góp phần
giúp người tiêu dùng thêm cơ hội lựa chọn được những sản phẩm uy tín, chất lượng cao.


Người tiêu dùng được đảm bảo quyền lợi và đỡ lo ngại tình trạng “nhập nhèm” độ tuổi và
giá vàng. Các cửa hàng mỹ nghệ bán vàng nữ trang thiếu tuổi, không công bố hàm lượng
vàng từng sản phẩm, trọng lượng vàng sẽ bị phạt nặng. Do vậy từ ngày 1 tháng 6 năm
2014, khi Thông tư số 22 có hiệu lực thi hành, phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh
vàng đều lo lắng. Vì trước đó, chất lượng vàng chưa được thống nhất quản lý, khi thực
hiện Thông tư số 22 số lượng vàng còn tồn kho của các tiệm vàng buộc phải niêm yết
công khai tiêu chuẩn công bố áp dụng và kết quả kiểm tra, thử nghiệm hàm lượng vàng

động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài đã được quy định đầy đủ trong Quyết
định 03/2006/QĐ-NHNN ban hành ngày 18/01/2006. Tuy nhiên hoạt động kinh doanh
vàng này thời gian qua đã bộc lộ một số điểm hạn chế. NHNN đánh giá, hoạt động kinh
doanh sàn vàng hay còn gọi là kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước cũng như
hoạt động kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài là loại hình kinh doanh chênh
lệch giá mà ngay cả trên thế giới cũng đánh giá là loại hình kinh doanh tiềm ẩn rủi ro rất
cao cho cả nhà đầu tư và cho chính các đơn vị kinh doanh sàn vàng. Hơn nữa, hoạt động
kinh doanh sàn vàng không phải là hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra giá trị gia
tăng cho nền kinh tế. Mà ngược lại, một khối lượng vốn lớn được rút ra từ hoạt động sản
xuất kinh doanh để phục vụ cho các giao dịch kinh doanh vàng trên sàn vàng. Báo cáo
của NHNN còn chỉ ra, do các sàn giao dịch vàng tự đề ra quy chế giao dịch và do các nhà
đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân, chưa nhận biết rõ các rủi ro có thể gặp phải khi
kinh doanh vàng trên tài khoản, thời gian qua đã xảy ra những tranh chấp, khiếu kiện
giữa nhà đầu tư và đơn vị tổ chức sàn. Điều này tiềm ẩn một số yếu tố có thể gây bất ổn
kinh tế xã hội. Với những lý do trên, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu không tổ chức và
thực hiện việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước dưới mọi hình thức.
Chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày có thông báo (từ 30/12/2009 đến 30/3/2010), mọi hoạt
động liên quan đến kinh doanh sàn giao dịch vàng và kinh doanh vàng trên tài khoản ở
trong nước phải chấm dứt hoạt động. ngày 6/1 /2010, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã
ký ban hành Thông tư số 01/2010/TT-NHNN bãi bỏ Quyết định số 03/2006/QĐ-NHNN
ngày 18/2/2006 về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài và Quyết định số


11/2007/QĐ-NHNN ngày 15/3/2007 về sửa đổi, bổ sung quy định về hoạt động này.
Thông tư số 01/2010/TT-NHNN quy định các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đang
kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài phải chấm dứt mọi hoạt động kinh doanh
vàng trên tài khoản ở nước ngoài kể từ ngày 6/1/2010, trừ các giao dịch để tất toán, đóng
tài khoản kinh doanh vàng nói trên. Các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng đang kinh
doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài có trách nhiệm tất toán, đóng các tài khoản kinh
doanh vàng ở nước ngoài trước ngày 30/3/2010. Các giấy phép kinh doanh vàng trên tài

-

7108.20: Dạng tiền tệ

Số liệu thống kê xuất nhập khẩu vàng trong giai đoạn 2010 – 2013:
Bảng 1: Trị giá Xuất khẩu vàng của Việt Nam năm 2010-1013 theo mã HS
Tên nước

Mã HS

Đơn
tính

Nhật Bản

710811

Hà Lan

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Triệu USD -

-

0.4


-

-

-

Mỹ

710812

Triệu USD 0.6

0.8

0.1

-

Nhật Bản

710812

Triệu USD -

-

-

0.1


58.8

84.5

74.1

Xoa-di- len

710812

Triệu USD 0.5

-

-

-

Đài Loan

710813

Triệu USD 0.4

0.1

0.3

-

năm 2010 lên mức 76,8 triệu USD năm 2013. Vàng xuất khẩu chủ yếu là vàng chưa gia
công, lượng vàng thành phẩm xuất khẩu chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn trong tổng giá trị
vàng xuất khẩu. Thụy Sỹ là thị trường tiêu thụ phần lớn vàng xuất khẩu của Việt Nam.
Theo lý thuyết, xuất khẩu vàng mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho quốc gia. Tuy nhiên, khi
xem xét tổng thể thì cần phải xét đến cán cân xuất nhập khẩu loại hàng hóa đặc biệt này,
bởi vì Việt Nam cũng thực hiện nhập khẩu vàng từ nước ngoài.

Bảng 2: Trị giá Nhập khẩu vàng của Việt Nam năm 2010- 2013 theo mã HS
Tên nước

Mã HS

Đơn vị tính

Năm 2010 Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Nhật Bản

710811

Triệu USD

-

-


710812

Triệu USD

-

8.9

-

-

Ma lai xi a

710812

Triệu USD

-

-

0.2

1.2

Nam Phi

710812


3.6

-

-

710812

Triệu USD

52.5

378.6

14.2

14.6

710813

Triệu USD

-

0.1

0.1

2.2



Triệu USD

0.3

0.2

2.9

4.1

710812

Triệu USD

51.2

17.3

13.4

14

710813

Triệu USD

-

-


-

710813

Triệu USD

-

-

-

-

710812

Triệu USD

7.6

1.2

2.5

2.6

710813

Triệu USD

20.5

32.4

Canada

710812

Triệu USD

0.6

0.6

0.8

0.9

Trung Quốc

710812

Triệu USD

0.8

1.5

0.2


9.1

-

-

-

915.9

1999.7

78

95.5

Hàn Quốc

Mỹ

Ấn Độ

Sát
Tổng

Nguồn: Tổng cục thống kê
Không giống như xu hướng xuất khẩu vàng, thị trường vàng nhập khẩu có nhiều biến
động lớn. Từ năm 2011 sang năm 2012, lượng vàng nhập khẩu sụt giảm rất mạnh từ tống
giá trị 1999,7 triệu USD xuống chỉ còn 78 triệu USD. Việt Nam cũng nhập khẩu vàng
chủ yếu từ Thụy Sỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Ả Rập, Ô-stray-li-a ở dạng chưa gia công

định là được chế biến từ toàn bộ nguyên liệu nhập khẩu.
Về chính sách thuế nhập khẩu, vàng nhập khẩu để gia công cho phía nước ngoài được
miễn thuế nhập khẩu. Vàng nhập khẩu để sản xuất xuất khẩu, nếu đã nộp thuế nhập khẩu
thì được hoàn thuế tương ứng với tỷ lệ sản phẩm thực tế xuất khẩu.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status