ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––
DƯƠNG HỒNG SƠN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
CỦA HIỆU TRƯỞNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
CHỦ NHIỆM LỚP TRONG CÁC TRƯỜNG THPT
THỊ XÃ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––––
DƯƠNG HỒNG SƠN
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ
CỦA HIỆU TRƯỞNG ĐỐI VỚI CÔNG TÁC
CHỦ NHIỆM LỚP TRONG CÁC TRƯỜNG THPT
THỊ XÃ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Dương Hồng Sơn
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm luận văn tôi đã nhận dược sự
quan tâm, giúp đỡ tận tình của các cô giáo, thầy giáo, cán bộ trường ĐHSP
Thái Nguyên. Lãnh đạo cơ quan nơi công tác và các đồng nghiệp bằng tất cả
tấm lòng biết ơn sâu sắc. Tôi xin bày tỏ sự trân trọng và cảm ơn tới:
- Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ,
các thầy giáo, cô giáo của Khoa Tâm lý - Giáo dục, Khoa sau đại học Trường
Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện
thuận lợi cho em trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành chương trình
học tập của khoá học.
- Lãnh đạo Sở GD&ĐT Bắc Ninh, ban Giám Hiệu, và giáo viên các
trường THPT Lý Thái Tổ, THPT Ngô Gia Tự, THPT Nguyễn Văn Cừ, Thị xã
Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, các đồng nghiệp đã giúp tôi hoàn thành khoá học và
luận văn.
- Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn Giáo sư - Tiến sĩ Nguyễn Văn Hộ,
người thầy kính yêu đã hết lòng giúp đỡ em hoàn thành luận văn có kết quả.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song thời gian nghiên cứu chưa nhiều nên
chắc chắn luận văn còn khiếm khuyết cần được bổ xung và góp ý. Vậy tôi rất
mong nhận được ý kiến chỉ dẫn, đóng góp chân thành của các thầy giáo, cô
giáo và các đồng nghiệp.
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2013
Tác giả
Dương Hồng Sơn
:
Chấp hành trung ương
CSVN
:
Cộng Sản Việt Nam
CCGD
:
Cải cách giáo dục
TNCS
:
Thanh niên cộng sản
TNTP
:
Thiếu niên tiền phong
GD-ĐT
:
Hội đồng nhân dân
UBND
:
Uỷ ban nhân dân
GDTX
:
Giáo dục thường xuyên
ĐTB
:
Điểm trung bình
GV
:
Giáo viên
BCHTW
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
vi
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển
của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa
học và công nghệ, sự cạnh tranh và hội nhập toàn cầu thì giáo dục- đào tạo
càng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Các quốc gia muốn
phát triển đều coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” và đều nhận thức “Giáo
dục là chìa khoá” tiến tới một xã hội tốt đẹp hơn; là yếu tố phát triển tiềm năng
con người; là động lực phát triển xã hội.
Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học
và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước”. [14,45]
Muốn phát triển giáo dục, ngoài yếu tố đường lối chính sách, đổi mới cơ
chế, phát triển cơ sở vật chất, đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục- đào
tạo thì vai trò của người giáo viên là rất quan trọng. Hội nghị TW2- khoá 8
khẳng định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được
xã hội tôn vinh” ; Luật Giáo dục năm 2005 nêu rõ: “Nhà giáo giữ vai trò quyết
định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”. [33,22]
Chất lượng giáo dục là kết quả của hai quá trình cơ bản dạy học và giáo
dục (nghĩa hẹp). Quá trình dạy học có chức năng trội là truyền thụ tri thức, rèn
luyện kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và do đội ngũ thầy cô thực hiện. Quá trình
giáo dục có chức năng trội là hình thành những quan điểm, niềm tin, giá trị,
động cơ, thái độ, hành vi, thói quen phù hợp với những chuẩn mực chính trị,
đạo đức, pháp luật, thẩm mĩ, văn hoá, làm phát triển nhân cách của học sinh
chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường THPT.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý của hiệu trưởng đối
với công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT Thị xã Từ Sơn , đề xuất các
biện pháp tăng cường quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở các trường THPT, góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý của hiệu trưởng trường THPT đối với công tác chủ
nhiệm lớp của giáo viên trường THPT.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các
trường THPT ở Thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.
