ĐỀ TÀI: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỚI
QUÁ TRÌNH HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
I- TÌM HIỂU CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1. Khái
niệm và kết cấu của hệ thống chính trị
a. Khái
niệm hệ thống chính trị
b. Kết
cấu hệ thống chính trị
2. Đặc
điểm và vai trò của hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay
a. Đặc
điểm hệ thống chính trị
b. Vai
trò của hệ thống chính trị ở nước ta
Về quan hệ hợp tác song phương, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao
với hơn 170 quốc gia trên thế giới, mở rộng quan hệ thương mại, xuất khẩu hàng hoá tới
trên 230 thị trường của các nước và vùng lãnh thổ, ký kết trên 90 Hiệp định thương mại
song phương, gần 60 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, nhiều Hiệp định hợp
tác về văn hoá song phương với các nước và các tổ chức quốc tế.
Về hợp tác đa phương và khu vực: Việt Nam đã có mối quan hệ tích cực với các tổ
chức tài chính tiền tệ quốc tế như Ngân hàng phát triển Á Châu, Quỹ tiền tệ thế giới, Ngân
hàng thế giới. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh và đưa
lên một tầm cao hơn bằng việc tham gia các tổ chức kinh tế, thương mại khu vực và thế
giới, ký kết các hiệp định hợp tác kinh tế đa phương
Trên lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam chuyển từ chú trọng quan hệ hợp tác với các
nước XHCN sang chú trọng quan hệ hợp tác đa phương, làm bạn với tất cả các nước,
trên quan điểm bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập các tổ chức khu vực ASEAN,
APEC, WTO...
Như vậy sau khi đổi mới thì nền kinh tế chuyển từ khép kín, đóng cửa, sang mở
cửa, hội nhập với thế giới và song hành là các mối quan hệ hợp tác quốc tế.
I- TÌM HIỂU CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
1, Khái niệm và kết cấu của hệ thống chính trị
a, Khái niệm hệ thống chính trị
Hệ thống chính trị là một chỉnh thể các tổ chức chính trị hợp pháp trong xã hội,
bao gồm các đảng chính trị, nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội được liên kết với
nhau trong một hệ thống tổ chức nhằm tác động vào các quá trình của đời sống xã hội;
củng cố, duy trì và phát triển chế độ chính trị phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm
quyền.
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, đặc biệt là
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và 5 đoàn thể chính trị - xã hội: Đoàn Thanh niên Cộng
tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng... làm cho Đảng ta trở thành
Đảng chính trị duy nhất có khả năng tập hợp quần chúng lao động đông đảo để thực
hiện lý tưởng của Đảng, nhân dân tự nguyện đi theo Đảng, thừa nhận vai trò lãnh đạo
của Đảng trong thực tế. Đây là đặc trưng cơ bản của hệ thống chính trị ở nước ta.
Ba là, hệ thống chính trị ở nước ta được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc
tập trung dân chủ. Nguyên tắc này được tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị ở
nước ta thực hiện.
Việc quán triệt và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ là nhân tố cơ bản đảm
bảo cho hệ thống chính trị có được sự thống nhất về tổ chức và hành động nhằm phát
huy sức mạnh đồng bộ của toàn hệ thống cũng như của mỗi tổ chức trong hệ thống
chính trị.
Bốn là, hệ thống chính trị bảo đảm sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công
nhân và tính nhân dân, tính dân tộc rộng rãi (Đây là đặc điểm khác biệt căn bản của hệ
thống chính trị ở nước ta với hệ thống chính trị của các nước tư bản chủ nghĩa, thể hiện
tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất lợi ích giữa giai cấp công nhân,
nhân dân lao động cũng như cả dân tộc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh)
b, Vai trò của hệ thống chính trị ở nước ta
Hiện nay ở Việt Nam, giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang là chủ thể
chân chính của quyền lực. Vì vậy, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là
công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động. Hệ thống chính trị nước ta có
nhiều tổ chức vì vậy mà mỗi tổ chức có vị trí, vai trò khác nhau điều đó là do chức
năng, nhiệm vụ của từng tổ chức quy định, nhưng đều có đặc điểm chung là cùng tác
động vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhằm đảm bảo quyền lực của nhân
dân.
• Đảng Cộng sản Việt Nam:
- Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu
trung thành lợi ích giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đảng là
một bộ phận của hệ thống chính trị nhưng lại là hạt nhân lãnh đạo của toàn bộ hệ thống
nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội do nhân dân
trực tiếp bầu ra, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập ra Hiến pháp và luật pháp
(lập hiến và lập pháp). Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối
ngoại, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt
động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao với toàn bộ hoạt động của Nhà
nước.
- Với ý nghĩa đó, Quốc hội được gọi là cơ quan lập pháp. Chính phủ là cơ quan
chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam.
- Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế,
văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan
chấp hành, chịu trách nhiệm trước Quốc hội và phải báo cáo công tác với Quốc hội.
Trên ý nghĩa đó, Chính phủ được gọi là cơ quan hành pháp.
- Cơ quan tư pháp gồm: Toà án, Viện kiểm sát và các cơ quan điều tra. Đây là
những cơ quan được lập ra trong hệ thống tổ chức Nhà nước để xử lý những tổ chức và
cá nhân vi phạm pháp luật, đảm bảo việc thực thi pháp luật một cách nghiêm minh,
chính xác.
- Toà án các cấp là cơ quan nhân danh Nhà nước, thể hiện thái độ và ý chí của
Nhà nước trước các vụ án thông qua hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Toà
án là cơ quan duy nhất có quyền áp dụng chế tài hình sự, không ai bị coi là có tội và
phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật.
- Để đảm bảo pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, đảm bảo việc xét xử
đúng người đúng tội, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức thành hệ thống, tập trung
thống nhất và độc lập thực hiện thẩm quyền của mình đối với các cơ quan khác của
Nhà nước. Thực hiện các quyền khởi tố, kiểm sát các hoạt động điều tra, truy tố...Với ý
nghĩa đó, các tổ chức Toà án, Viện kiểm sát được gọi là cơ quan tư pháp.
- Nhà nước thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo
và nhiệm vụ được quy định trong Luật Tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta.
- Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận
động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng
cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi
khả năng phát triển kinh tế-xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
II- SỰ TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TỚI QUÁ
TRÌNH HỢP TÁC QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY.
1, Đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam
Hơn 20 năm qua, chúng ta đã thực hiện có kết quả một số đổi mới quan trọng
trong hệ thống chính trị, đặc biệt là quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực kinh
tế, xã hội, chính trị, tư tưởng, văn hoá.
Các kết quả đạt được đã khẳng định đường lối đổi mới nói chung, đường lối đổi
mới hệ thống chính trị nói riêng là đúng đắn sáng tạo, phù hợp thực tiễn, bước đầu đáp
ứng yêu cầu của tình hình mới, khắc phục dần những khuyết, nhược điểm của hệ thống
chuyên chính vô sản trước đây. Kết quả đổi mới hệ thống chính trị đã góp phần làm
nên những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở nước ta.
Trong những năm qua, hệ thống chính trị ở nước ta đã có những đổi mới đáng kể như:
- Trình độ và năng lực làm chủ của nhân dân từng bước được nâng lên.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước được phân định rõ hơn, phân
biệt quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh. Nhà nước được từng bước kiện
toàn, từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và
tư pháp.
- Đảng đã được củng cố cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức; vai trò lãnh đạo của
Đảng trong xã hội ngày càng tăng; Nhà nước tiếp tục được xây dựng và hoàn thiện
theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân; Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội từng bước đổi mới nội dung và phương thức
hoạt động, đem lại hiệu quả thiết thực; quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực
kinh tế, xã hội, chính trị, văn hoá, tư tưởng được phát huy...
Song, bên cạnh đó, hệ thống chính trị ở nước ta vẫn còn bộc lộ nhiều nhược
Hệ thống chính trị có tác động trực tiếp tới sự phát triển kinh tế của đất nước.
Nếu hệ thống chính trị yếu kém sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của
nước nhà, gây nên sự suy giảm không thể lường trước được. Vì vậy, ta phải tiếp tục đổi
mới hệ thống chính trị. Hệ thống chính trị ngày càng hoàn thiện hơn sẽ tác động tích
cực tới sự phát triển kinh tế của đất nước, giúp cho nền kinh tế nước ta đi lên.
Sự tác động của đổi mới hệ thống chính trị và sự phát triển kinh tế của nước ta,
hai vấn đề này có quan hệ mật thiết với nhau. Nó là sự biểu hiện của mối quan hệ giữa
hai lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội, đó là kinh tế và chính trị. Ta cần phải nắm
vững mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị để nâng cao trính độ tư duy lí
luận đồng thời, phải sâu sát thực tiễn, biết phân tích cụ thể từng tình hình mà công cuộc
đổi mới phát triển đất nước tạo ra.