4. Giả thuyết khoa học
Việc quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường THPT
Thị xã Từ Sơn những năm qua đã được tiến hành có kế hoạch và đã mang lại
hiệu quả nhất định. Tuy nhiên việc vận dụng các thành tựu khoa học hiện đại
vào công tác quản lí, cũng như các biện pháp nhằm kích thích tính tích cực và
trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm còn hạn chế nhất định, chỉ đạo công tác
chủ nhiệm lớp chủ yếu bằng các biện pháp hành chính. Nếu hiệu trưởng các
trường THPT tăng cường các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp của
giáo viên một cách khoa học và phù hợp hơn thì công tác chủ nhiệm lớp của
giáo viên chủ nhiệm sẽ có hiệu quả hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu vấn đề lý luận của quản lý, quản lý giáo dục, quản lý
trường THPT.
5.2. Tìm hiểu thực trạng các biện pháp quản lý của hiệu trưởng đối với
Phỏng vấn một số Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng ở các trường THPT, làm
rõ thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường.
7.2.4. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng các bảng hỏi sau:
a. Bảng hỏi giáo viên: Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về công tác chủ
nhiệm lớp.
b. Bảng hỏi cán bộ quản lý nhà trường: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng,
chủ tịch công đoàn, bí thư đoàn trường: Tìm hiểu nhận thức và đánh giá của
cán bộ quản lý về công tác chủ nhiệm lớp của giáo viên chủ nhiệm.
7.3. Phương pháp toán thống kê
Sử dụng phương pháp toán thống kê để xử lý và phân tích các số liệu từ
các phiếu hỏi thu thập được.
4
8. Đóng góp mới của đề tài
Làm sáng tỏ các khái niệm cơ bản và phát hiện thực trạng các biện pháp
quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng THPT Thị xã Từ Sơn
Đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý có khả năng thực thi của
người hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng quản lý công tác chủ nhiệm lớp
của hiệu trưởng các trường THPT Thị xã Từ Sơn. Đồng thời góp phần vào việc
phổ biến kinh nghiệm quản lý trong nhà trường THPT.
9. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm mở đầu và 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu.
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng
các trường THPT Thị xã Từ Sơn.
Chương 3: Đề xuất các biện pháp nhằm tăng cường quản lý công tác
chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng các trường THPT Thị xã Từ Sơn.
Kết luận và khuyến nghị.
hoạt động chủ nhiệm lớp đã được tổ chức. Các hội thảo phân tích vấn đề trên
nhiều phương diện, góc độ quản lý theo ngành, bậc học. Nhiều kết quả, nhiều
6
công trình nghiên cứu đã và đang được ứng dụng trong các nhà trường, hệ
thống giáo dục các cấp.
Những năm gần đây nhiều luận văn tốt nghiệp thạc sĩ đã chọn đề tài
nghiên cứu thuộc lĩnh vực quản lý nhân lực trong giáo dục, trong đó có vấn đề
quản lý hoạt động chủ nhiệm lớp. Các tác giả nghiên cứu về vấn đề quản lý
hoạt dộng chủ nhiệm lớp theo bậc học và ngành học, vùng miền và địa phương
khác nhau, như tác giả: Nguyễn Thị Dung với đề tài: “ Biện pháp quản lý bồi
dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm làm công tác giáo dục đạo đức cho học
sinh ở trường THCS”; tác giả Lê Anh Dũng với đề tài “ Biện pháp quản lý
công tác chủ nhiệm lớp trong trường THPT Thành phố lào cai Tỉnh Lào cai”.
Các tác giả đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận; tìm hiểu và đánh giá thực
trạng về đội ngũ giáo viên chủ nhiệm lớp và công tác quản lý đội ngũ giáo viên
chủ nhiệm lớp phù hợp với tình hình thực tiễn của các nhà trường , của địa
phương nơi các tác giả công tác.