Nội dung cơ bản của đổi mới kinh tế ở nước ta là chuyển từ mô hình kinh tế kế
hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bên
cạnh đó thì nội dung đổi mới chính trị của nước ta là đổi mới tư duy và lí luận , hoạt
động thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong đó trọng
tâm là đổi mới hệ thống chính trị. Vì vậy, đảng ta đã khởi đầu công cuộc đổi mới bằng
đổi mới toàn diện và chú trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị, chúng ta phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế để đáp ứng đòi
hỏi cấp bách của nhân dân về đời sống, việc làm và các nhu cầu xã hội khác, xây dựng
cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã hội, coi đó là điều kiện quan trọng để tiến
hành thuận lợi đổi mới trong lĩnh vực chính trị.
Ngoài ra, sự tác động của đổi mới hệ thống chính trị tới sự phát triển kinh tế rất
to lớn vì chính trị đụng chạm đến các mối quan hệ đặc biệt phức tạp và nhạy cảm trong
xã hội ví dụ như là mối quan hệ đối ngoại giữa Việt Nam và Mĩ ảnh hưởng như thế nào
tới việc xuất nhập khẩu giữa hai nước mà ta sẽ nói ở phần kế tiếp.
Cũng có thể nói đổi mới hệ thống chính trị là điều kiện để thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội và thực hiện dân chủ.
Đại hội X năm 2006 có nhiệm vụ là tổng kết 20 năm đổi mới. Với sự từng trải
hệ đối ngoại của nước ta hiện nay với các nước, các tổ chức quốc tế và vùng lãnh thổ
được mở rộng hơn bao giờ hết. Trong bối cảnh quốc tế hiện nay xu thế hoà bình, ổn
định, độc lập, hợp tác để phát triển là xu thế chung đó chính là thời cơ lớn.
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam việc thực hiện
đường lối đối ngoại với phương châm độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá
quan hệ quốc tế trên tinh thần chủ động, sẵn sàng hội nhập, “sẵn sằng là bạn và là đối
tác tin cậy” đã góp phần đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng về kinh tế và sự bao vây,
cấm vận kéo dài trong nhiều thập kỷ. Quá trình hội nhập ngoài việc tăng vị thế Việt
Nam trên trường quốc tế, chúng ta cũng đã thu hút được một số lượng đáng kể vốn đầu
tư nước ngoài và viện trợ phát triển chính thức quốc tế; tiếp thu những thành tựu mới
về khoa học, công nghệ cũng như kinh nghiệm và kỹ năng quản lý. Xây dựng một đội
ngũ công chức, viên chức nhà nước và đội ngũ quản lý kinh doanh từng bước thích ứng
với điều kiện và môi trường mới tạo tiền đề để tham gia một cách tích cực hơn, chủ
động hơn trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế những năm tiếp theo. Với những cơ
hội và thành tựu đạt được đó, chúng ta từng bước thực hiện được chủ trương kết hợp
phát huy nội lực với ngoại lực tạo ra sức mạnh tổng hợp đưa đến những thành tựu kinh
tế-xã hội, ổn định và giữ vững an ninh quốc gia, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn
lãnh thổ, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc.
Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế vừa qua chúng ta còn gặp không ít
khó khăn, thách thức. Thách thức lớn nhất đối với chúng ta hiện nay vẫn là 4 nguy cơ
mà Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (01/1994) của Đảng đã chỉ ra.
Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định rõ trong nhiều nghị quyết của
Đảng và trên thực tế đã được thực hiện từng bước nhưng nhận thức về nội dung, bước
đi, lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế vẫn còn chưa đạt được sự nhất trí cao và nhất quán
ở một bộ phận cán bộ và nhân dân. Doanh nghiệp nhà nước nói chung còn hạn chế về
hiểu biết thị trường thế giới, thông lệ quốc tế; luật pháp quốc tế; năng lực và kinh
nghiệm quản lý, hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như khả năng cạnh tranh quốc tế
còn yếu kém. Vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào một vài “phao cứu sinh của Nhà
quản lý, hệ thống chính sách kinh tế kết hợp với đổi mới chính trị. Tại Nghị quyết Hội
nghị Trung ương 6 Khóa VI (3.1989), Đảng chính thức sử dụng khái niệm hệ thống
chính trị. Kết hợp chặt chẽ đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Có được sự
ổn định chính trị mới có điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và phát triển đất nước bền
vững. Hệ thống chính trị vững mạnh có vai trò quyết định đối với sự ổn định chính trị,
phát triển đất nước về mọi mặt.