Đối với ngành GD - ĐT nói chung, giáo dục cấp THPT của Thị xã Từ
sơn nói riêng chưa có một tác giả, một đề tài nào nghiên cứu đầy đủ khoa học
về quản lý công tác chủ nhiệm lớp trong mối quan hệ các trường trên địa bàn
Thị xã. Chính vì vậy nghiên cứu về quản lý của Hiệu trưởng đối với công tác
chủ nhiệm lớp ở các trường THPT ở Thị xã Từ Sơn trong giai đoạn hiện nay là
vấn đề cần được quan tâm nghiên cứu một cách khoa học và hệ thống.
1.2. Một số khái niệm
1.2.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm
thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người,
quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố
Từ các định nghĩ trên có thể rút ra một số điểm chung:
• Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động,
hoạt động khác.
• Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý.
- Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý,
quan hệ với nhau bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính
8
là những quyết định quản lý, là những nội dung chủ thể quản lý yêu cầu đối với
đối tượng quản lý. Các Mác so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng đối với hệ
thống nhạc công, trong đó nhạc trưởng là một chủ thể quản lý, nhạc công là chủ
thể bị quản lý (các nhạc công chịu sự tác động của nhạc trưởng) để đưa đến
một sản phẩm “kép” một sản phẩm “siêu sản phẩm” - Đó là cả chủ thể quản lý
và chủ thể bị quản lý đều phát triển (hoạt động tạo ra các chủ thể và về sự phát
triển của con người).
• Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của một quá trình lao động
xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người
tồn tại, vận hành và phát triển.
• Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện. Điều đó cũng
xác lập rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận hành trong một môi trường
xác định.
Có mô tả cấu trúc của một hệ thống quản lý qua sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1. Cấu trúc của một hệ thống quản lý
Môi trường quản lý
Mục tiêu quản lý
Chủ thể quản lý
Khách thể quản lý
tiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá.
Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phác thảo các phương án chọn lựa có
tính tiềm năng của nguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan.
- Chức năng tổ chức
Cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” đã xác định: “Tổ chức là hoạt động
hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất
giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnh đạo (chấp hành)” [9].
Điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ vai trò của
mỗi bộ phận, cá nhân, bảo đảm các mối quan hệ ngược, sự thống nhất và đồng
bộ về tổ chức trong quản lý giáo dục ở trường trung học.
10
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho
phép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là
điều kiện của quản lý, đúng như V.I.Lê-nin đã khẳng định: “Chúng ta phải hiểu
rằng, muốn quản lý tốt…còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa” [23]. Thực
chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữa các bộ
phận trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ chức
không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý.
- Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi
và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo thể
hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong
tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đã đặt ra.
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy
động lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệ
giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó để
họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu.
- Chức năng kiểm tra
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với
ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh…” [16].
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận
hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính
chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá
trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên
trạng thái mới về chất [30].
Từ những quan niệm trên chúng ta có thể khái quát rằng: Quản lý giáo
dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy
mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò trung tâm của mọi hoạt động.
Con người vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý. Mọi hoạt động giáo dục và
QLGD đều hướng vào việc đào tạo và phát triển nhân cách thế hệ trẻ, bởi vậy
con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD.
12
1.2.4. Quản lý nhà trường
Bản chất của việc quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy - học, tức
là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần
tiến tới mục tiêu giáo dục [15tr72].
Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý nhà trường là: “Tập hợp
những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can
thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ
khác. Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội
đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy
mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế
hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà
trường tiến lên trạng thái mới” [30].
Ở cấp tiểu học, mỗi lớp do một giáo viên phụ trách. Công tác của giáo
viên cấp tiểu học có tính đặc thù của nó: giáo viên vừa đảm đương việc giảng
dạy tất cả các môn học, vừa đảm đương việc giáo dục học sinh trong nội khoá
và ngoại khoá, trong trường và ngoài trường, vừa đảm đương việc quản lý toàn
diện học sinh trong mối quan hệ với các lớp khác, với bộ phận lãnh đạo của nhà
trường, với gia đình và xã hội. Như vậy, giáo viên cấp tiểu học phải thực hiện
các chức năng dạy học, giáo dục, quản lý trong sự thống nhất với nhau.