Thật vậy chính nhờ sự đổi mới đúng đắn đảng ta gặt hái được thành công trong
công cuộc đổi mới, đưa Việt Nam thành một đất nước có chính trị ổn định. Điều này đã
thu hút được rất nhiều sự hợp tác từ nước bạn trên mọi lĩnh vực, đặc biệt là kinh tế.
Đảng ta nhấn mạnh trước hết và chủ yếu là đổi mới kinh tế, trên cơ sở đó, cải
thiện và nâng cao chất lượng đời sống người dân, tạo lập ổn định tích cực mà tiến hành
đổi mới hệ thống chính trị từng bước vững chắc, thận trọng. Từ đó, Việt Nam, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã chuyển từ việc phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa tập
trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và sang phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN, phù hợp xu thế phát triển của kinh tế thế giới; đồng thời
đem lại diện mạo mới cho nền kinh tế đất nước, củng cố lòng tin của nhân dân vào chế
độ, nâng cao năng lực cạnh tranh của đất nước trên trường quốc tế. Trên thực tế, rất
nhiều luật đã được ban hành như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp, Bộ
Luật lao động, Luật Hàng không, Luật Hàng hải… được ban hành, tạo môi trường
pháp lý ngày càng đồng bộ, hoàn thiện hơn cho nền kinh tế thị trường hoạt động, phát
triển và hội nhập quốc tế; cho sự ổn định, phát triển, cạnh tranh bình đẳng giữa các
thành phần kinh tế. Việt Nam mở rộng quan hệ thương mại, xuất nhập khẩu hàng hóa,
dịch vụ, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tới ký kết các hiệp định kinh tế song
phương với các nước; tham gia và trở thành thành viên của các tổ chức kinh tế thế giới
và khu vực như Ngân hàng thế giới WB, Qũy Tiền tệ quốc tế IMF, Ngân hàng phát
triển châu Á ADB; tham gia các liên kết khu vực ASEAN, APEC, ASEM và trở thành
thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO…
Việc hội tác kinh tế quốc tế này đưa đến cho Việt Nam rất nhiều cơ hội và cũng
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có tác động tích cực như: tăng mức độ cạnh
tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp trong
nước học hỏi thêm về cách thức quản lý sản xuất, tiếp thị, tiếp thu công nghệ, kiểu
dáng sản phẩm, phục vụ khách hàng…
b, Thách thức
• Năng lực cạnh tranh yếu kém của các doanh nghiệp, các ngành hàng hóa và
dịch vụ. Nền kinh tế nước ta ở trình độ phát triển thấp, đang trong quá trình chuyển
đổi; kinh tế thị trường mới còn đang ở giai đoạn phát triển sơ khai, các yếu tố cơ bản,
đồng bộ của thị trường chưa phát triển đầy đủ... dẫn đến khả năng kinh doanh và sức
cạnh tranh của các chủng loại hàng hóa dịch vụ của các doanh nghiệp Việt Nam còn
hạn chế. Thị trường tiêu thụ hàng hóa của ta trên thế giới rất hạn hẹp, dễ bị thôn tính.
Trong bối cảnh thế giới tự do buôn bán, tự do đầu tư, Việt Nam ở vào thế yếu, rất dễ
trở thành nơi tiêu thụ hàng hóa của nước ngoài. Muốn có thị trường toàn cầu thì Việt
Nam phải mở cửa thị trường nội địa cho các nước. Đây là thách thức lớn đối với các
doanh nghiệp Việt Nam, bởi các doanh nghiệp Việt Nam phần lớn là vừa và nhỏ, năng
lực cạnh tranh kém
• Các vấn đề liên quan đến chính sách ổn định vĩ mô và hoàn thiện khuôn khổ luật pháp.
• Hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình
tái sản xuất hàng hóa và dịch vụ tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về
mặt xã hội.
• Cán bộ quản lý kinh tế của ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành nền kinh tế mở,
có sự tham gia của yếu tố nước ngoài.
III- QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI GIỮA VIỆT NAM VÀ MỸ - TÁC ĐỘNG
ĐẾN VIỆC XUẤT NHẬP KHẨU GIỮA HAI NƯỚC.
Trong khi thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở với phương
châm “sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng động quốc tế,
duy trì mức thặng dư lớn.
Cán cân thương mại hàng hóa của Việt Nam trong trao đổi thương mại với
Hoa Kỳ luôn duy trì mức thặng dư lớn trong những năm gần đây. Cụ thể trong năm
2010, mức thặng dư hàng hóa của Việt Nam trong buôn bán trao đổi thương mại với
Hoa Kỳ đã vượt qua con số 10 tỷ USD, tăng 26,5% so với năm 2009. Đến năm 2013,
xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ cao gấp 4,5 lần so với nhập khẩu dẫn đến mức
xuất siêu của Việt Nam sang thị trường này đạt con số kỷ lục 18,6 tỷ USD.
Biều đồ 1: Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại Việt Nam –
Hoa Kỳ giai đoạn 2010 - 2013
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam cho thấy từ năm 2007 đến nay Hoa Kỳ
là thị trường tiêu thụ hàng hoá lớn nhất của Việt Nam và là thị trường cung cấp hàng
hóa lớn thứ 7 sang thị trường Việt Nam trong các năm gần đây. Tuy nhiên, theo Cơ sở
dữ liệu thương mại của Liên Hợp Quốc (UN Comtrade) và số liệu được công bố vào
giữa tháng 9 năm 2013 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trị giá buôn bán hàng
hóa hai chiều giữa Việt Nam với thị trường này chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng
kim ngạch xuất nhập khẩu của Hoa Kỳ (chỉ 1%). Đối với Hoa Kỳ, Việt Nam là đối tác
xếp thứ 23 về xuất khẩu hàng hóa sang Hoa Kỳ và xếp thứ 40 về nhập khẩu hàng hóa
có xuất xứ thị trường này.
Bảng 1: Tỷ trọng và thứ hạng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
giữa Việt Nam- Hoa Kỳ giai đoạn 2007-2013
Xuất khẩu
Năm
Thị phần (%)
1
4,3
7
2010
19,7
1
4,4
7
2011
17,5
1
4,3
7
2012
17,2
của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ với trị giá xuất khẩu trong năm 2013 là 8,6 tỷ
USD, chiếm đến 36% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này và
chiếm gần 48% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước. Đáng chú ý
hơn, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng điện thoại các loại và linh kiện của Việt Nam
sang Hoa Kỳ trong năm qua tăng trưởng khá mạnh mẽ, cao gấp 5 lần so với năm
2012. Ngoài ra, các mặt hàng như gỗ và sản phẩm của gỗ, hàng thủy sản, giày dép
các loại cũng là những mặt hàng chủ lực, đóng góp tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch
xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ.
Bảng 3: 10 mặt hàng chủ yếu Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ
trong năm 2013 và 2012
Đơn vị: Triệu USD
Tăng/giảm so
với năm
trước (%)
STT Tên hàng
Năm
2012
Năm
11
Sản phẩm dệt may
7.457
935
1.474
57,6
55
Hàng thủy sản
1.166
1.463
25,5
66
Máy móc, thiết bị, dụng cụ &
943
phụ tùng
1,010
7,1
77
Túi xách, ví, vali mũ và ô dù
362
506
39,9
Nguồn: Tổng cục Hải quan
2013
Đối với nhập khẩu, các mặt hàng chính Hoa Kỳ xuất khẩu sang Việt Nam trong
năm 2013 bao gồm máy móc thiết bị & dụng cụ phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện
tử và linh kiện; bông các loại, chất dẻo nguyên liệu, thức ăn gia súc & nguyên liệu;
đậu tương...
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Theo ước tính sơ bộ của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch hàng hóa xuất
nhập khẩu Việt Nam-Hoa Kỳ trong 2 tháng đầu năm 2014 ước đạt 4,9 tỷ USD, tăng
mạnh 25,8% so với kết quả thực hiện của cùng kỳ năm 2013. Trong đó, xuất khẩu hàng
hóa của Việt Nam sang Hoa Kỳ dự kiến đạt 3,9 tỷ USD, tăng 26,5% và các doanh
nghiệp Việt Nam nhập khẩu hàng hóa có xuất xứ từ Hoa Kỳ đạt 936 triệu USD, tăng
22,4% so với kết quả hoạt động của 2 tháng đầu năm 2013.
KẾT LUẬN
Trải qua gần 30 năm thực hiện đường lối đổi mới trong quan hệ hợp tác quốc tế
và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đến nay, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn,
2014
Hệ
thống
<http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/tt_vietnam/nr040810155159/>
chính
trị,
Hải quan Việt Nam, 2014, Đôi nét về quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam –
Hoa Kỳ trong năm 2013 cập nhật 2 tháng đầu năm 2014,