Các trường phổ thông, công tác dạy học - giáo dục học sinh được tiến
hành với nội dung ngày càng toàn diện hơn, phong phú hơn, sâu sắc hơn, hệ
thống hơn và nhiều hình thức hoạt động đa dạng ở trong và ngoài trường.
Trong đó, các môn học đã được đưa vào quá trình dạy học với sự phân hoá
ngày càng sâu. Do vậy, toàn bộ công tác dạy học - giáo dục học sinh không thể
chỉ do một giáo viên đảm đương; trái lại phải do một tập thể sư phạm bao gồm
nhiều giáo viên phụ trách: các giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm.
Các giáo viên bộ môn có trách nhiệm tổ chức việc dạy và học các môn
mà mình phụ trách, và qua đó, góp phần tích cực nhất vào việc giáo dục cho
14
học sinh cơ sở thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng và những
phẩm chất đạo đức của con người lao động mới làm chủ tập thể. Song do tính
chất của môn học và khối lượng thời gian dành cho việc học từng môn ở từng
lớp, một giáo viên bộ môn có thể phải đảm đương công tác giảng dạy ở nhiều
lớp khác nhau. Như vậy, học sinh ở mỗi lớp đồng thời phải học nhiều giáo viên
khác nhau. Vấn đề đặt ra là, ai sẽ là người đứng ra phối hợp hoạt động của tất
cả các giáo viên giảng dạy trong cùng một lớp nhằm đảm bảo được sự tác động
giáo dục thống nhất? Người đó chính là giáo viên chủ nhiệm.
Hơn nữa, như chúng ta đều biết, mỗi lớp bao gồm một số lượng học sinh
nhất định, ở lứa tuổi nhất định, có trình độ phát triển nhất định…Chúng họp
thành một tập thể có tổ chức chặt chẽ với những hoạt động chung và cùng
cao; chú ý giáo dục cá biệt, cá nhân hoá giáo dục; đánh giá kết quả học tập, tu
dưỡng toàn diện của lớp, của từng học sinh.
Mặt khác, giáo viên chủ nhiệm phải biết tổ chức, quản lý tập thể học
sinh. Như trên đã nói, lớp là một tập thể, là một đơn vị cơ sở, là một tế bào của
tập thể nhà trường. Vì vậy, bộ máy quản lý của lớp nằm trong bộ máy quản lý
chung của toàn trường. Giáo viên chủ nhiệm là người thay mặt hiệu trưởng,
chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng, phụ trách công tác quản lý trong phạm vi
lớp mình làm chủ nhiệm. ở đây giáo viên chủ nhiệm phải:
a. Thiết kế được kế hoạch xây dựng và phát triển tập thể học sinh.
b. Phát huy được ý thức tự quản của học sinh, xây dựng được bộ máy
của lớp có đủ năng lực và uy tín điều hành các hoạt động chung.
c. Cố vấn cho bộ máy này hoạt động; bồi dưỡng một cách có kế hoạch
các phần tử tích cực nhằm làm cho tập thể lớp đạt được các mục tiêu đã đề ra
thông qua việc tổ chức các hoạt động tập thể một cách có kế hoạch và có
phương pháp.
d. Tổ chức kiểm tra, đánh giá hoạt động của lớp, của từng học sinh.
e. Báo cáo hiệu trưởng theo chế độ đã quy định.
Cuối cùng, chức năng quản lý - giáo dục của giáo viên chủ nhiệm còn
được thể hiện ở chỗ tổ chức tập hợp và khai thác sức mạnh tổng hợp của các
lực lượng giáo dục trong và ngoài trường nhằm xây dựng được tập thể học
sinh, thúc đẩy sự phát triển nhân cách toàn diện của từng thành viên của nó.
16